đặt vấn đề thời gian thực hiện nhanh chóng hơn; chất lượng dịch vụ phải đầy đủ và hoàn thiện thông tin hơn (đặc biệt là những thông tin cần thiết); chi phí dịch vụ cần phải phù hợp (mặc dù việc đầu tư vào trang thiết bị để triển khai dịch vụ là rất lớn); dịch vụ TT-TV hiện đại phải đặc biệt chú trọng tính kịp thời và thuận tiện khi NDT sử dụng. - Thời gian thực hiện dịch vụ TT-TV hiện đại nhanh chóng: mọi dịch vụ đều cần một khoảng thời gian xác định để thực hiện. Do vậy, tính kịp thời được thể hiện ở chỗ các kết quả mà dịch vụ đem lại giúp NDT sử dụng chúng một cách hợp lý và có hiệu quả. Đặc biệt việc ứng dụng CNTT vào triển khai các dịch TT-TV hiện đại càng yêu cầu nghiêm khắc hơn về mặt thời gian.
- Chất lượng dịch vụ TT-TV hiện đại phải đầy đủ thông tin cần thiết: Chất lượng dịch vụ xét cho cùng được thể hiện ở việc giúp NDT tiếp cận, khai thác và thu được khối lượng thông tin lớn, phù hợp, chính xác và khách quan. Dịch vụ TT- TV hiện đại được tạo lập, tổ chức và có chất lượng cao thì cơ hội để NDT truy cập, tìm kiếm và sử dụng sản phẩm thông tin càng lớn. Chính vì thế, các cơ quan TT-TV phải luôn coi trọng yếu tố chất lượng của dịch vụ TT-TV hiện đại. Đó là một trong những yếu tố quyết định, tác động lớn đến hiệu quả hoạt động của một cơ quan TT- TV hiện đại trong thời đại ngày nay.
13 z - Chi phí thực hiện dịch vụ TT-TV hiện đại phù hợp: Chi phí thực hiện dịch vụ TT-TV nói chung bao gồm chi phí hiện và chi phí ẩn. Chi phí hiện thường là các loại chi phí rõ ràng và dễ xác định, mọi người đều nhận biết được như: chi phí in ấn tài liệu, sao chụp, số hóa,dịch tài liệu, cung cấp thông tin dạng điện tử, số… Chi phí ẩn là những khoản chi phí phức tạp, khó xác định và nhận biết được đầy đủ như: chi phí cho việc đào tạo, cập nhật kiến thức cho các cán bộ tạo ra các sản phẩm và triển khai dịch vụ, CSVC kỹ thuật cao, xây dựng, tổ chức hoạt động và bảo trì, phát triển các nguồn thông tin… - Tính kịp thời và thuận tiện của dịch vụ thông tin: Yêu cầu này thể hiện ở việc giúp NDT sử dụng những dịch vụ đó một cách dễ dàng nhất, nhanh nhất, thủ tục đơn giản nhất. Không những thế, dịch vụ TT-TV phải đảm bảo, khẳng định được tính kịp thời khi cung cấp các sản phẩm thông tin nhanh chóng, chính xác, phù hợp với nhu cầu của NDT; thiết lập được những dịch vụ mới tương ứng với sản phẩm nhằm mục đích tăng cường hiệu quả hoạt động trong cơ quan thông tin. Trong một cơ quan TT-TV, sản phẩm và dịch vụ là công cụ cơ bản để thỏa mãn nhu cầu tin của NDT.
Chúng là các chỉ số quan trọng để nghiên cứu, đánh giá hoạt động thông tin. Việc tạo ra hệ thống sản phẩm và dịch vụ TT-TV thích hợp, phù hợp với NDT sẽ giúp họ truy cập, khai thác được nguồn tri thức chung của nhân loại. Khái quát về Đại học Quốc gia Hà Nội và Trung tâm Thông tin – Thƣ viện Đại học Quốc gia Hà Nội. Giới thiệu về Đại học Quốc gia Hà Nội 1.
Lịch sử hình thành và phát triển Đại học Quốc gia Hà Nội (tên giao dịch bằng tiếng Anh: Vietnam National University, Hanoi; viết tắt là VNU) là cơ sở giáo dục đại học công lập bao gồm tổ hợp các trường đại học, viện nghiên cứu khoa học thành viên thuộc các lĩnh vực chuyên môn khác nhau, tổ chức theo hai cấp để đào tạo các trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ; là trung tâm đào tạo, NCKH và công nghệ có cơ cấu đa ngành, đa lĩnh vực, 14 z chất lượng cao, trong đó tập trung vào lĩnh vực khoa học, công nghệ cao và một số lĩnh vực kinh tế - xã hội mũi nhọn; có chương trình, nội dung, phương pháp đào tạo, nghiên cứu khoa học tiên tiến; có đội ngũ cán bộ giảng dạy, nghiên cứu trình độ cao; có đội ngũ cán bộ quản lý chuyên nghiệp và đồng bộ; kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo với nghiên cứu khoa học và triển khai ứng dụng, giữa các ngành khoa học tự nhiên, xã hội và nhân văn, giữa khoa học và công nghệ để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và bồi dưỡng nhân tài khoa học, công nghệ; định hướng phát triển thành đại học nghiên cứu ngang tầm với các đại học có uy tín trong khu vực và trên thế giới. ĐHQGHN hoạt động theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm cao; chịu sự quản lý Nhà nước của Bộ Giáo dục và Đào tạo về giáo dục và đào tạo, của Bộ Khoa học và Công nghệ về khoa học và công nghệ, của Bộ ngành khác và Ủy ban nhân dân cấp nơi Đại học Quốc gia đặt trụ sở trong lĩnh vực được phân công theo quy định của Chính phủ và phù hợp với pháp luật. Các trường đại học, viện nghiên cứu khoa học thành viên thuộc ĐHQGHN là những cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học và công nghệ có quyền tự chủ cao, có pháp nhân tương đương các trường đại học, viện nghiên cứu khoa học khác được quy định trong Luật Giáo dục, Luật Giáo dục đại học và Luật Khoa học - Công nghệ. Chức năng và nhiệm vụ - Trình Thủ tướng Chính phủ quyết định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển, các đề án, dự án quan trọng của Đại học quốc gia sau khi có ý kiến của Bộ Giáo dục và Đào tạo và các bộ, ngành liên quan.
- Báo cáo Thủ tướng Chính phủ các quyết nghị của Hội đồng ĐHQG về việc thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, đề án phát triển của ĐHQG và các nội dung khác theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ. - Tổ chức các hoạt động đào tạo, NCKH, hợp tác quốc tế theo quy định của pháp luật; đào tạo bồi dưỡng nhân tài khoa học; chuyển giao tri thức và cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế. 15 z - Đào tạo theo danh mục các ngành đào tạo của Nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và thí điểm đào tạo các ngành mới ở trình độ cao đẳng, đại học, cao học, tiến sỹ nhằm cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. - NCKH nhằm phát triển khoa học - công nghệ và giải quyết các vấn đề thực tiễn do kinh tế - xã hội nước ta đặt ra, tham gia tư vấn các vấn đề chiến lược, chính sách và các giải pháp phát triển khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo, kinh tế - xã hội cho các cấp lãnh đạo Đảng và Nhà nước ở Trung ương và địa phương, kết hợp chặt chẽ đào tạo với nghiên cứu khoa học và sản xuất, dịch vụ khoa học - công nghệ.
- Quản lý, điều hành sử dụng, chia sẻ các nguồn lực và cơ sở vật chất dùng chung trong ĐHQG đảm bảo tính hữu cơ, đồng bộ và hiệu quả; huy động nguồn lực của xã hội để xây dựng Đại học quốc gia thành trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học đạt chuẩn quốc tế. Cơ cấu tổ chức ĐHQGHN hoạt động theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm cao; được làm việc trực tiếp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về những vấn đề liên quan đến hoạt động và phát triển của ĐHQGHN. Đại học Quốc gia Hà Nội có cơ cấu tổ chức đặc biệt (so với các trường đại học khác ở Việt Nam). Hiện nay, hệ thống tổ chức của ĐHQGHN sau khi được điều chỉnh, sắp xếp lại bao gồm: Cơ quan ĐHQGHN tham mưu, giúp việc cho Ban Giám đốc ĐHQGHN (Văn phòng, 08 Ban chức năng và Khối Văn phòng Đảng - đoàn thể) và 29 đơn vị thành viên và đơn vị trực thuộc, trong đó có: - 6 trường đại học thành viên: Là những cơ sở đào tạo đại học, sau đại học và NCKH, công nghệ về một hoặc một số lĩnh vực chuyên môn, kinh tế xã hội liên quan với nhau.
16 z - Các viện nghiên cứu khoa học - công nghệ thành viên (03 Viện nghiên cứu thành viên, 02 Viện nghiên cứu trực thuộc): Là những cơ sở NCKH, công nghệ và đào tạo sau đại học về một hoặc một số lĩnh vực khoa học, công nghệ liên quan với nhau. - 5 khoa trực thuộc: Là những đơn vị đào tạo đại học, sau đại học và NCKH, công nghệ về một số ngành thuộc một lĩnh vực chuyên môn kinh tế - xã hội. - 2 trung tâm nghiên cứu khoa học và trung tâm đào tạo: Là những đơn vị thực hiện một số nhiệm vụ đào tạo và nghiên cứu, dịch vụ, chuyển giao khoa học - công nghệ đáp ứng yêu cầu kinh tế - xã hội đặt ra. - Các đơn vị phục vụ (Trung tâm Dự báo và Phát triển nguồn nhân lực, Ban Quản lý các dự án, Nhà xuất bản ĐHQGHN, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Trung tâm Hỗ trợ sinh viên, Trung tâm TT-TV, Trung tâm Hợp tác và Chuyển giao tri thức, Trung tâm Phát triển ĐHQGHN và Bệnh viện ĐHQGHN): Là những đơn vị có chức năng tổ chức và quản lý một hoặc một số lĩnh vực công tác nhằm phục vụ cho công tác đào tạo, NCKH và triển khai ứng dụng của ĐHQGHN.
- Văn phòng và các ban chức năng thuộc khối cơ quan ĐHQGHN: Là những cơ quan có chức năng tham mưu và giúp việc cho Giám đốc ĐHQGHN quản lý và tổ chức thực hiện một hoặc một số lĩnh vực công tác của ĐHQGHN. Hiện nay, để đảm bảo phù hợp với những quy định mới của pháp luật, đồng thời với việc xác định vị trí việc làm trong các đơn vị thành viên, đơn vị trực thuộc, ĐHQGHN đang tiến hành triển khai công tác thực hiện Đề án điều chỉnh, sắp xếp lại và phát triển tổ chức trong ĐHQGHN theo hướng tinh giản đầu mối, tăng cường nguồn lực cho các đơn vị thành viên và đầu tư phát triển cho các đơn vị trực thuộc. Đội ngũ cán bộ Đội ngũ cán bộ khoa học của ĐHQGHN đông đảo và mạnh nhất trong hệ thống các trường đại học của cả nước. Tỷ lệ cán bộ khoa học (giảng viên, nghiên cứu viên) có trình độ tiến sĩ, tiến sĩ khoa học đạt 44%, tỷ lệ cán bộ khoa học có học hàm Giáo sư, Phó Giáo sư đạt 17%, cao gấp ba lần so với tỷ lệ trung bình của cả nước.