Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC RÈN LUYỆN KỸ NĂNG THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG TÌNH HUỐNG DẠY HỌC TÍCH HỢP TRONG MÔN TOÁN CHO SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC TIỂU HỌC 1. Tích hợp và dạy học tích hợp 1. Một số quan niệm về tích hợp và dạy học tích hợp 1. Một số quan niệm về tích hợp Trong tiếng Anh, tích hợp được viết là integration – có nguồn gốc từ tiếng Latinh “Intergration” với nghĩa là xác lập lại cái chung, cái toàn thể, cái thống nhất trên cơ sở những bộ phận riêng lẻ.
Theo từ điển Anh – Việt, intergration có nghĩa là sự hợp lại thành một hệ thống thống nhất [46]. Theo từ điển Bách khoa Khoa học Giáo dục của Cộng hòa Liên bang Đức (Enzyklopadie Erziehungswissienscheft, Bd.2, Stuttgart 1984), intergration được hiểu theo hai khía cạnh: - Một là, quá trình xác lập lại cái chung, cái toàn thể, cái thống nhất từ những cái riêng lẻ. - Hai là, trạng thái mà trong đó có cái chung, cái toàn thể được tạo ra từ những cái riêng lẻ. Theo từ điển Tiếng Việt: “Tích hợp là sự kết hợp những hoạt động, CT hoặc các thành phần khác nhau thành một khối chức năng” [9].
Theo từ điển Giáo dục học: “Tích hợp được hiểu là hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc một vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch” [22]. Theo Đỗ Hương Trà: “Tích hợp là sự hợp nhất hay nhất thể hóa các bộ phận khác nhau để đưa tới một đối tượng mới như là một thể thống nhất dựa trên những nét bản chất của các thành phần đối tượng chứ không phải là phép cộng giản đơn những thuộc tính của các thành phần ấy” [61]. Theo Dương Tiến Sỹ: “Tích hợp là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống các khái niệm thuộc các môn học khác nhau thành một nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối quan hệ về lý luận và thực tiễn được đề cập trong môn học đó” [52]. Như vậy, tích hợp có hai tính chất cơ bản, liên hệ mật thiết với nhau và quy định lẫn nhau, đó là tính liên kết và tính toàn vẹn.
Tính liên kết thể hiện qua mối liên hệ giữa sự vật với các sự vật khác trong thế giới khách quan. Tính toàn vẹn dựa trên sự thống nhất nội tại giữa các thành phần liên kết chứ không phải sự sắp đặt các thành phần bên cạnh nhau. Hình minh họa tính chất cơ bản của tích hợp 1. Một số quan niệm về dạy học tích hợp Trên thế giới, khái niệm DHTH được nghiên cứu từ thế kỷ XVIII.
Nhiều nhà nghiên cứu đã đề cập đến DHTH dưới nhiều góc độ khác nhau nhưng cơ bản đều có những nhận định chung về khái niệm, vai trò và ý nghĩa của DHTH. Cụ thể: Theo Lucian Ciolan, DHTH là hành động tạo ra mối liên hệ giữa các lĩnh vực khác nhau để xây dựng một tổng thể hài hòa, ở cấp độ cao hơn, hội nhập cấp cao hơn, sự tích hợp dẫn đến một kết quả vượt quá sự tổng hợp của các bộ phận [68]. Ở cấp độ nghiên cứu xây dựng và phát triển CT, Susan M. Drake định nghĩa một CT DHTH hiểu theo nghĩa đơn giản nhất là sự kết nối: Kết nối giữa các môn học, kết nối các nội dung dạy học với thực tiễn hay kết nối các nội dung dạy học dựa trên những KN và KT [73].
Với mục đích xây dựng CT giáo dục nhằm phát triển NL cho HS, Xavier Roegiers định nghĩa DHTH là hành động liên kết một cách hữu cơ, có hệ thống các đối tượng nghiên cứu, học tập của một vài lĩnh vực môn học khác nhau thành nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lý luận và thực tiễn được đề cập trong các môn học đó nhằm hình thành ở HS các NL cần thiết [63]. Ở Việt Nam, khái niệm DHTH hầu hết được tiếp cận theo hướng xác định cách thức tổ chức dạy học để hình thành những phẩm chất và NL cần thiết cho HS. Cụ thể: Theo Nguyễn Hữu Châu, DHTH là tổ chức, hướng dẫn để HS biết huy động tổng hợp KT, KN thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập; thông qua đó hình thành những KT, KN mới; phát triển được những NL cần thiết, nhất là NL GQVĐ trong học tập và trong thực tiễn cuộc sống [12]. Theo Hà Thị Lan Hương, DHTH là một quan niệm dạy học nhằm hình thành ở HS 10 những NL để giúp họ giải quyết hiệu quả các TH thực tiễn dựa trên sự huy động nội dung, KT, KN thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau.
Điều đó đảm bảo để mỗi HS biết cách vận dụng KT học được trong nhà trường vào những hoàn cảnh mới lạ, TH bất ngờ, qua đó trở thành một người công dân có trách nhiệm, một người lao động có NL [34]. Theo Đỗ Hương Trà: “DHTH là một quan điểm sư phạm, ở đó người học cần huy động (mọi) nguồn lực để giải quyết một TH phức hợp – có vấn đề nhằm phát triển các NL và phẩm chất cá nhân” [61]. Theo Đinh Quang Báo: “DHTH là định hướng dạy học trong đó GV tổ chức, hướng dẫn để HS biết huy động tổng hợp KT, KN thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập; thông qua đó hình thành những KT, KN mới; phát triển được những NL cần thiết, nhất là NL giải quyết vấn đề trong học tập và trong thực tiễn cuộc sống” [3]. Trong những quan điểm nêu trên về DHTH đều có nêu một đặc điểm “là sự huy động tổng hợp KT, KN thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau để giải quyết các nhiệm vụ học tập”.
Có thể nói, đây là đặc trưng thể hiện của tính tích hợp trong dạy học. Bởi lẽ, thông qua quá trình huy động tổng hợp nói trên, HS nhận thấy được mối liên hệ giữa các phân môn hay giữa các môn học khác nhau. Để làm cơ sở cho những khái niệm tiếp theo trong luận án, chúng tôi thống nhất sử dụng khái niệm DHTH của tác giả Đinh Quang Báo: “DHTH là định hướng dạy học trong đó GV tổ chức, hướng dẫn để HS biết huy động tổng hợp KT, KN thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập; thông qua đó hình thành những KT, KN mới; phát triển được những NL cần thiết, nhất là NL giải quyết vấn đề trong học tập và trong thực tiễn cuộc sống”. Vai trò của dạy học tích hợp đối với sự đổi mới giáo dục hiện nay Ngày nay, để đáp ứng cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, nhiều nước trên thế giới như: Hàn Quốc, Singapore, Malaysia, Australia, Pháp, Anh, Mỹ, Canada,.
đã xem và lựa chọn DHTH như một xu thế tất yếu để hình thành cho HS những NL cần thiết nhằm giải quyết các vấn đề trong cuộc sống, đặc biệt là những vấn đề phức hợp đòi hỏi những KT, KN của nhiều lĩnh vực [50]. Điều đó cho thấy DHTH có vai trò quan trọng đối với sự đổi mới giáo dục hiện nay. Cụ thể: [67], [69], [58], [44], [13] - DHTH phản ánh đúng bản chất về sự tồn tại của một sự vật, sự việc, hiện tượng trong thế giới khách quan Theo nguyên lý về mối liên hệ phổ biến trong triết học Marx-Lenin, không có bất cứ sự vật, hiện tượng hay quá trình nào tồn tại tuyệt đối biệt lập với các sự vật, hiện tượng hay quá trình khác. Đồng thời, cũng không có bất cứ sự vật, hiện tượng nào không 11 phải là một cấu trúc hệ thống, bao gồm những yếu tố cấu thành với những mối liên hệ bên trong của nó.
Nghĩa là, bất cứ một tồn tại nào cũng là một hệ thống, hơn nữa là hệ thống mở, tồn tại trong mối liên hệ với hệ thống khác, tương tác và làm biến đổi lẫn nhau. Vì thế, trong nhận thức và xử lý các TH thực tiễn cần phải xem xét sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ biện chứng qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật, hiện tượng và trong sự tác động qua lại giữa sự vật, hiện tượng đó với các sự vật, hiện tượng khác. Chỉ trên cơ sở đó mới có thể nhận thức đúng về sự vật, hiện tượng và xử lý có hiệu quả các vấn đề của đời sống thực tiễn.Lenin: “Muốn thực sự hiểu được sự vật, cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ và “quan hệ gián tiếp” của sự vật đó”. DHTH không chỉ cung cấp cho HS những tri thức về thế giới khách quan mà còn giúp họ nhận thức được mối liên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài của chúng.
Qua đó, HS nhận ra đúng bản chất của mỗi tri thức khoa học, nâng cao khả năng ứng dụng chúng để giải quyết các vấn đề thực tiễn. - DHTH có nhiều điều kiện để hình thành và phát triển NL người học Theo Đỗ Tiến Đạt [17]: “DHTH cũng là con đường ngắn nhất, hiệu quả nhất để hình thành và phát triển năng lực của HS, đặc biệt NL GQVĐ trong thực tiễn”. Để hình thành và phát triển NL cho HS, ngoài việc trang bị các KT và KN trong từng môn học, GV cần phải tạo cơ hội để HS có thể vận dụng chúng để GQVĐ trong thực tiễn. Trong DHTH, GV tạo ra nhiều TH có tính liên môn, gắn liền với thực tiễn, đòi hỏi các em cần phải huy động và vận dụng các KT, KN của nhiều môn học để giải quyết.
Điều này tạo nhiều cơ hội để giúp HS hình thành và phát triển các NL cần thiết. - DHTH trang bị cho HS những KT, KN cần thiết ngoài môn học, giúp các em đối mặt với những thách thức trong cuộc sống Trong quá trình phát triển của khoa học và giáo dục, nhiều KT và KN chưa hoặc không cần thiết trở thành một môn học trong nhà trường, nhưng lại rất cần chuẩn bị cho HS để họ có thể đối mặt với những thách thức của cuộc sống. Để trang bị những KT, KN đó, GV cần phải tích hợp trong dạy học ở từng môn học khác nhau. - DHTH thiết lập mối quan hệ giữa các KT, KN và phương pháp của các môn học Khi đề cập đến vấn đề vì sao phải DHTH, Đinh Quang Báo cho rằng [75]: “Do mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội đều ít nhiều có mối liên hệ với nhau; nhiều sự vật, hiện tượng có những điểm tương đồng và cùng một nguồn cội… Để nhận biết và giải quyết các sự vật, hiện tượng ấy, cần huy động tổng hợp các KT và KN từ nhiều lĩnh vực khác nhau”.