CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA RÈN LUYỆN KỸ NĂNG VẬN ĐỘNG TINH CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG NGOÀI TRỜI.1 Một số khái niệm liên quan. Khái niệm về “ kỹ năng”. Khái niệm kỹ năng được định nghĩa bằng nhiều kiểu khác nhau như: - Theo tác giả Đặng Thành Hưng: Kỹ năng là một dạng hành động được thực hiện tự giác dựa trên tri thức về công việc, khả năng vận động và những điều kiện sinh học – tâm lí khác của cá nhân (tức chủ thể của kỹ năng đó), như nhu cầu, tình cảm, ý chí, tính tích cực cá nhân. để đạt được kết quả theo mục đích hay tiêu chí đã định, hoặc mức độ thành công theo chuẩn mực hay quy định.
- Nhà tâm lý học người Liên Xô L.Leviton cho rằng “Kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức đúng đắn, có tính đến những điều kiện nhất định”. Theo ông, người có kỹ năng hành động là người phải nắm được và vận dụng đúng đắn các cách thức và quy tắc nhằm thực hiện hành động có kết quả. Ông cũng cho rằng con người có kỹ năng không chỉ nắm lý thuyết về hành động mà còn phải vận dụng vào thực tế. -Theo tác giả Vũ Dũng thì kỹ năng là năng lực vận dụng có kết quả tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng.
-Tác giả Thái Duy Tuyên định nghĩa kỹ năng là sự ứng dụng kiến thức trong hoạt động. Mỗi kỹ năng bao gồm một hệ thống thao tác trí tuệ và thực hành mà nếu thực hiện trọn vẹn hệ thống thao tác này sẽ đảm bảo đạt được mục đích đặt ra cho hoạt động. Điều đáng chú ý là việc thực hiện một kỹ năng luôn luôn được kiểm tra bằng ý thức, nghĩa là khi thực hiện bất kỳ một kỹ năng nào đều nhằm vào một mục đích nhất định. Khái niệm về “kỹ năng vận động tinh”.
Thuật ngữ “ Vận động tinh” ( fine motor) có nghĩa là “ các cơ nhỏ” ( small muscles). Vận động tinh là sử dụng các cơ nhỏ của bàn tay và các ngón tay trong các hoạt động đòi hỏi sự tinh tế, khéo léo. 6 Tác giả Hàn Nguyệt Kim Chi cũng đưa ra khái niệm vận động tinh: Vận động tinh thể hiện khả năng vận động của các cơ nhỏ và chủ yếu là sự phối hợp giữa thị giác và vận động” Như vậy có thể hiểu: Vận động tinh là sử dụng các cơ nhỏ của bàn tay và ngón tay phối hợp cùng với sự vận động của thị giác trong các hoạt động đòi hỏi sự tỉ mỉ, tinh tế, kéo léo. Kĩ năng vận động tinh ( fine motor skill) là vấn đề thu hút sự quan tâm chú ý của nhiều nhà khoa học nhất là trong những năm gần đây.
Về khái niệm của nó, có những ý kiến sau: - KNVĐT có thể được định nghĩa là khả năng điều khiển và phối hợp các cơ nhỏ của cổ tay và bàn tay. ( Gale Research,1998) - KNVĐT đó là KN đòi hỏi các cơ nhỏ của bàn tay làm việc với nhau để thực hiện các hoạt động tỉ mỉ và tinh tế.( Amundson and weil, 2001) - KNVĐT bao gồm việc sử dụng các cơ nhỏ ở ngón tay, bàn tay và cánh tay để thao tác, điều khiển và sử dụng các dụng cụ và các nguyên vật liệu. Sự phối hợp giữa mắt và tay, việc một con người sử dụng thị giác của họ để điều khiển vận động các cơ nhỏ cũng là một thành phần quan trọng của sự phát triển VĐT - KNVĐT bao gồm khả năng điều khiển các cơ nhỏ của con người và thường được định nghĩa là khả năng phối hợp hoạt động của mắt và tay với nhau trong việc thực hiện các vận động đòi hỏi sự tỉ mỉ, khéo léo. - KNVĐT bao gồm những KN đã được sử dụng trong khi làm việc với các vật nhỏ bằng bàn tay ( như là các loại hạt, cát, sỏi, cầm bút chì,….) Tóm lại chúng ta có thể hiểu khái niệm KNVĐT như sau: KNVĐT là khả năng điều khiển, phối hợp các cơ nhỏ của bàn tay và ngón tay cùng với sự vận động thị giác trong các hoạt động đòi hỏi sự tỉ mỉ , tinh tế, khéo léo.
Khái niệm về hoạt động ngoài trời. Theo cách hiểu thông thường, “ ngoài trời” là khoảng không gian không có gì che chắn ở phía trên, đó chính là môi trường không gian tự nhiện. Từ đó, khái 7 niệm HĐNT được quan niệm là hoạt động của con người được diễn ra trong môi trường không gian tự nhiên. Theo định nghĩa của tác giả Đặng Hồng Phương, HĐNT là hoạt động được chủ thể tiến hành một cách có mục đích trong môi trường không gian tự nhiên [ 27, tr.
Xét trên bình diện tâm lí – giáo dục học, HĐNT trước hết là một dạng hoạt động. Vì thế, nó có các đặc trưng cơ bản của một hoạt động như: - HĐNT là hoạt động có tính mục đích được thể hiện bởi chủ thể. - Đối tượng của HĐNT là tất cả những sự vật, hiện tượng diễn ra trong không gian tự nhiên bên ngoài lớp học mà chủ thể quan tâm nhằm thỏa mãn nhu cầu khám phá, nhận thức… Ngoài ra, HĐNT được xác định bởi không gian tiến hành hoạt động là môi trường không gian tự nhiên. Theo cách hiểu này, HĐNT được xem là một hoạt động đặc trưng được chủ thể tiến hành một cách có mục đích trong môi trường không gian tự nhiên.
Chính vì thế, HĐNT có nội dung, hình thức và phương pháp tổ chức khác với những hoạt động tổ chức trong phòng học. Khái niệm về rèn luyện kỹ năng vận động tinh cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động ngoài trời. Rèn luyện kỹ năng vận động tinh cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động ngoài trời là tổ hợp những cách thức tổ chức dạy trẻ 5 – 6 tuổi vận động tinh trên cơ sở khác, khai thác lợi thế của hoạt động ngoài trời. Đặc điểm kỹ năng vận động tinh của MG nói chung và trẻ 5 – 6 tuổi nói riêng.
Đặc điểm kỹ năng vận động tinh của trẻ 3 – 4 tuổi. Ở trẻ xuất hiện một số KNVĐT, trẻ thường xuyên sử dụng những KN này để thăm dò, quan sát, khám phá thế giới xung quanh và dần đạt đến sự độc lập. Trẻ sử dụng các ngón tay để thực hiện những hành động như có thể nhặt những đồ vật. Khi KN này mới được hình thành, trẻ sử dụng các cơ bàn tay một cách vụng về, cứng nhắc và khá chậm, trẻ nhặt đồ vật không chính xác hoặc nhặt 8 không đúng đồ vật, sau đó trẻ dần trở nên thuần thục hơn, thao tác chính xác hơn, phối hợp tay – mắt một cách linh hoạt hơn.
Cụ thể: Bé vặn mở đóng nắp hộp, cắt giấy thành sợi dài và cắt theo đường kẻ thẳng. B bắt chước vẽ dấu cộng vẽ chữ V và những hình đơn giản. Đặc điểm kỹ năng vận động tinh của trẻ 4 – 5 tuổi. Ở độ tuổi này, sự phối hợp và khả năng sử dụng tay của trẻ gần như được phát triển đầy đủ.
Kết quả là, trẻ có thể tự chăm sóc mình. trẻ có thể đánh răng và mặc quần áo với sự trợ giúp không nhiều và thậm chí trẻ có thể buộc giày của mình. Bên cạnh đó b định hình việc thuận tay phải hay trái. Bé cắt hình dạng dễ: hình tròn, hình vuông.
Bé cầm bút chì bởi ngón cái và ngón trỏ, đặt trọng tâm lên ngón giữa và tô màu không lem ra ngoài. Đặc điểm kỹ năng vận động tinh của trẻ 5 – 6 tuổi. Ở giai đoạn này trẻ tiếp tục trở nên tinh kh o hơn về kỹ năng vận động tinh. Trẻ thường xuyên sử dụng những kỹ năng này để thăm dò, khảo sát, khám phá thế giới xung quanh và dần đạt tới sự độc lập.
Trong thời gian này, trẻ đã thuần thục trong việc tự ăn bằng các dụng cụ ăn uống, xếp chồng các khối lên nhau, nối dài các nguyên vật liệu xây dựng với nhau. Những chiếc tàu ngộ nghĩnh, những hàng rào đẹp mắt được trẻ tạo ra từ các khối gỗ hay những viên gạch đã chứng tỏ sự phát triển đáng kể về kỹ năng vận động tinh của các bé trong thời kì này. Chúng bắt đầu chú ý đến dụng cụ vẽ, viết mặc dù sự cầm nắm bút màu của trẻ ban đầu có thể đang còn vụng về. Vận động của trẻ giai đoạn này khá đã khá hoàn thiện.
Trẻ từ 5 tuổi trở đi đã có thể vận động toàn thân, hoặc làm các động tác phức tạp hơn trong hoạt động thể chất như chơi đá cầu, nhảy dây, leo trèo, lộn xà đơn. Các kỹ năng vận động nặng và nhẹ của b đang tiến bộ, tạo ra khoảng thời gian tuyệt vời để bé bộc lộ mình thông qua các hoạt động yêu cầu sự phối hợp cơ thể phức tạp hơn, như bơi lội, nhào lộn, chạy vượt chướng ngại vật Trẻ 5 -6 tuổi có tính tự chủ rất mạnh mẽ, có thể tự khống chế được cân bằng thân thể và những động tác nhảy nhót. Có thể nắm vững các kỹ năng, kỹ xảo tinh tế có mục đích của tay như dùng bút, dao, k o, cốc, học được cách gấp giấy, 9 nhào bột, nặn… Kỹ năng vận động của trẻ ngày càng phát triển. Điều này được thể hiện rõ qua những cử động của đôi tay và các ngón tay.
Thời kì này bé có thể sử dụng đôi tay hết sức khéo léo, thuần thục kết hợp quan sát. Tuy nhiên đa số trẻ vẫn chưa điều khiển bàn tay của mình vào những hoạt động cần sự nhanh nhẹn hay khéo léo nhất. Ảnh hưởng của KNVĐT đến một số lĩnh vực phát triển của trẻ. Sự vận động của bàn tay có một ý nghĩa rất quan trọng trong sự phát triển của con người.
Đặc biệt đối với trẻ nhỏ, khi mà chúng khám phá thế giới mới lạ xung quanh chủ yếu bằng việc thao tác với các vật thể thì vận động tinh khéo của đôi bàn tay càng trỏe nên cần thiết và có ý ngĩa lớn lao. Sự thành thạo trong công việc điều khiển VĐT cho phép trẻ phát triển những KN mà nó luôn thực sự cần thiết trong hiện tại và tương lai. Kết quả và những thành tựu được của trẻ về các lĩnh vực trong cuộc sống như: Tâm lý, tình cảm , xã hội, học tập, nghề nghiệp cũng chịu ảnh hưởng bởi kĩ năng này. Ảnh hưởng của KNVĐT đến các hoạt động tự phục vụ Kĩ năng vận động tinh là cơ sở hình thành kĩ năng tự phục vụ.