phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng : Chƣơng 1 : Cơ sở lý luận và thực tiễn Chƣơng 2 : Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng tự học các bài toán trong chủ đề số phức cho học sinh lớp 12. Chƣơng 3 : Thực nghiệm sƣ phạm. Page 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SƠ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Kỹ năng và kỹ năng tự học 1.
Khái niệm về kỹ năng Khái niệm “kỹ năng” đƣợc sử dụng nhiều trong môn toán cũng nhƣ trong đời sống. Vậy kỹ năng là gì? Theo [16] “Kỹ năng là năng lực sử dụng các dữ kiện, các tri thức hay các khái niệm đã có, năng lực vận dụng chúng để phát hiện những thuộc tính, bản chất của các sự vật và giải quyết thành công nhiệm vụ lí luận hay thực hành xác định”. Theo [16] “Kỹ năng là khả năng vận dụng tri thức khoa học vào thực tiễn”. Trong đó khả năng đƣợc hiểu là sức đã có về mặt nào đó để có thể làm tốt việc gì.
Theo [18] “Kỹ năng là một nghệ thuật, là khả năng vận dụng những hiểu biết có được ở bạn để đạt được mục đích của mình, kỹ năng còn có thể đặc trưng như toàn bộ các thói quen nhất định, kỹ năng là khả năng làm việc có phương pháp”. Theo [17] “Trong toán học kỹ năng là khả năng giải bài toán, thực hiện các chứng minh cũng như phân tích có phê phán các lời giải và chứng minh nhận được”. Từ những quan điểm trên, tôi cho rằng: Kỹ năng là khả năng của con ngƣời thực hiện có hiệu quả một hành động nào đó để đạt đƣợc mục đích xác định bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức hành động phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và phƣơng tiện nhất định; Kỹ năng vừa thể hiện cách thức hành động vừa thể hiện năng lực hành động. Sự hình thành kỹ năng Theo từ điển giáo dục học, để hình thành đƣợc kỹ năng trƣớc hết cần có kiến thức làm cơ sở cho việc hiểu biết, luyện tập từng thao tác riêng rẽ cho đến khi thực hiện đƣợc hành động theo đúng mục đích, yêu cầu… Do kiến thức là cơ sở của kỹ năng cho nên tùy theo kiến thức học sinh cần nắm đƣợc mà có những yêu cầu rèn luyện kỹ năng tƣơng ứng.
Kỹ năng chỉ đƣợc hình thành thông qua quá trình tƣ duy để giải quyết các nhiệm vụ đặt ra. Khi tiến hành tƣ duy trên các sự vật thì chủ thể thƣờng phải biến Page 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đổi, phân tích đối tƣợng để tách ra các khía cạnh và những thuộc tính mới. Quá trình tƣ duy diễn ra nhờ các thao tác phân tích, tổng hợp trừu tƣợng hóa và khái quát hóa cho tới khi hình thành đƣợc mô hình về một mặt nào đó của đối tƣợng mang ý nghĩa bản chất đối với việc giải bài toán đã cho. Con đƣờng hình thành kỹ năng rất phong phú và nó phụ thuộc vào các tham số nhƣ: Kiến thức xác định kỹ năng, yêu cầu rèn luyện kỹ năng, mức độ tích cực, chủ động của học sinh.
Có hai con đƣờng để hình thành kỹ năng cho học sinh dó là: - Truyền thụ cho học sinh những tri thức cần thiết, rồi sau đó đề ra cho học sinh những bài toán vận dụng những tri thức đó. Từ đó học sinh sẽ phải tìm tòi cách giải, bằng những con đƣờng thử nghiệm đúng đắn hoặc sai lầm (Thử các phƣơng pháp rồi tìm ra phƣơng pháp tối ƣu), qua đó phát hiện ra các mốc định hƣớng tƣơng ứng, những phƣơng thức cải biến thông tin, những thủ thuật hoạt động. - Dạy cho học sinh nhận biết những dấu hiệu mà từ đó có thể xác định đƣợc đƣờng lối giải cho một dạng bài toán và vận dụng đƣờng lối giải đó vào bài toán cụ thể. Thực chất của sự hình thành kỹ năng là tạo dựng cho học sinh khả năng nắm vững một hệ thống phức tạp các thao tác nhằm làm biến đổi và sáng tỏ các thông tin chứa đựng trong bài toán.
Khi hình thành kỹ năng cho học sinh cần tiến hành: - Giúp học sinh biết cách tìm tòi để nhận ra các yếu tố đã cho, yếu tố phải tìm và mối quan hệ giữa chúng. - Giúp cho học sinh hình thành một mô hình khái quát để giải các bài toán cùng loại. - Xác lập đƣợc mối liên quan giữa bài toán mô hình khái quát và kiến thức tƣơng ứng. Các yếu tố ảnh hƣởng đến sự hình thành kỹ năng: Sự dễ dàng hay khó khăn trong sự vận dụng kiến thức phụ thuộc ở khả năng nhận dạng kiểu nhiệm vụ, dạng bài tập tức là tìm kiếm phát hiện những thuộc tính và quan hệ vốn có trong nhiệm vụ hay bài tập để thực hiện một mục đích nhất định.
Sự hình thành kỹ năng bị ảnh hƣởng bởi các yếu tố sau đây: - Nội dung của bài tập, nhiệm vụ đặt ra đƣợc trừu tƣợng hóa hay bị che phủ Page 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bởi những yếu tố phụ làm chênh lệch hƣớng tƣ duy có ảnh hƣởng tới sự hình thành kỹ năng. - Tâm thế và thói quen cũng ảnh hƣởng tới sự hình thành kỹ năng. Vì thế tạo tâm thế thuận lợi trong học tập sẽ giúp học sinh trong việc hình thành kỹ năng. - Có khả năng khái quát hóa đối tƣợng một cách toàn thể.
Điều kiện để có kỹ năng Muốn có kỹ năng về hành động nào đó chủ thể cần phải: - Có kiến thức để hiểu đƣợc mục đích của hành động, biết đƣợc điều kiện, cách thức để đến kết quả, để thực hiện hành động. - Tiến hành hành động đối với yêu cầu đã đề ra. - Đạt đƣợc kết quả phù hợp với mục đích đề ra. - Có thể hành động có hiệu quả trong những điều kiện khác nhau.
- Có thể qua bắt chƣớc, rèn luyện để hình thành kỹ năng nhƣng phải trải qua thời gian đủ dài. Khái niệm tự học Trong lịch sử giáo dục, vấn đề tự học đƣợc quan tâm từ rất sớm, đƣợc đề cập và nhìn nhận theo nhiều cách tiếp cận khác nhau. Tự học (self-learning) là quá trình ngƣời học nỗ lực chiếm lĩnh tri thức bằng hành động của chính mình, hƣớng tới mục đích nhất định. Theo từ điển : “Tự học là quá trình chủ thể nhận thức tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức và phát triển kĩ năng thực hành, không có sự hƣớng dẫn trực tiếp của giáo viên và sự quản lí trực tiếp của cơ sở giáo dục đào tạo”.
Theo tác giả Hồ Chí Minh: tự học là học một cách tự động, tức là: học tập một cách hoàn toàn tự giác, tự chủ, không đợi ai nhắc nhở, không chờ ai giao nhiệm vụ mà tự mình chủ động vạch kế hoạch một cách tự giác, tự mình làm chủ Bƣớc gian để học và tự mình kiểm tra, đánh giá việc học của mình. Theo Nguyễn Cảnh Toàn [13]: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ… để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình”. Page 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo Nguyễn Thị Tính: “Tự học là một quá trình, trong đó dƣới vai trò chủ đạo của giáo viên, ngƣời học tự mình chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo thông qua các hoạt động trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp, phán đoán.) và cả các hoạt động thực hành (khi sử dụng các thiết bị đồ dùng học tập). Tự học gắn liền với động cơ tình cảm và ý chí của ngƣời học để vƣợt qua chƣớng ngại vật hay vật cản trong học tập nhằm tích lũy kiến thức cho bản thân ngƣời học từ kho tàng tri thức của nhân loại, biến kinh nghiệm này thành kinh nghiệm và vốn sống của bản thân ngƣời học.
Nhƣ vậy, dù có nhiều quan niệm khác nhau về tự học nhƣng xét về bản chất thì tự học chính là sự tự lực của ngƣời học trong việc tìm kiếm tri thức cho bản thân, đó là quá trình tự tổ chức, tự điều chỉnh, tự kiểm tra, tự đánh giá quá trình học tập của bản thân. Trong trƣờng phổ thông, tự học đƣợc hiểu là quá trình chủ động, tự giác của ngƣời học nhằm nắm bắt các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo dƣới sự hƣớng dẫn, hỗ trợ của giáo viên. Các mức độ tự học Có nhiều quan điểm khác nhau khi phân chia các hình thức tự học. Tuy nhiên nếu căn cứ vào sự tác động của giáo viên thì có thể chia thành ba mức độ nhƣ sau: Mức độ một (tự học trên lớp): hoạt động tự học của học sinh diễn ra dƣới sự điều khiển của giáo viên với sự hỗ trợ của các phƣơng tiện giảng dạy.
Trong hình thức này việc tự học của học sinh chịu sự định hƣớng, điều khiển của giáo viên nhằm đạt đƣợc mục tiêu của tiết học đã xác định trƣớc. Khi đó việc tự học của học sinh có đủ các yếu tố: giáo viên, bạn, Sách giáo khoa, tài liệu tham khảo,. Mức độ hai (Tự học ngoài giờ trên lớp): hoạt động tự học của học sinh diễn ra ở ngoài lớp học nhằm đáp ứng yêu cầu các môn học đã đƣợc học trong nhà trƣờng. Ở hình thức này, việc tự học của học sinh diễn ra không có giáo viên bên cạnh, ngƣời học chỉ có tài liệu liên quan đến môn học và các hƣớng dẫn, yêu cầu của giáo viên đối với các môn học.
Trong trƣờng hợp này học sinh phải tự tổ chức việc học tập của bản thân ở nhà nhằm tiếp thu kiến thức, ôn tập, hệ thống hóa, tổng quát hóa thông qua các hình thức nhƣ làm các bài tập, phát triển kĩ năng, kỹ xảo. thực hiện các yêu cầu của giáo viên để đáp ứng yêu cầu của việc lĩnh hội tri thức các môn học. Page 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Mức độ ba (tự học không có sự điều khiển trực tiếp hay giản tiếp của giáo viên): hoạt động tự học diễn ra nhằm đáp ứng nhu cầu hiểu biết riêng, bổ sung và mở rộng, nâng cao các kiến thức trong khung chƣơng trình đào tạo của nhà trƣờng nhằm mở mang hiểu biết của bản thân. Ở hình thức này, ngƣời học hoàn toàn chủ động lựa chọn kiến thức cần bổ sung, cần mở rộng thông qua tự lựa chọn tài liệu.
Ngƣời học tự đọc tài liệu để hiểu biết và tiếp thu các tri thức trong tài liệu để hiểu biết, điều chỉnh và sắp xếp, bổ sung vào hệ thống tri thức bản thân đã có.