CHƯƠNG I TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm 1. Mục tiêu: Mục tiêu là những dự báo về kết quả hoạt động, nó phản ánh nhu cầu khách quan của xã hội. Mục đích phản ánh bằng kết quả cuối cùng của hoạt động sau một quá trình; mục tiêu phản ánh kết quả hoạt động ở từng giai đoạn của một quá trình.
Thông qua kết quả đạt được ở các giai đoạn (thực hiện mục tiêu), mà ta có được kết quả cuối cùng của hoạt động (thực hiện mục đích). Mục đích của giáo dục nói chung, GDTC nói riêng là kết quả hoạt động giáo dục (hay GDTC), cần phải đạt được để đáp ứng các yêu cầu của xã hội và nhu cầu của con người [28], [84]. Mục tiêu GDTC quốc dân, được xây dựng trên cơ sở nhu cầu của công cuộc xây dựng CNXH và gắn liền với mục tiêu của giáo dục chung của Đảng và Nhà nước ta. Bởi vì GDTC là một hình thức giáo dục chuyên biệt, cùng với các hoạt động giáo dục khác: Đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ, lao động kĩ thuật, góp phần giáo dục thế hệ trẻ phát triển toàn diện [21], [22], [23].
5 Mục tiêu TDTT ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là: Khôi phục và tăng cường sức khỏe cho nhân dân, góp phần xây dựng con người phát triển toàn diện, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa [3], [43], [45],. Mục tiêu của GDTC cho học sinh phổ thông là: Góp phần bảo vệ, tăng cường sức khỏe, phát triển thể lực toàn diện cho các em, cung cấp những kiến thức cơ bản về vệ sinh cơ thể, vệ sinh môi trường…, hình thành thói quen tập luyện TDTT, giữ gìn vệ sinh và biết thực hiện một số động tác cơ bản trong TDTT (các bài tập thực dụng)… tạo nên sự phát triển tự nhiên của trẻ, gây cho trẻ một cuộc sống vui tươi lành mạnh [44], [45]. Mục tiêu của công tác phòng chống đuối nước trẻ em là: kiểm soát tình hình tai nạn, thương tích trẻ em, đặc biệt là tai nạn đuối nước nhằm đảm bảo an toàn cho trẻ em, vì hạnh phúc của gia đình và xã hội [6], [53]. Phương pháp, giải pháp, biện pháp: Tổng hợp các tài liệu về quản lý học, nhiều học giả đề cập một số khái niệm liên quan, đó là phương pháp, giải pháp, biện pháp giải quyết những chính sách, đề án, kế hoạch để đạt mục tiêu đã đặt ra.
Phương pháp quản lý là cách thức, con đường giải quyết mục tiêu để đảm bảo việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của một tổ chức nào đó trong quá trình quản lý một cách khoa học, khách quan phù hợp lý luận và thực tiễn. Giải pháp là cách giải quyết một vấn đề khó khăn gặp phải trong quá trình làm việc, giải pháp là tổng thể các biện pháp hợp thành. Như vậy, giải pháp có thể bao gồm rất nhiều biện pháp cụ thể. Trong các tài liệu quản lý xã hội, quản lý kinh tế, các học giả đề cập các nhóm giải pháp theo chức năng nhiệm vụ như: 6 Giải pháp giáo dục; trong đó có những biện pháp tuyên truyền bằng tài liệu, sách báo một cách thường xuyên, tuyên dương khen thưởng; Giải pháp hành chính; trong đó có các biện pháp về bộ máy, nhân lực, tổ chức điều hành cụ thể; Giải pháp kinh tế; trong đó có các biện pháp vật chất, tiền tệ, khen thưởng; Giải pháp động viên tinh thần và vật chất.
Giải pháp được định nghĩa trong quản lý xã hội học đã đề cập đến khái niệm giải pháp quản lý xã hội: Giải pháp quản lý xã hội là phương tiện, hành vi thực hiện sự tác động bằng quản lý; phương thức biểu thị các mối quan hệ quản lý [16], [18], [19], [20]. Trên cơ sở khái niệm đã nêu có thể cụ thể hóa các giải pháp như sau: Giải pháp những phương tiện, hành vi, công cụ được tác động sử dụng thông qua quản lý theo một lộ trình quy định. Các phương tiện, hành vi, công cụ này thể hiện ở hình thức là các chương trình và dự án được thực hiện trong một phạm vi lộ trình xác định để đạt được mục tiêu quản lý. Trong các tài liệu về quản lý còn đề cập mối quan hệ giữa phương pháp quản lý gồm các giải pháp, biện pháp sử dụng trong quản lý như: Giải pháp là cách thức thực hiện các phương pháp.
Giải pháp là cụ thể hóa các phương pháp hay ứng dụng các phương pháp vào thực tiễn quản lý. Trong một phương pháp có nhiều giải pháp cụ thể. Mặt khác, một giải pháp cụ thể có thể là thành phần của nhiều phương pháp khác nhau. Giữa phương pháp và giải pháp có sự tương đồng nhưng không phải đồng nghĩa với nhau.
Một nhóm giải pháp cụ thể tổng hợp thành phương pháp quản lý. Từ các phương pháp quản lý hình thành các nhóm giải pháp (mỗi phương pháp có một nhóm giải pháp), trong mỗi giải pháp có các biện pháp cụ thể [13], [28]. 7 Biện pháp là cách thức, công cụ thực hiện giải pháp. Trong quá trình quản lý để thực hiện một phương pháp quản lý cần áp dụng một nhóm giải pháp, trong mỗi giải pháp có những biện pháp cụ thể cần triển khai.
Trong một giải pháp lớn có cả hệ thống giải pháp thành phần. Hệ thống giải pháp thành phần tác động để hình thành và phát triển thành giải pháp lớn [13], [65], [70]. Bơi chống đuối nước: Biết bơi vẫn có thể bị đuối nước. Để giảm thiểu tai nạn đuối nước cho trẻ em, việc đầu tiên và quan trọng nhất là dạy trẻ bơi và các kỹ năng đảm bảo an toàn dưới nước.
Đuối nước là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong do tai nạn, thương tích ở trẻ em. Theo thống kê, trên thực tế, có nhiều trường hợp trẻ em biết bơi vẫn xảy ra tai nạn đuối nước do không có kỹ năng cứu đuối. Mặt khác nhiều trẻ biết bơi nhưng lại bị đuối nước do không biết cách cứu bạn, thiếu các kỹ năng, phương tiện để phòng tránh cũng dễ bị đuối nước. Do đó, có thể thấy biết bơi là chưa đủ, quan trọng hơn, trẻ phải có kỹ năng đảm bảo an toàn dưới nước.
Dù điều kiện tự nhiên có nhiều sông, suối, hồ, ao, kênh rạch, là môi trường không an toàn cho trẻ, song nhiều địa phương vẫn chưa coi trọng việc phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em. Bên cạnh đó, nhiều gia đình vẫn chưa nhận thức đầy đủ, còn lơ là, chủ quan, chưa giám sát chặt chẽ con trẻ. Để tránh những tai nạn đáng tiếc có thể xảy ra và hạn chế thấp nhất tử vong do đuối nước, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường. Đặc biệt, các bậc phụ huynh phải nâng cao trách nhiệm quản lý, không để con trẻ tự tắm sông, tắm biển mà không có người lớn đi cùng giám sát [6], [8], [11].
Thực trạng đó đặt ra yêu cầu cấp thiết là cần phải có sự quan tâm chỉ đạo của các ngành, các cấp nhằm giáo dục cho trẻ em biết bơi, biết 8 cách phòng tránh tai nạn đuối nước, giảm thiểu đến mức thấp nhất tỉ lệ trẻ em bị đuối nước. Xã hội hoá thể dục thể thao: Xã hội hóa, với góc độ của xã hội học là một nền tảng quan trọng trong loài người. Không như các chủng loại khác với định nghĩa theo sinh học, con người cần phải hiểu biết xã hội để có khả năng tồn tại [13], [31]. XHH TDTT là chỉ quá trình chuyển đổi trong lĩnh vực tham gia, quản lý và hoạt động thể dục thể thao: từ phương thức Nhà nước hoàn toàn làm thể dục thể thao; theo cơ chế kế hoạch tập trung sang phương thức Nhà nước kết hợp với xã hội cùng làm thể dục thể thao trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tiến tới phương thức xã hội làm thể dục thể thao là chính, Nhà nước chỉ đóng vai trò định hướng chỉ đạo, kiểm soát, ban hành chính sách.
Thứ hai là, về mặt lý giải từ “hóa” trong cụm từ “xã hội hóa” tuy đều chỉ là một quá trình chuyển đổi, nhưng sự chuyển đổi, nhưng sự chuyển đổi trong xã hội hóa con người nhấn mạnh tính “giai đoạn của chuyển đổi”, còn sự chuyển trong XHH TDTT lại nhấn mạnh về tính “Mức độ của chuyển đổi” [13], [17]. Xã hội hóa TDTT là chủ trương lớn, sáng tạo của Đảng và Nhà nước ta được thể hiện trong các kỳ Đại hội toàn quốc của Đảng. Những căn cứ đề xuất của chủ trương XHH TDTT và các khái niệm về xã hội hóa thể dục thể thao ở nước ta đã được nêu tại nhiều văn kiện, tài liệu của của Đảng và Nhà nước [9], [10], [12]. Căn cứ vào các văn bản của Đảng và Nhà nước ta, xã hội hóa các lĩnh vực xã hội đượ c coi là hệ thống giải pháp xã hội bao gồm hai vế: Thứ nhất, vận động và tổ chức tham gia rộng rãi của nhân dân, của 9 toàn xã hội; Thứ hai; từng bước nâng cao mức hưởng thụ về vật chất và tinh thần của nhân dân.
Phát triển tư tưởng xã hội hóa vào lĩnh vực TDTT, ta có thể coi XHH TDTT là hệ thống giải pháp xã hội để vận động, tổ chức nhân dân và xã hội tham gia phát triển sự nghiệp TDTT, đồng thời nâng cao mức hưởng thụ TDTT cho nhân dân và xã hội [13], [63]. Với tư tưởng này, XHH TDTT cần được tiếp cận khi huy động các nguồn lực xã hội dạy bơi chống đuối nước cho học sinh tiểu học tỉnh Hải Dương. Khái quát những chủ trương của Đảng và Nhà nước về giáo dục thể chất và thể thao trường học Mục tiêu GDTC quốc dân, được xây dựng trên cơ sở nhu cầu của công cuộc xây dựng CNXH và gắn liền với mục tiêu của giáo dục chung của Đảng và Nhà nước ta. Bởi vì GDTC là một hình thức giáo dục chuyên biệt, cùng với các hoạt động giáo dục khác: Đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ, lao động kĩ thuật, góp phần giáo dục thế hệ trẻ phát triển toàn diện.
Mục tiêu GDTC ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là: Khôi phục và tăng cường sức khỏe cho nhân dân, góp phần xây dựng con người phát triển toàn diện, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa [4], [7]. Có thể khẳng định, xuất phát từ tầm quan trọng của GDTC và thể thao trường học, trong từng thời kỳ, Đảng và Nhà nước ta đều luôn quan tâm, đề ra đường lối, chủ trương, chính sách phù hợp để định hướng, điều chỉnh, thúc đẩy hoạt động TDTT phát triển.