Nghiên cứu giải pháp phát triển bơi lội chống đuối nước cho học sinh tiểu học tại Hải Dương

Luận án tiến sĩ nghiên cứu nghiên cứu giải pháp phát triển bơi lội chống đuối nước cho học sinh tiểu học tại các trường có bể, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng

Trường đại học

Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo

Chuyên ngành

Giáo Dục Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2015-2016

307
3
0

Phí lưu trữ

75 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Một số khái niệm

1.2. Phương pháp, giải pháp, biện pháp

1.3. Bơi chống đuối nước

1.4. Xã hội hóa thể dục thể thao

Tóm tắt

I. Giới thiệu về bơi lội cho trẻ em

Bơi lội là một kỹ năng sống cần thiết cho trẻ em, đặc biệt trong bối cảnh tình trạng đuối nước đang gia tăng. Bơi lội cho trẻ em không chỉ giúp các em phát triển thể chất mà còn trang bị cho các em những kỹ năng cần thiết để bảo vệ bản thân. Theo thống kê, tỷ lệ đuối nước ở trẻ em tại Việt Nam cao hơn nhiều so với các nước phát triển, điều này cho thấy sự cần thiết của việc phát triển kỹ năng bơi cho học sinh tiểu học. Việc dạy bơi không chỉ là một hoạt động thể thao mà còn là một phần quan trọng trong giáo dục thể chất, giúp trẻ em nâng cao sức khỏe và giảm thiểu nguy cơ tai nạn đuối nước.

1.1. Lợi ích của bơi lội

Bơi lội mang lại nhiều lợi ích cho trẻ em, bao gồm việc cải thiện sức khỏe tim mạch, tăng cường sức mạnh cơ bắp và phát triển sự linh hoạt. Ngoài ra, bơi lội còn giúp trẻ em rèn luyện tính kiên nhẫn và sự tự tin. Theo nghiên cứu, trẻ em biết bơi có khả năng tự bảo vệ mình tốt hơn trong các tình huống nguy hiểm. Hơn nữa, việc tham gia các hoạt động bơi lội còn giúp trẻ em phát triển kỹ năng xã hội thông qua việc giao lưu, kết bạn và làm việc nhóm trong các lớp học bơi. Điều này không chỉ giúp trẻ em phát triển toàn diện mà còn tạo ra một môi trường học tập tích cực.

II. Thực trạng dạy bơi tại Hải Dương

Tại tỉnh Hải Dương, công tác dạy bơi cho học sinh tiểu học đã được triển khai nhưng vẫn còn nhiều hạn chế. Mặc dù đã có 37 trường tiểu học được xây dựng bể bơi, nhưng số lượng học sinh biết bơi vẫn còn thấp. Theo số liệu thống kê, chỉ có khoảng 11% học sinh tiểu học biết bơi, cho thấy sự cần thiết phải có các giải pháp giáo dục hiệu quả hơn. Các nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này bao gồm thiếu cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên chưa đủ năng lực và sự phối hợp chưa chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường trong việc giáo dục kỹ năng bơi cho trẻ em.

2.1. Những khó khăn trong việc dạy bơi

Một trong những khó khăn lớn nhất trong việc dạy bơi cho học sinh tiểu học tại Hải Dương là thiếu hụt nguồn lực và cơ sở vật chất. Nhiều bể bơi không được sử dụng hiệu quả, dẫn đến lãng phí tài nguyên. Hơn nữa, đội ngũ giáo viên dạy bơi còn thiếu kinh nghiệm và chưa được đào tạo bài bản về phương pháp dạy bơi an toàn. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dạy bơi và sự an toàn của học sinh. Để khắc phục tình trạng này, cần có sự đầu tư mạnh mẽ từ chính quyền địa phương và sự tham gia tích cực của cộng đồng trong việc xây dựng và duy trì các bể bơi cũng như đào tạo giáo viên.

III. Giải pháp phát triển bơi lội cho học sinh tiểu học

Để nâng cao hiệu quả dạy bơi cho học sinh tiểu học tại Hải Dương, cần triển khai các giải pháp giáo dục đồng bộ và khả thi. Một trong những giải pháp quan trọng là xây dựng chương trình dạy bơi phù hợp với lứa tuổi và khả năng của học sinh. Chương trình này cần bao gồm các nội dung về học bơi an toàn, kỹ năng cứu đuối và các biện pháp phòng ngừa tai nạn đuối nước. Bên cạnh đó, cần tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của phụ huynh về tầm quan trọng của việc dạy bơi cho trẻ em.

3.1. Đề xuất chương trình dạy bơi

Chương trình dạy bơi cần được thiết kế linh hoạt, bao gồm các tiết học lý thuyết và thực hành. Các tiết học lý thuyết nên tập trung vào việc giáo dục an toàn dưới nước, trong khi các tiết thực hành cần chú trọng vào việc rèn luyện kỹ năng bơi cơ bản. Ngoài ra, cần tổ chức các hoạt động ngoại khóa liên quan đến bơi lội để khuyến khích học sinh tham gia. Việc kết hợp giữa lý thuyết và thực hành sẽ giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cách hiệu quả hơn và tạo ra môi trường học tập tích cực.

06/02/2025
Luận án tiến sĩ giáo dục học nghiên cứu giải pháp phát triển bơi lội chống đuối nước cho học sinh tiểu học tại các trường có bể bơi của tỉnh hải dương

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm 1. Mục tiêu: Mục tiêu là những dự báo về kết quả hoạt động, nó phản ánh nhu cầu khách quan của xã hội. Mục đích phản ánh bằng kết quả cuối cùng của hoạt động sau một quá trình; mục tiêu phản ánh kết quả hoạt động ở từng giai đoạn của một quá trình.

Thông qua kết quả đạt được ở các giai đoạn (thực hiện mục tiêu), mà ta có được kết quả cuối cùng của hoạt động (thực hiện mục đích). Mục đích của giáo dục nói chung, GDTC nói riêng là kết quả hoạt động giáo dục (hay GDTC), cần phải đạt được để đáp ứng các yêu cầu của xã hội và nhu cầu của con người [28], [84]. Mục tiêu GDTC quốc dân, được xây dựng trên cơ sở nhu cầu của công cuộc xây dựng CNXH và gắn liền với mục tiêu của giáo dục chung của Đảng và Nhà nước ta. Bởi vì GDTC là một hình thức giáo dục chuyên biệt, cùng với các hoạt động giáo dục khác: Đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ, lao động kĩ thuật, góp phần giáo dục thế hệ trẻ phát triển toàn diện [21], [22], [23].

5 Mục tiêu TDTT ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là: Khôi phục và tăng cường sức khỏe cho nhân dân, góp phần xây dựng con người phát triển toàn diện, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa [3], [43], [45],. Mục tiêu của GDTC cho học sinh phổ thông là: Góp phần bảo vệ, tăng cường sức khỏe, phát triển thể lực toàn diện cho các em, cung cấp những kiến thức cơ bản về vệ sinh cơ thể, vệ sinh môi trường…, hình thành thói quen tập luyện TDTT, giữ gìn vệ sinh và biết thực hiện một số động tác cơ bản trong TDTT (các bài tập thực dụng)… tạo nên sự phát triển tự nhiên của trẻ, gây cho trẻ một cuộc sống vui tươi lành mạnh [44], [45]. Mục tiêu của công tác phòng chống đuối nước trẻ em là: kiểm soát tình hình tai nạn, thương tích trẻ em, đặc biệt là tai nạn đuối nước nhằm đảm bảo an toàn cho trẻ em, vì hạnh phúc của gia đình và xã hội [6], [53]. Phương pháp, giải pháp, biện pháp: Tổng hợp các tài liệu về quản lý học, nhiều học giả đề cập một số khái niệm liên quan, đó là phương pháp, giải pháp, biện pháp giải quyết những chính sách, đề án, kế hoạch để đạt mục tiêu đã đặt ra.

Phương pháp quản lý là cách thức, con đường giải quyết mục tiêu để đảm bảo việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của một tổ chức nào đó trong quá trình quản lý một cách khoa học, khách quan phù hợp lý luận và thực tiễn. Giải pháp là cách giải quyết một vấn đề khó khăn gặp phải trong quá trình làm việc, giải pháp là tổng thể các biện pháp hợp thành. Như vậy, giải pháp có thể bao gồm rất nhiều biện pháp cụ thể. Trong các tài liệu quản lý xã hội, quản lý kinh tế, các học giả đề cập các nhóm giải pháp theo chức năng nhiệm vụ như: 6 Giải pháp giáo dục; trong đó có những biện pháp tuyên truyền bằng tài liệu, sách báo một cách thường xuyên, tuyên dương khen thưởng; Giải pháp hành chính; trong đó có các biện pháp về bộ máy, nhân lực, tổ chức điều hành cụ thể; Giải pháp kinh tế; trong đó có các biện pháp vật chất, tiền tệ, khen thưởng; Giải pháp động viên tinh thần và vật chất.

Giải pháp được định nghĩa trong quản lý xã hội học đã đề cập đến khái niệm giải pháp quản lý xã hội: Giải pháp quản lý xã hội là phương tiện, hành vi thực hiện sự tác động bằng quản lý; phương thức biểu thị các mối quan hệ quản lý [16], [18], [19], [20]. Trên cơ sở khái niệm đã nêu có thể cụ thể hóa các giải pháp như sau: Giải pháp những phương tiện, hành vi, công cụ được tác động sử dụng thông qua quản lý theo một lộ trình quy định. Các phương tiện, hành vi, công cụ này thể hiện ở hình thức là các chương trình và dự án được thực hiện trong một phạm vi lộ trình xác định để đạt được mục tiêu quản lý. Trong các tài liệu về quản lý còn đề cập mối quan hệ giữa phương pháp quản lý gồm các giải pháp, biện pháp sử dụng trong quản lý như: Giải pháp là cách thức thực hiện các phương pháp.

Giải pháp là cụ thể hóa các phương pháp hay ứng dụng các phương pháp vào thực tiễn quản lý. Trong một phương pháp có nhiều giải pháp cụ thể. Mặt khác, một giải pháp cụ thể có thể là thành phần của nhiều phương pháp khác nhau. Giữa phương pháp và giải pháp có sự tương đồng nhưng không phải đồng nghĩa với nhau.

Một nhóm giải pháp cụ thể tổng hợp thành phương pháp quản lý. Từ các phương pháp quản lý hình thành các nhóm giải pháp (mỗi phương pháp có một nhóm giải pháp), trong mỗi giải pháp có các biện pháp cụ thể [13], [28]. 7 Biện pháp là cách thức, công cụ thực hiện giải pháp. Trong quá trình quản lý để thực hiện một phương pháp quản lý cần áp dụng một nhóm giải pháp, trong mỗi giải pháp có những biện pháp cụ thể cần triển khai.

Trong một giải pháp lớn có cả hệ thống giải pháp thành phần. Hệ thống giải pháp thành phần tác động để hình thành và phát triển thành giải pháp lớn [13], [65], [70]. Bơi chống đuối nước: Biết bơi vẫn có thể bị đuối nước. Để giảm thiểu tai nạn đuối nước cho trẻ em, việc đầu tiên và quan trọng nhất là dạy trẻ bơi và các kỹ năng đảm bảo an toàn dưới nước.

Đuối nước là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong do tai nạn, thương tích ở trẻ em. Theo thống kê, trên thực tế, có nhiều trường hợp trẻ em biết bơi vẫn xảy ra tai nạn đuối nước do không có kỹ năng cứu đuối. Mặt khác nhiều trẻ biết bơi nhưng lại bị đuối nước do không biết cách cứu bạn, thiếu các kỹ năng, phương tiện để phòng tránh cũng dễ bị đuối nước. Do đó, có thể thấy biết bơi là chưa đủ, quan trọng hơn, trẻ phải có kỹ năng đảm bảo an toàn dưới nước.

Dù điều kiện tự nhiên có nhiều sông, suối, hồ, ao, kênh rạch, là môi trường không an toàn cho trẻ, song nhiều địa phương vẫn chưa coi trọng việc phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em. Bên cạnh đó, nhiều gia đình vẫn chưa nhận thức đầy đủ, còn lơ là, chủ quan, chưa giám sát chặt chẽ con trẻ. Để tránh những tai nạn đáng tiếc có thể xảy ra và hạn chế thấp nhất tử vong do đuối nước, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường. Đặc biệt, các bậc phụ huynh phải nâng cao trách nhiệm quản lý, không để con trẻ tự tắm sông, tắm biển mà không có người lớn đi cùng giám sát [6], [8], [11].

Thực trạng đó đặt ra yêu cầu cấp thiết là cần phải có sự quan tâm chỉ đạo của các ngành, các cấp nhằm giáo dục cho trẻ em biết bơi, biết 8 cách phòng tránh tai nạn đuối nước, giảm thiểu đến mức thấp nhất tỉ lệ trẻ em bị đuối nước. Xã hội hoá thể dục thể thao: Xã hội hóa, với góc độ của xã hội học là một nền tảng quan trọng trong loài người. Không như các chủng loại khác với định nghĩa theo sinh học, con người cần phải hiểu biết xã hội để có khả năng tồn tại [13], [31]. XHH TDTT là chỉ quá trình chuyển đổi trong lĩnh vực tham gia, quản lý và hoạt động thể dục thể thao: từ phương thức Nhà nước hoàn toàn làm thể dục thể thao; theo cơ chế kế hoạch tập trung sang phương thức Nhà nước kết hợp với xã hội cùng làm thể dục thể thao trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tiến tới phương thức xã hội làm thể dục thể thao là chính, Nhà nước chỉ đóng vai trò định hướng chỉ đạo, kiểm soát, ban hành chính sách.

Thứ hai là, về mặt lý giải từ “hóa” trong cụm từ “xã hội hóa” tuy đều chỉ là một quá trình chuyển đổi, nhưng sự chuyển đổi, nhưng sự chuyển đổi trong xã hội hóa con người nhấn mạnh tính “giai đoạn của chuyển đổi”, còn sự chuyển trong XHH TDTT lại nhấn mạnh về tính “Mức độ của chuyển đổi” [13], [17]. Xã hội hóa TDTT là chủ trương lớn, sáng tạo của Đảng và Nhà nước ta được thể hiện trong các kỳ Đại hội toàn quốc của Đảng. Những căn cứ đề xuất của chủ trương XHH TDTT và các khái niệm về xã hội hóa thể dục thể thao ở nước ta đã được nêu tại nhiều văn kiện, tài liệu của của Đảng và Nhà nước [9], [10], [12]. Căn cứ vào các văn bản của Đảng và Nhà nước ta, xã hội hóa các lĩnh vực xã hội đượ c coi là hệ thống giải pháp xã hội bao gồm hai vế: Thứ nhất, vận động và tổ chức tham gia rộng rãi của nhân dân, của 9 toàn xã hội; Thứ hai; từng bước nâng cao mức hưởng thụ về vật chất và tinh thần của nhân dân.

Phát triển tư tưởng xã hội hóa vào lĩnh vực TDTT, ta có thể coi XHH TDTT là hệ thống giải pháp xã hội để vận động, tổ chức nhân dân và xã hội tham gia phát triển sự nghiệp TDTT, đồng thời nâng cao mức hưởng thụ TDTT cho nhân dân và xã hội [13], [63]. Với tư tưởng này, XHH TDTT cần được tiếp cận khi huy động các nguồn lực xã hội dạy bơi chống đuối nước cho học sinh tiểu học tỉnh Hải Dương. Khái quát những chủ trương của Đảng và Nhà nước về giáo dục thể chất và thể thao trường học Mục tiêu GDTC quốc dân, được xây dựng trên cơ sở nhu cầu của công cuộc xây dựng CNXH và gắn liền với mục tiêu của giáo dục chung của Đảng và Nhà nước ta. Bởi vì GDTC là một hình thức giáo dục chuyên biệt, cùng với các hoạt động giáo dục khác: Đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ, lao động kĩ thuật, góp phần giáo dục thế hệ trẻ phát triển toàn diện.

Mục tiêu GDTC ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là: Khôi phục và tăng cường sức khỏe cho nhân dân, góp phần xây dựng con người phát triển toàn diện, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa [4], [7]. Có thể khẳng định, xuất phát từ tầm quan trọng của GDTC và thể thao trường học, trong từng thời kỳ, Đảng và Nhà nước ta đều luôn quan tâm, đề ra đường lối, chủ trương, chính sách phù hợp để định hướng, điều chỉnh, thúc đẩy hoạt động TDTT phát triển.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Giải pháp phát triển bơi lội cho học sinh tiểu học tại Hải Dương" trình bày những phương pháp hiệu quả nhằm nâng cao kỹ năng bơi lội cho trẻ em trong độ tuổi tiểu học. Tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc dạy bơi không chỉ giúp trẻ phát triển thể chất mà còn nâng cao khả năng tự bảo vệ bản thân trong môi trường nước. Bài viết cung cấp các giải pháp cụ thể, từ việc tổ chức các lớp học bơi đến việc phối hợp với phụ huynh để khuyến khích trẻ tham gia.

Để mở rộng thêm kiến thức về các phương pháp giáo dục thể chất cho trẻ em, bạn có thể tham khảo bài viết Luận văn biện pháp nâng cao tính tích cực vận động trong giờ học thể dục cho trẻ 5 6 tuổi, nơi cung cấp những cách thức để khuyến khích trẻ vận động tích cực hơn trong giờ học. Ngoài ra, bài viết Luận án tiến sĩ xây dựng chương trình dạy bơi ban đầu cho trẻ em 7 8 tuổi các tỉnh miền bắc sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về chương trình dạy bơi cho trẻ em ở độ tuổi lớn hơn. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ biện pháp nâng cao lượng vận động trong giờ thể dục cho trẻ 5 6 tuổi tại trường mầm non 19 5 thành phố hồ chí minh, để có cái nhìn tổng quát hơn về việc nâng cao hoạt động thể chất cho trẻ nhỏ. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về giáo dục thể chất và bơi lội cho trẻ em.