Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Giáo dục mầm non là cấp học khởi đầu trong hệ thống giáo dục quốc dân, đóng vai trò nền tảng cho sự phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tình cảm và thẩm mỹ của trẻ. Trong lĩnh vực giáo dục thể chất, sự phát triển vận động được chia thành hai nhánh chính: kỹ năng vận động thô và kỹ năng vận động tinh (KNVĐT). Đối với trẻ 5 – 6 tuổi chuẩn bị bước vào lớp 1, KNVĐT (khả năng phối hợp các cơ nhỏ của bàn tay, ngón tay kết hợp sự định hướng thị giác) giữ vai trò then chốt đối với các hoạt động tự phục vụ, thao tác tạo hình và đặc biệt là kỹ năng cầm bút viết chữ.
Hoạt động ngoài trời (HĐNT) là môi trường không gian tự nhiên chứa đựng các yếu tố đa dạng (cây cỏ, cát, đất, sỏi, nước) tạo cơ hội thuận lợi để trẻ rèn luyện đôi bàn tay. Tuy nhiên, thực trạng tại các trường mầm non cho thấy thời gian HĐNT của trẻ còn bị cắt xén, tổ chức mang tính hình thức, nhàm chán; giáo viên chủ yếu để trẻ chơi với thiết bị có sẵn (cầu trượt, xích đu) mà chưa chủ động lồng ghép nội dung rèn luyện KNVĐT cho trẻ.
Xuất phát từ thực tế đó, tác giả Nguyễn Thị Ái Lệ đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Giáo dục Mầm non tại Trường Đại học Quảng Nam với đề tài: "Rèn luyện kỹ năng vận động tinh cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động ngoài trời".
Mục tiêu nghiên cứu:
Nghiên cứu cơ sở lý luận, khảo sát thực trạng và đề xuất một số biện pháp rèn luyện kỹ năng vận động tinh cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động ngoài trời, tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm nghiệm tính khả thi.
Nhiệm vụ nghiên cứu (được đánh số theo văn bản):
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về rèn luyện kỹ năng vận động tinh cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động ngoài trời của giáo viên tại trường mầm non.
- Khảo sát thực trạng rèn luyện kỹ năng vận động tinh cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động ngoài trời tại Trường Mẫu giáo Quế Châu, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.
- Đề xuất một số biện pháp rèn luyện kỹ năng vận động tinh cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động ngoài trời và tiến hành thực nghiệm tại trường mầm non.
- Thực nghiệm sư phạm một số biện pháp rèn luyện kỹ năng vận động tinh cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động ngoài trời.
Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp rèn luyện kỹ năng vận động tinh cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động ngoài trời.
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình rèn luyện kỹ năng vận động tinh cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động ngoài trời.
- Phạm vi không gian: Trường Mẫu giáo Quế Châu, xã Quế Châu, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam (khảo sát trên 6 giáo viên dạy lớp lớn và 26 trẻ thuộc lớp Lớn 1).
- Phạm vi thời gian: Từ tháng 12/2019 đến tháng 05/2020 (bị gián đoạn bởi dịch bệnh Covid-19).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận thiết lập khung lý thuyết dựa trên các định nghĩa học thuật về kỹ năng của Đặng Thành Hưng, L. Levitov, Vũ Dũng, Thái Duy Tuyên và định nghĩa về kỹ năng vận động tinh của Hàn Nguyệt Kim Chi, Gale Research (1998), Amundson & Weil (2001). Về hoạt động ngoài trời, tác giả tiếp cận theo khái niệm của Đặng Hồng Phương (HĐNT là hoạt động có mục đích diễn ra trong môi trường không gian tự nhiên). Tác giả tổng thuật các nghiên cứu quốc tế và trong nước về tâm vận động và vận động tinh: Jean-Claude Coste (1997), Loise Dyon, Reno (1995), Share, Jorm, Maclean & Matthews (1984), Landy & Buridge (1999), Phan Thị Ngọc Yến, Trần Minh Kỳ, Nguyễn Thị Dung (2006) và Tạ Ngọc Thanh (2009).
Phương pháp nghiên cứu thực tế được triển khai đồng bộ gồm:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Thu thập, đọc, phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa các tài liệu chuyên môn.
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi (Anket): Sử dụng hệ thống câu hỏi khảo sát 6 giáo viên dạy lớp 5 – 6 tuổi tại Trường Mẫu giáo Quế Châu về nhận thức, thái độ và mức độ triển khai các biện pháp rèn luyện KNVĐT.
- Phương pháp đàm thoại: Trò chuyện trực tiếp với giáo viên mầm non nhằm làm rõ thêm nhận thức và khó khăn trong thực tế tổ chức HĐNT.
- Phương pháp quan sát sư phạm: Dự giờ các tiết dạy HĐNT của giáo viên; trực tiếp theo dõi thao tác và hành vi vận động của 26 trẻ lớp Lớn 1 qua hệ thống bài tập đo nghiệm.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm tác động các biện pháp đề xuất trên nhóm đối chứng (ĐC) và nhóm thực nghiệm (TN) theo quy trình 3 giai đoạn để kiểm chứng hiệu quả.
- Phương pháp thống kê toán học: Tính toán tỷ lệ phần trăm (%), điểm trung bình để xử lý dữ liệu định lượng.
Nguồn dữ liệu của đề tài được thu thập trực tiếp tại Trường Mẫu giáo Quế Châu, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam qua 3 đợt: đợt 1 từ 15/12/2019 đến 23/12/2019 (phát phiếu khảo sát GV); đợt 2 từ 25/12/2019 đến 01/01/2020 (quan sát, dự giờ HĐNT); đợt 3 từ 12/05/2020 đến 14/05/2020 (tiến hành thực nghiệm).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận của rèn luyện kỹ năng vận động tinh cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động ngoài trời
Chương 1 hệ thống hóa các khái niệm nền tảng: kỹ năng, KNVĐT, HĐNT và rèn luyện KNVĐT qua HĐNT. Tác giả phân tích các mốc phát triển KNVĐT từ 3 – 4 tuổi, 4 – 5 tuổi đến 5 – 6 tuổi. Ở giai đoạn 5 – 6 tuổi, hệ cơ xương và não bộ (đạt khoảng 1300g) phát triển tương đối hoàn thiện, trẻ có thể điều khiển độc lập các ngón tay, cầm bút vẽ, cầm kéo cắt hình, gấp giấy, nhào nặn và sao chép chữ cái. KNVĐT tác động trực tiếp đến kỹ năng tự phục vụ (cài cúc áo, kéo khóa, tự xúc ăn, buộc dây giày) và các hoạt động học tập, tạo hình ở trường tiểu học.
Về hoạt động ngoài trời, tác giả xác định mục đích, nội dung (làm quen với thực vật, động vật, yếu tố thiên nhiên vô sinh như đất, cát, sỏi, nước, hiện tượng thời tiết, môi trường xã hội và lao động đơn giản) và vai trò của HĐNT đối với việc phát triển KNVĐT. Chương này cũng phân tích 6 phương pháp tổ chức HĐNT (trực quan, trò chơi, thi đấu, dùng lời nói, mô phỏng, thực hành luyện tập) cùng 3 hình thức tổ chức cơ bản (theo lớp đối với trò chơi vận động, theo nhóm đối với hoạt động có chủ đích, theo cá nhân đối với hoạt động chơi tự do).
Chương 2: Thực trạng một số biện pháp rèn luyện kỹ năng vận động tinh cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động ngoài trời tại trường Mẫu giáo Quế Châu, Quế Sơn, Quảng Nam
Chương 2 mô tả thực địa tại Trường Mẫu giáo Quế Châu (thành lập năm 1975, gồm 9 phòng học khép kín, 214 trẻ phân chia thành 9 lớp: 3 lớp Bé, 3 lớp Nhỡ, 3 lớp Lớn). Đội ngũ có 18 giáo viên đứng lớp; 100% đạt chuẩn và trên chuẩn (50% trình độ Đại học, 16,7% Cao đẳng, 33,3% Trung cấp; 55,6% có thâm niên dạy mầm non dưới 5 năm, 33,3% từ 5 – 10 năm, 11,1% trên 10 năm).
Khảo sát nhận thức của 6 giáo viên chủ nhiệm lớp 5 – 6 tuổi cho thấy:
| Tiêu chí khảo sát nhận thức của giáo viên (N = 6) |
Mức độ / Phân loại |
Số lượng (SL) |
Tỷ lệ (%) |
| Đánh giá tầm quan trọng của rèn luyện KNVĐT qua HĐNT |
Quan trọng |
4 |
66,7% |
|
Không quan trọng |
2 |
33,3% |
| Hiểu biết về khái niệm kỹ năng vận động tinh |
Phối hợp cơ nhỏ bàn tay, ngón tay và thị giác |
3 |
50,0% |
|
Kỹ năng thực hiện vận động của tay nói chung |
2 |
33,3% |
|
Nhầm sang kỹ năng đi lại, di chuyển (vận động thô) |
1 |
16,7% |
| Mức độ tổ chức HĐNT nhằm rèn luyện KNVĐT |
Rất thường xuyên |
1 |
16,7% |
|
Thường xuyên |
3 |
50,0% |
|
Không thường xuyên |
2 |
33,3% |
| Mức độ quan tâm của giáo viên |
Rất quan tâm |
1 |
16,7% |
|
Quan tâm |
2 |
33,3% |
|
Bình thường |
3 |
50,0% |
Về thực trạng sử dụng các biện pháp rèn luyện KNVĐT qua HĐNT của 6 giáo viên:
| Tên biện pháp |
Thường xuyên |
Thỉnh thoảng |
Không bao giờ |
| Biện pháp 1: Tạo khu vực thiên nhiên thuận tiện và hấp dẫn ngoài trời |
0 (0%) |
2 (33,3%) |
4 (66,7%) |
| Biện pháp 2: Trò chơi với các yếu tố thiên nhiên vô sinh (cát, sỏi, nước...) |
0 (0%) |
1 (16,7%) |
5 (83,3%) |
| Biện pháp 3: Tổ chức hoạt động tạo hình từ vật liệu thiên nhiên ngoài trời |
0 (0%) |
1 (16,7%) |
5 (83,3%) |
Tác giả tiến hành đo nghiệm KNVĐT trên 26 trẻ lớp Lớn 1 qua 2 tiêu chí (thang điểm 10): Tiêu chí 1 về điều khiển cử động cổ tay, bàn tay, ngón tay (5 điểm: xoay nắp chai, lăn bột bánh bao, nhúc nhích 2 ngón tay, xúc gạo bằng thìa, tô màu không lem, vẽ hình đơn giản); Tiêu chí 2 về phối hợp mắt - tay (5 điểm: xỏ sợi mỳ vào cước, cắt hình vẽ sẵn trên bìa, cài cởi nút áo, kẹp gỡ kẹp quần áo, gấp quần áo, dán các bộ phận con mèo trong 4 phút, xếp que thành hình). Kết quả phân loại:
| Mức độ đạt được |
Khoảng điểm |
Số lượng trẻ (N = 26) |
Tỷ lệ (%) |
| Giỏi |
9 – 10 điểm |
5 |
19,23% |
| Khá |
7 – 8 điểm |
9 |
34,62% |
| Trung bình |
5 – 6 điểm |
7 |
26,92% |
| Yếu |
Dưới 5 điểm |
5 |
19,23% |
Nguyên nhân của thực trạng gồm: giáo viên còn mơ hồ về KNVĐT, rập khuôn đồ chơi quen thuộc, thụ động trong hướng dẫn; điều kiện đồ dùng HĐNT còn ít và lặp lại; thời gian chăm sóc trẻ trên lớp chiếm phần lớn thời gian trong ngày.
Chương 3: Đề xuất và thực nghiệm các biện pháp rèn luyện kỹ năng vận động tinh cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động ngoài trời tại Mẫu giáo Quế Châu, Quế Sơn, Quảng Nam
Tác giả xác định 4 cơ sở đề xuất biện pháp: mục tiêu giáo dục mầm non; đặc điểm phát triển thể chất và tâm sinh lý của trẻ 5 – 6 tuổi; tính phù hợp giữa KNVĐT và quá trình tổ chức HĐNT; điều kiện cơ sở vật chất của trường và địa phương.
Hệ thống biện pháp sư phạm đề xuất gồm:
- Biện pháp 1: Tạo khu vực thiên nhiên thuận tiện và hấp dẫn ngoài trời. Triển khai qua 4 giai đoạn: (1) Xây dựng kế hoạch; (2) Thực hiện cải tạo từng khu vực; (3) Phân công trách nhiệm từng tổ, thành viên; (4) Bố trí khu vực thiên nhiên tích hợp hoạt động ngoài trời (bố trí góc chơi cát, sỏi, đá cuội, nước có bóng râm; trang bị dụng cụ đong đếm, khuôn làm bánh, đồ chơi câu cá, thả thuyền để kết hợp rèn luyện cơ tay với khám phá khoa học).
- Biện pháp 2: Trò chơi với các yếu tố thiên nhiên vô sinh. Khai thác cát, sỏi, đá, nước để tổ chức các trò chơi đong đo, xếp đá, xây đắp công trình.
- Biện pháp 3: Tổ chức các hoạt động tạo hình từ vật liệu thiên nhiên ngoài trời. Cho trẻ in chữ trên cát, làm tranh bằng cát, xây lâu đài cát, xé dán lá cây khô thành con vật.
Nội dung thực nghiệm sư phạm được thiết kế theo quy trình 3 giai đoạn (đo trước thực nghiệm, tổ chức tác động sư phạm theo các biện pháp mới và đo sau thực nghiệm) nhằm so sánh đối chứng mức độ tiến bộ KNVĐT giữa nhóm TN và nhóm ĐC (được thể hiện qua các Bảng 3.1, 3.2, 3.3 và Biểu đồ 3.1, 3.2, 3.3 trong cấu trúc khóa luận).
Kết quả và đóng góp
Kết quả chính kèm số liệu thực chứng
- Khảo sát nhận thức và thực hành của giáo viên: Có 66,7% giáo viên đánh giá việc rèn KNVĐT qua HĐNT là quan trọng, nhưng chỉ 50% hiểu đúng bản chất KNVĐT (vẫn còn 16,7% nhầm sang vận động thô). Tỷ lệ giáo viên "không bao giờ" áp dụng các biện pháp khai thác không gian thiên nhiên, yếu tố vô sinh và tạo hình từ vật liệu ngoài trời dao động ở mức rất cao (từ 66,7% đến 83,3%).
- Khảo sát năng lực thực tế của trẻ: Đánh giá trên 26 trẻ lớp 5 – 6 tuổi (lớp Lớn 1) cho thấy tỷ lệ đạt mức Giỏi chỉ đạt 19,23%, mức Khá đạt 34,62%, trong khi mức Trung bình và Yếu chiếm tỷ lệ đáng kể (Trung bình 26,92% và Yếu 19,23%).
Giải pháp và kiến nghị tác giả đề xuất
- Đối với giáo viên: Chủ động lập kế hoạch, đổi mới phương pháp tổ chức HĐNT; tận dụng nguyên vật liệu thiên nhiên sẵn có (cát, sỏi, hột hạt, lá khô) thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào thiết bị đồ chơi cố định; đa dạng hóa các hoạt động tạo hình và trò chơi vận động phối hợp mắt - tay.
- Đối với nhà trường: Đầu tư, cải tạo cảnh quan sân vườn theo mô hình góc thiên nhiên tích hợp; trang bị thêm dụng cụ chơi cát, nước an toàn; sắp xếp thời khóa biểu đảm bảo đủ thời lượng cho HĐNT của trẻ.
Đóng góp của đề tài
Khóa luận đã hệ thống hóa lý luận về phát triển KNVĐT cho trẻ mẫu giáo lớn (5 – 6 tuổi) gắn liền với loại hình HĐNT; cung cấp bức tranh thực trạng cụ thể tại địa bàn trường mầm non nông thôn (huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam); xây dựng quy trình và tiêu chí bài tập đo nghiệm thực hành rõ ràng (thang 10 điểm chia đều cho 2 nhóm kỹ năng cốt lõi).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
- Phạm vi khảo sát thực trạng hẹp, chỉ tiến hành trên 6 giáo viên và 26 trẻ tại một trường mầm non duy nhất (Trường Mẫu giáo Quế Châu), chưa mở rộng so sánh liên trường hoặc giữa các địa bàn đô thị và nông thôn.
- Quá trình thu thập dữ liệu và thực nghiệm bị gián đoạn về mặt thời gian do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 (từ tháng 01/2020 đến tháng 05/2020).
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu quy mô mẫu lớn hơn ở nhiều điểm trường mầm non khác nhau; xây dựng thêm hệ thống trò chơi chuyên biệt với nguyên vật liệu tự nhiên địa phương nhằm rèn luyện chuyên sâu các thao tác cầm bút cho trẻ chuẩn bị vào lớp 1.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng sử dụng:
- Sinh viên chuyên ngành Giáo dục Mầm non: Tham khảo khung lý luận, cấu trúc khóa luận thực nghiệm sư phạm và phương pháp xây dựng tiêu chí đánh giá KNVĐT.
- Giáo viên mầm non trực tiếp đứng lớp 5 – 6 tuổi: Vận dụng hệ thống bài tập đo nghiệm (13 bài tập thực hành cụ thể) và cách thức cải tạo góc chơi cát, nước, sỏi ngoài trời.
- Cán bộ quản lý chuyên môn tại các trường mầm non: Tham khảo để định hướng xây dựng môi trường giáo dục ngoài trời lấy trẻ làm trung tâm.
- Phần đáng tham khảo: Bảng tiêu chí và hệ thống bài tập thực hành đo mức độ KNVĐT (Trang 31 - 32 của khóa luận); quy trình 4 giai đoạn kiến thiết khu vực thiên nhiên tích hợp ngoài trời.
Câu hỏi thường gặp
1. Tác giả sử dụng những tiêu chí và bài tập thực hành nào để đánh giá KNVĐT của trẻ 5 – 6 tuổi?
Khóa luận sử dụng thang điểm 10 chia thành 2 tiêu chí:
- Tiêu chí 1 (5 điểm): Kỹ năng điều khiển cử động cổ tay, bàn tay, ngón tay qua 6 bài tập: vặn mở nắp chai (1đ), lăn bột làm bánh bao (1đ), nhúc nhích ngón trỏ và ngón giữa (1đ), xúc thìa chuyển gạo (1đ), tô màu không lem (0,5đ), cầm bút chì vẽ hình đơn giản (0,5đ).
- Tiêu chí 2 (5 điểm): Kỹ năng phối hợp mắt - tay qua 7 bài tập: xỏ sợi mỳ vào dây cước (0,5đ), cắt hình bìa vẽ sẵn (0,5đ), cởi/mở nút áo các cỡ (1đ), kẹp/gỡ kẹp quần áo (0,5đ), gấp quần áo (0,5đ), dán các bộ phận con mèo đúng vị trí trong 4 phút (1đ), ghép que thành hình (1đ).
2. Mức độ kỹ năng vận động tinh của 26 trẻ lớp Lớn 1 tại Trường Mẫu giáo Quế Châu trước thực nghiệm đạt kết quả ra sao?
Kết quả khảo sát trên 26 trẻ cho thấy sự phát triển KNVĐT chưa đồng đều: mức Giỏi chiếm 19,23% (5 trẻ), mức Khá chiếm 34,62% (9 trẻ), mức Trung bình chiếm 26,92% (7 trẻ) và mức Yếu chiếm 19,23% (5 trẻ). Tỷ lệ trẻ ở mức trung bình và yếu còn chiếm tỷ trọng lớn (tổng cộng 46,15%).
3. Thực trạng nhận thức của giáo viên về KNVĐT tại trường khảo sát có điểm gì đáng chú ý?
Dù 66,7% giáo viên nhận thức rèn KNVĐT qua HĐNT là quan trọng, nhưng chỉ 50% giáo viên (3/6 người) hiểu đúng khái niệm KNVĐT là sự phối hợp giữa các cơ nhỏ của bàn tay/ngón tay với thị giác; 33,3% hiểu chung chung là vận động của tay và 16,7% nhầm lẫn sang vận động thô (kỹ năng đi lại, di chuyển).
4. Quy trình tạo khu vực thiên nhiên thuận tiện và hấp dẫn ngoài trời gồm những giai đoạn nào?
Biện pháp này được thực hiện qua 4 giai đoạn: Giai đoạn 1 - Xây dựng kế hoạch; Giai đoạn 2 - Thực hiện cải tạo từng khu vực; Giai đoạn 3 - Phân công trách nhiệm từng tổ, thành viên phụ trách công việc; Giai đoạn 4 - Bố trí khu vực thiên nhiên tích hợp hoạt động ngoài trời.
5. Những nguyên nhân chính nào khiến việc rèn luyện KNVĐT qua HĐNT tại trường mầm non còn hạn chế?
Văn bản chỉ rõ hai nhóm nguyên nhân: nguyên nhân chủ quan do giáo viên còn thụ động, rập khuôn đồ dùng dạy học cũ, hướng dẫn mang tính làm mẫu thay vì để trẻ tự thao tác; nguyên nhân khách quan do đồ chơi ngoài trời ít phong phú, số lượng trẻ trong lớp đông, thời gian chăm sóc trẻ chiếm phần lớn và thời lượng chơi ngoài trời bị hạn chế.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Ái Lệ đã giải quyết toàn diện vấn đề lý luận và thực tiễn về rèn luyện kỹ năng vận động tinh cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động ngoài trời tại Trường Mẫu giáo Quế Châu, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam. Đề tài cung cấp hệ thống dữ liệu khảo sát xác thực về nhận thức giáo viên, năng lực thao tác của trẻ và đề xuất các biện pháp kiến thiết không gian thiên nhiên gắn liền với trò chơi tạo hình, khám phá khoa học. Đây là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho giáo viên mầm non và sinh viên chuyên ngành giáo dục mầm non trong việc nâng cao chất lượng giáo dục thể chất cho trẻ trước ngưỡng cửa tiểu học.