CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Dấu câu và sử dụng dấu câu trong tiếng Việt 1. Dấu câu trong tiếng Việt Hiện nay, có rất nhiều quan niệm khác nhau về dấu câu, mỗi tác giả theo hướng tiếp cận nghiên cứu chuyên biệt đã đưa ra các nhận định, đánh giá và khái quát theo các góc độ khác nhau. Tiêu biểu như: Tác giả Đinh Trọng Lạc trong công trình nghiên cứu 99 phương tiện và biện pháp tu từ trong tiếng Việt [24] cho rằng dấu câu có vai trò để đánh dấu các yếu tố thuộc về ngữ điệu và dùng để diễn tả thái độ của người viết cũng như các sắc thái khác nhau trong tình cảm.
Dấu câu cũng dùng để đánh giá các loại câu có mục đích khác nhau. Từ đó cho ta thấy, dấu câu có thể hiện được ngữ điệu, sắc thái tình cảm của lời nói và mục đích của câu nói. Nhóm tác giả Lê A và Đinh Thanh Huệ trong cuốn sách Tiếng Việt thực hành [2] đã đánh giá vai trò của dấu câu rất quan trọng trong việc thể hiện cấu trúc ngữ pháp. Đối với ngôn ngữ viết, nó là một phương tiện ngữ pháp quan trọng, đồng thời nó cũng được thay cho ngữ điệu trong ngôn ngữ nói.
Dấu câu có tác dụng làm cho câu văn thêm khúc chiết, mạch lạc, phân biệt rõ các thành phần trong cấu tạo câu. [2] Các tác giả cuốn Từ điển Tiếng Việt (2010), Viện Ngôn ngữ học định nghĩa: “Dấu câu là tên gọi chung những dấu đặt giữa các câu hoặc các thành phần của câu nhằm làm cho câu văn viết được rõ ràng, mạch lạc” [50; tr. Trong công trình Ngữ pháp Tiếng Việt và Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học do tập thể các tác giả của Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam nghiên cứu đã khái quát cụ thể và tương đối đầy đủ về dấu câu, nhưng vẫn còn khá dài, đó là: “Dấu câu là phương tiện ngữ pháp dùng trong chữ viết. Tác dụng của nó là làm rõ trên mặt chữ viết một cấu tạo ngữ pháp, bằng cách chỉ ranh giới giữa các câu, giữa các thành phần của câu đơn, giữa các 9 vế của câu ghép, giữa các yếu tố của ngữ liên hợp.
Nói chung nó thể hiện ngữ điệu lên trên câu văn, câu thơ. Cho nên, có trường hợp nó không phải chỉ là một phương tiện ngữ pháp, mà còn là phương tiện để biểu thị những sắc thái tế nhị về nghĩa của câu, về tư tưởng, về tình cảm, thái độ của người viết” [47, tr. “Dấu câu là các kí hiệu đồ hình được dùng trong ngôn ngữ viết để chỉ ra sự ngắt đoạn, đồng thời để truyền đạt các đặc trưng của phân đoạn cú pháp - ý nghĩa mà không thể biểu thị bằng các phương tiện hình thái hoặc bằng trật tự từ. Dấu câu còn hỗ trợ cho việc thể hiện cấu trúc cú pháp và tiết tấu, âm điệu của lời nói” [ 48, tr.
Nhìn chung, các quan điểm từ các tác giả trong các công trình nghiên cứu có một số điểm tương đồng cơ bản sau: - Dấu câu là kí hiệu dùng trong văn viết. - Dấu câu hình thành câu và biểu hiện ý nghĩa, ngữ điệu của câu. - Căn cứ vào cấu tạo ngữ pháp, ngữ điệu, mục đích nói và quan hệ ý nghĩa giữa các phần trong câu để đưa ra quy tắc sử dụng dấu câu. Tập hợp các tài liệu nghiên cứu về dấu câu, luận văn lựa chọn quan niệm về dấu câu như sau: “Dấu câu là khái niệm dùng trong văn viết.
Dấu câu là phương tiện dùng để phân biệt các ý nghĩa, các đơn vị ngữ pháp trong một câu văn. Chúng được dùng để chỉ ranh giới giữa các câu, các thành phần trong câu, giữa các thành tố trong cụm từ, trong các liên hợp cụm từ”. Dấu câu có vai trò đặc biệt trong hoạt hoạt động giao tiếp ngôn ngữ nói chung, đặc biệt là giao tiếp viết. Dấu câu là phương tiện, cơ bản của ngữ pháp dùng trong chữ viết, giúp cho người đọc dễ hiểu những ý trong nội dung.
Dấu câu đóng vai trò ngắt các phần của câu đơn, các vế của câu ghép, phân rõ ranh giới giữa các câu văn, các đoạn văn với nhau. Dấu câu cũng làm rõ cấu tạo ngữ pháp của câu. Qua đó, nội dung của người viết được truyền tải một cách rõ ràng, mạch lạc. Và sự tiếp nhận thông tin của người đọc cũng chuẩn xác hơn, tránh hiểu nhầm.
10 Bên cạnh vai trò làm rõ tác dụng ngữ pháp, dấu câu biểu thị những sắc thái tế nhị về nghĩa của câu, về thái độ, tư tưởng, tình cảm của người viết. Dấu câu còn thể hiện ngữ điệu của câu văn, câu thơ, và những ngữ điệu này lại biểu thị những quan hệ ngữ pháp khác nhau, những mục đích nói khác nhau. Nếu chúng ta sử dụng dấu câu sai thì người đọc, người nghe sẽ hiểu sai nội dung diễn đạt, đôi khi sai cả về ngữ pháp, sai nghĩa. Ví dụ: Đầu chì cắm đầu chạy trước đầu nhọn.
Liền “nhổ neo” chạy theo hai anh em. Co kéo, chen lấn nhau suýt ngã. Đoạn văn đúng sẽ là: Đầu chì cắm đầu chạy trước. Đầu nhọn liền “nhổ neo” chạy theo.
Hai anh em co kéo, chen lấn nhau suýt ngã. Phân loại dấu câu trong tiếng Việt Trong các ngôn ngữ thì bộ dấu câu có phần khác nhau cả về số lượng lẫn chức năng của các dấu câu. Trong Tiếng Việt hiện có 10 dấu câu, dựa vào vị trí và chức năng của dấu câu trong văn bản, có thể chia thành ba nhóm chính: a) Nhóm các dấu đặt cuối câu (còn gọi là các dấu chấm câu) gồm bốn dấu: dấu chấm, dấu hỏi chấm, dấu chấm than, dấu chấm lửng. Trong văn bản thì vị trí của các dấu này thường đứng ở cuối câu.
Đối với dấu chấm lửng có thể đứng ở vị trí hoặc cuối trong câu. b) Nhóm các dấu đặt giữa câu gồm các dấu: dấu phẩy, dấu chấm phẩy, dấu hai chấm Nhóm này dùng để phân biệt các thành phần ngoài nòng cốt với nhau và với bộ phận nòng cốt của câu; ngoài ra nó còn dùng để phân biệt các thành phần giống nhau; các vế của câu ghép; các bộ phận đặc biệt trong câu… c) Nhóm dấu câu có thể dùng linh hoạt ở nhiều vị trí khác nhau: gồm có dấu gạch ngang, dấu hai chấm, dấu ngoặc đơn, dấu ngoặc kép, dấu chấm lửng. Ngoài cách sử dụng thông thường, một số người đã dùng cách thức kết 11 hợp các dấu câu một cách khá linh hoạt để tạo thành những dạng đặc biệt như:. Nhằm biểu thị tinh tế những trạng thái cảm xúc tình cảm khác nhau như chê bai, nghi ngờ, hạnh phúc, ngạc nhiên….
Hoặc như dấu ngang nối (dấu gạch nối), được dùng để nối các âm tiết trong một tên gọi có nhiều âm tiết (thường là tiếng nước ngoài, chẳng hạn: A- lếch - xăng, Lê- nin…). Dấu ngang nối khác với dấu gạch ngang, nó ngắn hơn so với dấu gạch ngang. Có thể tóm tắt các loại dấu câu trong tiếng Việt theo sơ đồ sau: Sơ đồ 1. Phân loại dấu câu trong tiếng Việt Dấu câu trong tiếng Việt Dấu thường dùng Dấu thường dùng Dấu có thể dùng ở cuối câu ở giữa câu ở nhiều vị trí khác nhau Dấu Dấu Dấu Dấu Dấu Dấu Dấu Dấu Dấu Dấu chấm chấm chấm phẩy chấm hai ngoặc ngoặc gạch chấm.
hỏi than , phẩy chấm đơn kép ngang lửng ? ! ; : () “” -. Một số vấn đề về sử dụng dấu câu trong tiếng Việt a) Sử dụng dấu câu gắn với mục đích nói của( câu ) Chúng ta thường dựa vào mục đích nói của câu để lựa chọn dấu câu cho phù hợp khi thể hiện câu nói đó bằng chữ viết. Đều là chỉ “Mưa to” nhưng mục đích nói khác nhau thì khi viết phải sử dụng những dấu câu khác nhau: - Mưa to! (ngạc nhiên) 12 – Mưa to? (sự hồ nghi) – Mưa to. (thông báo) Khi nói ba câu trên thì người nói có thể dùng cử chỉ, điệu bộ, nét mặt, giọng điệu để biểu thị cảm xúc và người nghe có thể nhận biết được mục đích nói.
Còn khi viết chúng ta chỉ có thể nhận ra mục đích nói thông qua dấu câu. Trong Tiếng Việt có quy ước dấu chấm được đặt ở cuối câu kể, dấu chấm hỏi được đặt ở cuối câu hỏi và dấu chấm than được đặt ở cuối câu cảm thán và câu cầu khiến. b) Dấu câu và ngữ điệu của câu Để thông thạo ngôn ngữ dạng viết, thì các em HS cần phải có khả năng chuyển từ ngôn ngữ viết sang ngôn ngữ nói và ngược lại. Trong nhiều trường hợp, câu văn có sự tương ứng giữa ngữ điệu và dấu câu.
Ví dụ: - Hải về thôi. - Hải, về thôi. - Hải! Về thôi! Ba câu trên đều có nội dung thông tin từ ngữ giống nhau nhưng vì ngữ điệu của người nói mà sử dụng dấu câu khác nhau. Vì vậy, cấu tạo ngữ pháp của câu cũng thay đổi“Các yếu tố thuộc về ngữ điệu bao gồm: cường độ giọng nói lúc phát âm, thanh điệu, cao độ, tốc độ và nhịp độ lời nói.
Ngữ điệu là đối tượng rất quan trọng của việc lĩnh hội tiếng mẹ đẻ”[26, tr. Vì vậy, để hướng dẫn các em chuyển từ ngôn ngữ nói sang viết, giáo viên cần cho các em hiểu được quan hệ giữa các âm vị, ngữ điệu,dấu câu với chữ cái và những dấu hiệu biểu thị khác. Luyện đọc diễn cảm là học cách nhấn âm, phân biệt giá trị các chỗ ngắt, uốn cong ngữ điệu. Điều đó chứng tỏ người đọc đã hiểu rõ văn bản viết.
Hệ thống dấu câu góp phần thể hiện âm tiết, ngữ điệu lời nói và tiết tấu của văn bản. Thông qua cách sử dụng dấu câu ví dụ dấu phẩy ghi lại chỗ ngắt giọng ngắn hơn một chút và thường hơi lên giọng, dấu chấm ghi lại chỗ hạ và ngắt giọng hơi dài mà người đọc có thể nhận biết được giọng nói, những 13 quãng ngắt giọng, sự lên giọng hay xuống giọng của từng câu tác giả muốn diễn đạt. c) Sử dụng dấu câu gắn với kết cấu ngữ pháp của câu Trong công trình nghiên cứu Phương pháp dạy học dấu câu tiếng Việt ở trường phổ thông, tác giả Nguyễn Xuân Khoa cho rằng: "Trong một số trường hợp khác, chúng ta không thấy sự tương hợp giữa dấu câu và ngữ điệu: Dấu chỉ được xác định bằng những tiêu chí ngữ pháp. Thí dụ, dùng dấu phẩy để ngăn cách các đoạn câu trong câu phức hợp không có từ nối”[21, tr.
Như vậy, cấu tạo ngữ pháp chính là cơ sở để người viết, người nói dùng dấu câu cho phù hợp.