Chương 1, Cơ sở lí luận và thực tiễn của dé tài. Các biện pháp rèn luyện kĩ năng tư duy cho HS trong dạy học phần Cam ứng ở thực vật, Sinh học 11, THPT. Thực nghiệm sư phạm. CƠ SỞ LÍ LUẬN VA THỰC TIEN CUA DE TÀI 1.
Lịch sử nghiên cứu 1. Trên thế giới Từ thời xa xưa, Không Tử (551 - 479 TCN) - một nhà Triết học lỗi lạc - đã cho rằng: "Học mà chăng chịu suy nghĩ thì chăng được thông minh. Suy nghĩ mà chăng chịu học, thì lòng dạ chăng yên én” (Học nhi bất tư, tắc võng, tư nhì bat hoc, tắc đãi). Tức theo Không Tử, học tập là phải tư duy, suy nghĩ, từ cái đã biết để suy ra cái chưa biết (Hà, 2021).
Đến thé ky XVII, nhà giáo dục Tiệp Khắc A. Komensky đã nhắn mạnh rằng mục đích của ngành giáo dục chính là đánh thức năng lực nhạy cảm, phán đoán đúng đăn, phát triển nhân cach,. của người học. Dé đạt được mục dich đó, ngành giáo dục cần tìm ra những phương pháp giáo dục cho phép GV giảng dạy ít hơn, nhưng HS thì phải học nhiều hơn.
John Dewey - người đặt nền móng cho triết lí giáo dục của Mỹ vào thể kỷ 20 - cho rằng giáo dục phải dựa trên nền tảng kinh nghiệm của người học, chứ không đơn thuần là sự truyền day tri thức trong quá khứ cho thé hệ mới (Linh, 2022). Tại Liên Xô cũ, Kozlova T.A đã hoàn thành công trình nghiên cứu “Cac biện pháp sư phạm dé dạy HS cuối cấp về mỗi quan hệ giữa sự kiện và lí thuyết" vào năm 1978.P và công trình “Céng tác độc lập của HS vẻ sinh học đại cương”. Các nhà tâm lí học và lí luận dạy học trên thế giới như: Xavier Roegiers, F. cũng dành một sự quan tâm đặc biệt đến việc rèn luyện kĩ năng học tập cho HS (Hương, 2022).
Tại Việt Nam Bắt đầu từ những năm 70 — 80 của thế ky XX đến những năm gan đây, việc đôi mới phương pháp day học nhằm phát huy tôi đa tính tích cực trong nhận thức của HS đã và đang được nhà nước đặc biệt quan tâm. Vào năm 1980, trong tập 1 của cuốn: “Lí luận dạy HS học”, nhóm tác giả Nguyễn Quang Vinh, Trần Doãn Bách, Trần Bá Hoành đã khái quát được cơ sở lí luận của việc đôi mới các phương pháp giảng dạy môn Sinh học(Vinh và c. Năm 1989, tác giả Nguyễn Ngọc Quang đã thành công khái quát hóa được quá trình dạy học và nêu lên được những lí luận cơ bản vẻ dao tạo HS theo hướng rèn luyện kĩ năng học tập (Quang, 1989). Năm 2006, Tran Bá Hoành với cuén: “Đôi mới phương pháp day học, chương trình và sách giáo khoa".
Ong cho rằng việc dạy học lấy HS làm trung tâm, các phương pháp dạy học tích cực, phát trién kĩ năng học tập. trí sáng tao cho HS. Năm 2014, dé tai: “Thiết kế bài tập tình huéng dé rèn luyện ki năng phân tích, tông hợp cho HS trong dạy học chương 6 - Ngành động vật có xương sống, Sinh học 7" đã được tác giả Đoàn Thị Diệp công bố (Diệp, 2014). Cùng năm, tác giả Nguyễn Văn Hòa cũng hoàn tat đề tài: “Str dụng bài tập tình huống dé rèn luyện cho HS kĩ năng suy luận trong day học chương chuyền hóa vật chất va năng lượng, Sinh học 11” (Hòa.
Năm 2016, tác gia Lê Thị Thủy đã công bố nghiên cứu: “Sử dụng phương pháp lập sơ đô tư duy nhằm nâng cao hiệu qua day học chương sinh sản cho HS lớp 1 - Cơ ban” (Thủy, 2016). Năm 2018, đưới sự hướng dẫn cúa PGS. Phan Đức Huy, tác giả Danh Thị Ngọc Quí đã hoàn thành luận văn thạc sĩ ngành Khoa học giáo dục với dé tài: “Sử dụng bài tập tình huồng dé rèn luyện cho HS kĩ năng tư duy trong day học phan sinh thái học, Sinh học 12” (Qui, 2018). Năm 2022, tác gia Lương Thị Lan Hương đã hoàn thành nghiên cứu dé tài: “Rén luyện cho HS kĩ năng suy luận trong dạy học phần Sinh học tế bào cấp trung học phô thông”.
Một số quan điểm về kĩ năng Mỗi tác giả khi nghiên cứu về kĩ năng sẽ đưa ra những nhận định và định nghĩa khác nhau. Vì thé, tinh đến nay đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm ki năng. Theo từ điển Hán - Việt, từ "kĩ" có nghĩa là sự khéo léo, còn từ “năng” là có thé. Còn theo từ điên Oxford, kĩ năng dé làm tốt một công việc nào đó thường có được qua đào tạo hoặc kinh nghiệm (the ability to do something well, usually gained through training or experience) (Hùng, 2019).
Theo quan điểm của Tran Ba Hoành: “Ki nang là khả nang vận dụng những tri thức thu được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tiễn" (Huy, 2012). Đối với tác giả Thái Duy Tuyên: “Ki năng chính là sự ứng dụng kiến thức trong hoạt động” (Chi, 2021). Còn theo Nguyễn Đình Chỉnh: “Ki năng là một loại thao tác đơn giản hoặc phức tạp mang tính nhận thức hoặc mang tính hoạt động chân tay, nhằm thu được một kết qua” (Huy, 2012).Leviton - nhà tâm lí học người Liên Xô quan niệm rằng “ Kĩ năng la sự thực hiện có kết qua một động tác nào đỏ hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức đúng đắn. có tính đến những điều kiện nhất định" (Kha Vy, không ngày).
Ngoài ra, khi nhắc đến kĩ năng phải kẻ đến hai tác giả K. Golubev, hai ông quan niệm ki năng được hình thành thông qua con đường luyện tap dé con người có kha năng thực hiện hành động dù đang ở trong những điều kiện quen thuộc hay có sự thay đôi (Hương, 2022). Kĩ năng học tập Học tập là một loại hình hoạt động cơ bản nhưng phức tạp của con người. Nếu muốn quá trình học tập điển ra thuận lợi và hiệu quả, con người cần phải sở hữu một hệ thông các kĩ năng chuyên biệt được gọi là kĩ năng học tập.
Thông qua quá trình học tập và thực hành. kĩ năng học tập sẽ được thê hiện rõ ở việc thực hiện các hành động một cách có tô chức và có sự phối hợp rõ ràng và nhịp nhàng của nhiều hoạt động với nhau. Các nhà tâm lí học cho rang kĩ nang học tập 10 chính là kha năng mà người học có thé thực hiện trong quá trình tiếp thu tri thức và có kết quả học tập phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh nhất định. Kĩ năng học tập chung của HS cấp THPT có thé được hệ thong hóa như sau: 1- Cac ki năng hoc tập phục vụ chức năng nhận thức liên quan đến việc thu thập.
xử lí, sử dụng thông tin: Ki năng làm việc với sách giáo khoa, kĩ năng quan sát, kĩ năng tiền hành thí nghiệm, kĩ năng phân tích - tông hợp, kĩ năng so sánh, kĩ năng khái quát hod, kĩ nang suy luận. ki nang áp dụng kiến thức đã học. 2- Các kĩ năng học tập phục vụ chức năng tô chức, tự điều chỉnh quá trình học tập liên quan đến việc quản lí phương tiện học tap, thời gian, sự hỗ trợ từ bên ngoài và chất lượng: Kĩ năng tự kiểm tra, tự đánh giá, kĩ năng tự điêu chỉnh. 3- Các kĩ năng phục vụ chức năng tương tác trong học tập hợp tác: Kĩ năng học nhóm.
Kĩ năng tu duy 1. Khái niệm ki năng tư diy Theo từ điển Tiếng Việt Hoàng Phê: Tư duy là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những hình thức như biéu tượng, khái niệm, phán đoán, suy lí (Đông, 2003). Theo quan niệm triết học: Tư duy, sản phâm cao nhất của cái vật chất được tỏ chức một cách đặc biệt là bộ não, là quá trình phản ánh tích cực thế giới khách quan trong các khái niệm, phán đoán, lí luận. Tư duy xuất hiện trong quá trình hoạt động sản xuất xã hội của con người và bảo đảm phản ánh thực tại một cách gián tiếp, phát biện những mỗi liên hệ hợp quy luật của thực tại.
Tiêu biểu cho tư duy 1a những quá trình như trừu tượng hoá, phân tích và tông hợp. việc nêu lên những van đẻ nhất định và tìm cách giải quyết chúng, việc đẻ xuất những giả thuyết, những ý niệm. Khả năng phản ánh thực tại một cách gián tiếp của tư duy được biéu hiện ở kha năng suy li, kết luận logic, chứng minh của con người (Viện triết học Liên Xô, 1976). Dưới góc độ sinh lí học, tư duy được xem là một hình thức hoạt động của hệ thần kinh, được thé hiện thông qua việc tạo ra các liên kết giữa những phan tử đã ghi nhớ dé chọn lọc và kích thích chúng hoạt động, nhằm nhận thức về thé giới và định H hướng hành động.
Dưới góc độ tâm lí học, tư duy được xem như một “quá trình phản ánh những thuộc tính. bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật và hiện tượng trong hiện thực khách quan"(Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội. Đặc trưng cơ bản của tư duy Tư đuy có những đặc trưng cơ bán sau: tính có van đẻ, tính gián tiếp, tinh trừu tượng và tính khái quát hóa, tư duy gan liền với ngôn ngữ, tư duy gắn liền với nhận thức cảm tính. Tính có van đề của tư duy: Khi con người gặp những tình huỗng mà những hiểu biết và những kinh nghiệm cũ không đủ đẻ giải quyết - tức tình huống có van dé - con người sẽ có gắng dé vượt qua những phạm vi hiéu biết cũ dé tới được phạm vi hiểu biết mới bằng cách tư duy.
Tình gián tiếp của tư duy: Khi tư duy, con người sẽ dùng ngôn ngữ đẻ thẻ hiện những điều mà não bộ đang suy nghĩ và khi tư duy, con người dùng nhiều công cụ khác nhau đẻ nhận thức sự vật, hiện tượng mà không can thông qua tri giác trực tiếp. Tình trừu tượng và khát quát của te duy: Tư duy có kha nang phan ánh những thuộc tính chung, những môi quan hệ và sự liên hệ của hàng loạt các sự vật, hiện tượng khác nhau. Tu duy gắn liên với ngôn ngữ: Moi quan hệ giữa tư duy và ngôn ngữ là mối quan hệ biện chứng, sự điễn biến của quá trình tư duy sẽ có sự tham gia của hệ thông ngôn ngữ thứ hai (ngôn ngữ). cudi cùng sản phẩm của quá trình tư duy sẽ được diễn đạt lại bằng ngôn ngữ.