Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Một số vấn đề chung về từ Hán Việt 1. Khái niệm từ Hán Việt Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm “từ Hán Việt”, có thể kể đến một số quan điểm tiêu biểu sau: Tác giả Nguyễn Như Ý (2003) đã định nghĩa về từ Hán Việt trong “Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học” như sau : “Từ tiếng Việt có nguồn gốc từ tiếng Hán, đã nhập vào hệ thống từ vựng tiếng Việt, chịu sự chi phối của các quy luật ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa của tiếng Việt, còn gọi là từ Việt gốc Hán”. Với định nghĩa này tác giả đã nêu ra được nguồn gốc của từ Hán Việt, và các quy luật yếu tố tạo ra từ Hán Việt.
Trong “Dạy và học từ Hán Việt ở trường phổ thông” (Đặng Đức Siêu, 2001) định nghĩa: “Từ Hán Việt là kết quả của quá trình giao lưu tiếp xúc ngôn ngữ − văn hóa Việt Hán diễn ra hàng ngàn năm, trong đó chủ trương “chủ động” và “Việt hóa” là đường hướng chủ đạo, bộc lộ rõ tài chí thông minh sáng tạo của tổ tiên ta”. Định nghĩa này được tác giả áp dụng cho bậc học trung học phổ thông. Những quan điểm trên đều đúng, bởi chúng xuất phát theo nhiều khía cạnh, góc nhìn và cách giải quyết khác nhau. Từ những quan điểm này chúng tôi có thể phát biểu một cách khái quát về từ Hán Việt như sau: Từ Hán Việt là những từ người Việt vay mượn của tiếng Hán, được đọc theo cách đọc Hán Việt và nhập vào kho từ vựng tiếng Việt.
Đặc điểm từ Hán Việt 1. Đặc điểm về ngữ nghĩa – phong cách a. Hoạt động ngữ nghĩa của các yếu tố Hán Việt Từ Việt gốc Hán nói chung, từ Hán Việt nói riêng khi trở thành từ của Tiếng Việt, chúng chịu sự tác động của quy luật tiếng Việt trong đó có hoạt 6 Luan van động ngữ nghĩa. Do vậy, so với tiếng Hán, diện mạo ngữ nghĩa của từ Hán Việt trong tiếng Việt cũng có nhiều thay đổi, theo những hướng khác nhau để đáp ứng nhu cầu hành chức của tiếng Việt.
- Hoạt động thu hẹp nghĩa: Nhiều yếu tố Hán khi đi vào tiếng Việt, tiếng Việt chỉ tiếp nhận một số nghĩa nào đó chứ không tiếp nhận tất cả nghĩa vốn có của nó. Ví dụ: Từ tảo trong tiếng Hán nghĩa là sáng sớm, nhưng vào tiếng Việt có nghĩa là sớm (tảo hôn). Cước trong tiếng Hán có nghĩa là chân, bàn chân, vào tiếng Việt có nghĩa là chân (của núi) (vùng sơn cước). - Hoạt động mở rộng, phát triển thêm nhiều nghĩa mới : Một số yếu tố tiếng Hán đi vào tiếng Việt, bên cạnh nghĩa gốc như trong tiếng Hán, còn được mở rộng, phát triển thêm nghĩa mới.
Ví dụ: can (gan) vốn có nghĩa chỉ một bộ phận cơ thể, sang tiếng Việt có thêm nghĩa là sự dũng cảm. Khám, ngoài nghĩa coi, xem, trong tiếng việt còn có nghĩa là lục soát với thái độ nghi ngờ. - Hoạt động chuyển, biến đổi nghĩa: Có một số từ tiếng Hán khi trở thành yếu tố, hoặc từ Hán Việt trong tiếng Việt, chúng chuyển nghĩa rất xa hoặc thay đổi hẳn nghĩa so với nghĩa trong tiếng Hán. Ví dụ: bồi hồi trong tiếng hán có nghĩa là “đi đi lại lại”, vào tiếng Việt lại có nghĩa là “xao xuyến, xốn xang không yên trong lòng” ( lòng bồi hồi).
Giá trị phong cách của từ Hán Việt Tìm hiểu giá trị phong cách từ Hán Việt tức là chúng ta đi tìm hiểu khả năng biểu đạt của chúng. Từ Hán Việt có một số giá trị phong cách sau: - Từ Hán Việt tạo sắc thái tao nhã, hoặc tránh gây ấn tượng ghê rợn cho người nghe. Ví dụ về việc lựa chọn giữa các từ : xác chết (thuần Việt) - thi hài (Hán Việt), thiêu (thuần Việt) – hỏa táng (Hán Việt),… - Từ Hán Việt tạo sắc thái trang trọng đặc biệt phù hợp với các trường hợp giao tiếp, nghi lễ. Trong một số trường hợp đặc biệt ta không thể dùng từ thuần Việt mà bắt buộc phải dùng từ Hán Việt để biểu đạt một khái niệm, một nội dung nào đó.
Ví dụ : Chỉ có thể nói (viết) “ Quốc gia độc lập”, “Ngày Quốc tế phụ nữ” mà không thể nói (viết) “Nước đứng một mình”, “Ngày Quốc tế đàn bà",… Do sắc thái trang trọng của từ Hán Việt mà người Việt Nam thích dùng 7 Luan van từ Hán Việt đặt tên cho địa danh, cho người. Ví dụ, địa danh: Thăng Long, Hội An,…; tên người : Lạc Long Quân, Hùng Vương, Nghĩa, Vân, Nguyệt,… - Từ Hán Việt tạo ra sắc thái trừu tượng, cổ kính, giúp ta cảm nhận được hình ảnh của thế giới khái niệm im lìm, bất động, góp phần tạo sắc thái cổ khi tạo hình ảnh, nhân vật, cuộc sống xã hội xưa.Ví dụ: các từ hoàng hôn, viễn phố, cô thôn, lữ thứ,…( Chiều hôm nhớ nhà – Bà Huyện Thanh Quan); ngục quan, phiếu trát, tử tù,…( Chữ người tử tù - Nguyễn Tuân). Đặc điểm về cấu tạo a. Cấu tạo từ đơn tiết Hán Việt Đây là lớp từ cấu tạo chỉ một tiếng được dùng tự do trong Tiếng Việt.
Đại bộ phận từ đơn tiết trong tiếng Việt là danh từ. Ví dụ các từ chỉ bộ phận cơ thể: đầu, não, tủy,.chỉ người: quan, dân, ông, bà,…chỉ động vật: phượng, lân, hổ, báo,… chỉ cây cối: tùng, bách, táo, lê,. chỉ kết quả của hoạt động tinh thần: nhân, nghĩa, lễ, trí,… Từ đơn tiết Hán Việt là động từ hoặc tính từ trong tiếng Việt không nhiều, chỉ khoảng trên 200 từ. Ví dụ: ẩn (kín), ban (thưởng), bẩm (cụ), biên ( thư),…lòng (thiện), (có) hiếu, (sợ) khiếp,… b.
Cấu tạo từ đa tiết Hán Việt - Cấu tạo từ ghép: Từ ghép chính phụ (phân nghĩa): có 2 loại. Chiếm số lượng lớn nhất là loại có yếu tố phụ đứng trước, yếu tố chính đứng sau. Ví dụ: quốc kì, nhân loại, lương tâm, học sinh, dân quyền,… Loài từ ghép chính phụ có yếu tố chính đứng trước, yếu tố phụ đứng sau như trật tự từ thuần Việt,có số lượng ít hơn: đa tài, vô tâm, quyết chiến, phóng đại,… Từ ghép đẳng lập (hợp nghĩa): Từ ghép hợp nghĩa Hán Việt có cấu tạo như từ ghép hợp nghĩa thuần Việt, các yếu tố trong từ có vai trò ngữ pháp ngang nhau, nghĩa của chúng cùng chỉ một phạm trù (hoặc cùng chỉ một sự vật, hoặc cùng chỉ một hoạt động, hoặc cùng chỉ một tính chất), nằm trong một trường nghĩa, có quan hệ đồng nghĩa, gần nghĩa, liên quan với nhau, hoặc trái nghĩa nhau, vì vậy mà nghĩa của chúng hợp lại tạo cho từ có nghĩa khái quát, tổng 8 Luan van hợp.Ví dụ các từ có cấu tạo từ các yếu tố đồng nghĩa hoặc liên quan với nhau về nghĩa trong một trường: bằng hữu, cơ hàn, diễm lệ, lương thiện,…; các từ được cấu tạo từ các yếu tố có quan hệ trái nghĩa: chiến bại, động tĩnh, lợi hại, thị phi, sinh tử,… - Cấu tạo từ láy: Từ láy trong vốn tiếng Việt tuyệt đại đa số là từ thuần Việt. Trong lớp từ đa tiết Hán Việt, có một số từ, giữa các âm tiết có hình thức âm thanh được láy lại, và nếu xét theo đồng đại, các yếu tố trong từ đều không có nghĩa thực nên các từ đó được xem là từ láy.
Ví dụ: phảng phất, do dự, xán lạng, bàng hoàng, hồ đồ,… Một số từ song tiết Hán Việt khác tuy có hình thức ngữ âm giống từ láy nhưng vì các yếu tố trong từ đều có nghĩa, chúng kết hợp với nhau theo quy tắc ghép nghĩa vì vậy không nên ghép chúng vào loại từ láy như một số sách hiện nay. Đó là các từ như ; quyến luyến, linh tinh,liên lụy, lâm li, liên lạc, tư lự,… - Cấu tạo từ Hán Việt bằng phương thức rút gọn: Trong lớp từ đa tiết Hán Việt, có một số ít từ tạo ra do phương thức rút gọn, nói tắt. Ví dụ : hồng tuyết cầu – hồng cầu, mĩ nghệ thuật- mĩ thuật, vật lí học – vật lí,. Vị trí, nhiệm vụ và phương pháp dạy học phân môn tập đọc 1.
Vị trí Như chúng ta đã biết môn Tiếng Việt ở trường tiểu học có nhiệm vụ vô vùng quan trọng đó là hình thành 4 kỹ năng: Nghe - nói - đọc - viết cho học sinh. Môn Tiếng Việt có nhiều phân môn khác nhau, trong đó có phân môn Tập đọc. Đây là phân môn có vị trí đặc biệt trong chương trình vì nó đảm nhiệm việc hình thành và phát triển kỹ năng “đọc”, một trong những kỹ năng quan trọng của học sinh ở bậc tiểu học. Kỹ năng “đọc” có nhiều mức độ: đọc đúng, đọc nhanh (lưu loát, trôi chảy), đọc có ý thức (thông hiểu được nội dung những điều mình đọc hay còn gọi là đọc hiểu) và đọc diễn cảm.
Khi học sinh đọc tốt 9 Luan van viết tốt thì các em mới có thể tiếp thu các môn học khác một cách chắc chắn. Từ đó học sinh mới hoàn thành được năng lực giao tiếp của mình. Đối với học sinh tiểu học, nhờ biết đọc các em có điều kiện học các môn khác trong chương trình. Mỗi bài tập đọc là một bức tranh nhỏ về cuộc sống, con người, thời đại.
Các em càng đọc càng thêm hiểu biết về con người, về đất nước ta trong quá khứ, hiện tại và nhiều nước trên thế giới, càng thêm tin yêu con người và cuộc sống tương lai. Từ đó hướng các em tới cái đẹp, biết rung động trước vẻ đẹp của ngôn ngữ, của hình tượng nghệ thuật đẹp, hành vi đẹp của các nhân vật. Từ sự rung động nội tâm, bài tập đọc đã mang đến cho các em những tình cảm đạo đức cao cả: tình yêu đối với cuộc sống và con người tình yêu gia đình, bạn bè, yêu quê hương đất nước. Nhiệm vụ Tập đọc là một phân môn thực hành.
Nhiệm vụ quan trọng nhất của nó là hình thành năng lực đọc cho học sinh. Năng lực đọc được tạo nên từ bốn kĩ năng bộ phận cũng là bốn yêu cầu chất lượng của đọc: đọc đúng, đọc nhanh (đọc lưu loát, trôi chảy), đọc có ý thức (thông hiểu được nội dung những điều mình đọc hay còn gọi là đọc hiểu) và đọc diễn cảm. Bốn kĩ năng này được hình thành trong hai hình thức đọc: đọc thành tiếng và đọc thầm. Chúng được rèn luyện đồng thời và hỗ trợ lẫn nhau.
Sự hoàn thiện một trong những kĩ năng này sẽ có tác động tích cực đến những kĩ năng khác. Ví dụ, đọc đúng là tiền đề của đọc nhanh cũng như cho phép thông hiểu nội dung văn bản. Ngược lại, nếu không hiểu điều mình đang đọc thì không thể đọc nhanh và đọc diễn cảm được.