Tổng quan nghiên cứu

Trong hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới và mở cửa kinh tế, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) luôn được xác định là một trong những động lực quan trọng hàng đầu thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tính đến năm 2010, Việt Nam đã thu hút thành công hơn 12.000 dự án FDI với tổng số vốn đăng ký lên tới gần 90 tỷ USD, đóng góp khoảng 15,5% vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong giai đoạn 2001-2005 và chiếm 35% tổng kim ngạch xuất khẩu không kể dầu thô của cả nước. Mặc dù dòng vốn FDI tăng trưởng nhanh chóng với tốc độ bình quân đạt 19,8%/năm trong giai đoạn 2001-2009, hoạt động tiếp nhận công nghệ tiên tiến từ nước ngoài vẫn chưa đạt được những kỳ vọng đặt ra ban đầu.

Thực tế ghi nhận từ năm 1987 đến năm 2010, Bộ Khoa học và Công nghệ chỉ phê duyệt và cấp đăng ký cho khoảng 750 hợp đồng chuyển giao công nghệ. Phần lớn các ngành sản xuất trong nước vẫn duy trì trình độ kỹ thuật ở mức trung bình, thiếu vắng các công nghệ nguồn mang tính đột phá. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm được đặt ra là làm rõ các rào cản đang kìm hãm luồng chuyển giao công nghệ qua kênh FDI tại Việt Nam, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện nhằm tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và nâng cao năng lực nội sinh.

Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào các doanh nghiệp FDI hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, thu thập và xử lý các số liệu thực chứng trong giai đoạn 2006-2009 kết hợp chuỗi dữ liệu tổng hợp giai đoạn 2001-2010. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện hệ thống chính sách, nâng cao tỷ lệ giải ngân vốn FDI thực chất từ mức thấp 24,1% trong giai đoạn 2005-2008 và thúc đẩy hiệu ứng lan tỏa tri thức công nghệ sang khu vực kinh tế nội địa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý thuyết chuyển giao công nghệ hiện đại, đặt trong mối tương quan với các mô hình kinh tế vĩ mô về lan tỏa tri thức từ nguồn vốn FDI. Trước hết, luận văn kế thừa mô hình 4 thành phần công nghệ của Uỷ ban Kinh tế và Xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) và các nhà khoa học quản lý, bao gồm: thành phần kỹ thuật (phần cứng), thành phần con người (kỹ năng, kinh nghiệm), thành phần thông tin ghi chép (bí quyết, quy trình tài liệu hóa) và thành phần tổ chức (thể chế quản lý, mạng lưới liên kết).

Bên cạnh đó, nghiên cứu áp dụng lý thuyết phân loại chuyển giao công nghệ theo chiều dọc (từ nghiên cứu triển khai vào sản xuất) và chuyển giao theo chiều ngang (chuyển giao giữa các doanh nghiệp, nhân rộng quy mô sản xuất). Theo Luật Chuyển giao công nghệ năm 2006, chuyển giao công nghệ được xác định là quá trình chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một phần hoặc toàn bộ giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật biến đổi nguồn lực thành sản phẩm. Về mức độ cam kết, hoạt động này được chia thành 4 cấp độ từ thấp đến cao: trao kiến thức, chìa khóa trao tay, sản phẩm trao tay và thị trường trao tay. Hệ thống lý luận cũng phân định rõ 2 nhóm rào cản: rào cản khách quan từ biến động kinh tế toàn cầu và rào cản chủ quan bắt nguồn từ nhận thức, thể chế pháp lý và năng lực quản trị.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp toàn diện từ Cục Đầu tư nước ngoài thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Thống kê và Vụ Đánh giá, Thẩm định và Giám định Công nghệ thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ trong thời gian từ năm 1988 đến năm 2010.

Đối với dữ liệu sơ cấp, tác giả thiết lập cỡ mẫu khảo sát gồm 10 doanh nghiệp FDI quy mô lớn hoạt động trong hai lĩnh vực công nghiệp trọng điểm: 05 doanh nghiệp thuộc ngành điện tử và 05 doanh nghiệp thuộc ngành sản xuất, lắp ráp ô tô. Phương pháp chọn mẫu phi xác suất có chủ đích (purposive sampling) được áp dụng tại 7 tỉnh, thành phố tập trung mật độ FDI cao nhất cả nước gồm Hà Nội, Hải Dương, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương và Đồng Nai. Nhằm củng cố tính xác thực và chiều sâu của các nhận định, nghiên cứu tiến hành phỏng vấn sâu 05 chuyên gia đầu ngành, bao gồm 02 nhà nghiên cứu chính sách khoa học và 03 nhà quản lý trực tiếp phụ trách công tác quản lý công nghệ cấp bộ ngành.

Lý do lựa chọn kết hợp phương pháp phân tích định lượng (thống kê mô tả, phân tích chuỗi thời gian, đánh giá hệ số ICOR và năng suất lao động) với phân tích định tính (phân tích thể chế, giải cấu trúc văn bản quy phạm pháp luật và tổng hợp phỏng vấn sâu) là nhằm bóc tách đa chiều bản chất phức tạp của các rào cản, bảo đảm kết quả nghiên cứu vừa mang tính bao quát vĩ mô vừa phản ánh trung thực thực trạng vận hành tại vi mô doanh nghiệp.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tồn tại khoảng cách rất lớn giữa số lượng dự án đầu tư và số lượng hợp đồng chuyển giao công nghệ chính thức. Mặc dù cả nước thu hút hơn 12.000 dự án FDI với gần 90 tỷ USD vốn đăng ký, tổng số hợp đồng chuyển giao công nghệ được phê duyệt hoặc đăng ký từ năm 1993 đến tháng 8 năm 2010 chỉ đạt 750 hợp đồng (gồm 296 hợp đồng phê duyệt và 454 hợp đồng đăng ký). Đáng chú ý, trong số 296 hợp đồng được phê duyệt, chỉ có duy nhất 02 hợp đồng có nội dung chuyển giao quyền sử dụng bằng sáng chế độc quyền, còn lại đại đa số chỉ dừng lại ở mức độ chuyển giao bí quyết kỹ thuật đơn giản, hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo nhân lực tại chỗ.

Thứ hai, cơ cấu chuyển giao công nghệ bị lệch pha nghiêm trọng theo ngành và hình thức sở hữu. Về phân bổ ngành nghề đến năm 2005, công nghiệp nặng chiếm tỷ trọng cao nhất với 33,2% (98 hợp đồng), tiếp theo là ngành điện - điện tử - bưu chính viễn thông chiếm 17,57% (52 hợp đồng) và công nghiệp thực phẩm chiếm 14,18% (42 hợp đồng). Tuy nhiên, có tới 70% tổng số doanh nghiệp FDI tại Việt Nam hoạt động dưới hình thức 100% vốn nước ngoài. Mô hình sở hữu này vận hành như các chi nhánh phụ thuộc của các tập đoàn đa quốc gia, áp dụng cơ chế bảo mật công nghệ nghiêm ngặt và hạn chế tối đa việc lan tỏa bí quyết công nghệ ra các đối tác nội địa.

Thứ ba, chất lượng công nghệ chuyển giao chưa đạt chuẩn tiên tiến và hiệu quả hấp thụ vốn suy giảm. Kết quả khảo sát thực tế trên 400 doanh nghiệp tại các khu chế xuất, khu công nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy không có bất kỳ doanh nghiệp FDI nào sở hữu trình độ công nghệ tiên tiến hàng đầu thế giới. Bên cạnh đó, tỷ lệ giải ngân vốn FDI giảm mạnh từ mức bình quân 77,5% giai đoạn 2000-2004 xuống còn 24,1% giai đoạn 2005-2008, và chỉ đạt khoảng 16% vào năm 2008. Mặc dù năng suất lao động bình quân của khu vực FDI năm 2009 đạt 188,6 triệu đồng/người (cao gấp 1,1 lần khu vực nhà nước và 7 lần khu vực tư nhân), tốc độ tăng năng suất lao động của khối này trong cả giai đoạn 2001-2009 lại ghi nhận mức giảm âm 6,6%/năm.

Thảo luận kết quả

Thực trạng hạn chế nêu trên bắt nguồn từ sự đan xen của các rào cản thể chế, cơ chế điều phối và năng lực nội tại. Về mặt chính sách, hệ thống pháp luật trải qua nhiều giai đoạn điều chỉnh nhưng chưa đạt độ ổn định cần thiết: từ việc can thiệp quá sâu bằng trần giá và giới hạn thời hạn 7-10 năm theo Nghị định 45/1998/NĐ-CP, sang việc nới lỏng cơ chế đăng ký tự nguyện theo Luật Chuyển giao công nghệ năm 2006 mà không kèm theo các chế tài hậu kiểm hay ưu đãi tài chính tương xứng. Khi phân cấp quản lý về các địa phương, phần lớn các Sở Khoa học và Công nghệ đều lúng túng và chưa cấp được chứng nhận đăng ký nào, ngoại trừ một số trung tâm kinh tế lớn.

Dữ liệu nghiên cứu về sự tương quan giữa dòng vốn FDI và hiệu quả chuyển giao công nghệ có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua một biểu đồ cột kết hợp đường (combo chart), trong đó các cột thể hiện tốc độ tăng trưởng vốn FDI đăng ký (bình quân 19,8%/năm) đối chiếu với đường biểu diễn số lượng hợp đồng chuyển giao công nghệ đăng ký hàng năm. Đồng thời, một bảng ma trận phân loại rào cản chi tiết theo 3 cấp độ (chính sách vĩ mô, cơ chế phối hợp liên ngành giữa Bộ Khoa học và Công nghệ với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, và năng lực hấp thụ của doanh nghiệp) sẽ giúp người đọc nhận diện rõ ràng các điểm nghẽn cấu trúc. Mối liên kết lỏng lẻo giữa doanh nghiệp FDI với các nhà cung ứng nội địa trong ngành công nghiệp phụ trợ khiến Việt Nam đứng trước nguy cơ trở thành nơi tiếp nhận máy móc, thiết bị khấu hao lạc hậu thay vì điểm đến của các dòng chuyển giao công nghệ cao.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện hành lang pháp lý và tiêu chuẩn công nghệ bắt buộc. Bộ Khoa học và Công nghệ cần khẩn trương phối hợp với các cơ quan liên quan ban hành đầy đủ hệ thống thông tư hướng dẫn thi hành Luật Chuyển giao công nghệ năm 2006 và Nghị định 133/2008/NĐ-CP. Xây dựng và áp dụng bộ tiêu chí thẩm định công nghệ bắt buộc đối với 100% các dự án FDI có quy mô vốn đăng ký trên 50 triệu USD trong giai đoạn 2011-2013, kiên quyết loại bỏ các dự án sử dụng dây chuyền công nghệ đã hết khấu hao hoặc có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường.

Thứ hai, thiết lập cơ chế giám sát và phối hợp liên ngành đồng bộ. Xây dựng cổng thông tin cơ sở dữ liệu quốc gia về chuyển giao công nghệ liên thông trực tiếp giữa Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng 63 Sở Khoa học và Công nghệ các tỉnh, thành phố. Thiết lập quy chế trao đổi dữ liệu định kỳ nhằm quản lý chặt chẽ hoạt động định giá công nghệ, phòng ngừa tình trạng chuyển giá, phấn đấu nâng tỷ lệ dự án FDI có đăng ký hợp đồng chuyển giao công nghệ tăng từ 25% đến 30% mỗi năm trong giai đoạn 2011-2014.

Thứ ba, nâng cao năng lực tài chính và hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp trong nước. Đưa Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia vào vận hành thực chất, triển khai các gói hỗ trợ tài chính với lãi suất vay ưu đãi thấp hơn mức lãi suất thương mại thị trường từ 2% đến 3% dành riêng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia mạng lưới công nghiệp phụ trợ, tạo điều kiện để doanh nghiệp nội địa có đủ nguồn lực mua sắm bản quyền và tiếp nhận chuyển giao công nghệ từ đối tác nước ngoài.

Thứ tư, phát triển nguồn nhân lực kỹ thuật cao và mạng lưới liên kết R&D. Ban hành quy định yêu cầu các doanh nghiệp FDI trích lập tối thiểu 3% đến 5% lợi nhuận trước thuế hàng năm cho công tác đào tạo kỹ năng chuyên sâu và hoạt động nghiên cứu phát triển (R&D) tại Việt Nam. Đặt mục tiêu đến năm 2015, tỷ lệ kỹ sư và cán bộ kỹ thuật Việt Nam nắm giữ vị trí quản lý, làm chủ quy trình vận hành công nghệ cốt lõi trong các dự án FDI đạt trên 50%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1 - Cơ quan quản lý nhà nước và các nhà hoạch định chính sách: Lãnh đạo và cán bộ chuyên môn tại Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ban Quản lý các Khu công nghiệp, Khu chế xuất và các Sở Khoa học và Công nghệ địa phương. Luận văn cung cấp bức tranh số liệu thực tế về 12.000 dự án FDI, giúp hoàn thiện quy trình cấp phép, thẩm định và giám sát chuyển giao công nghệ.

Nhóm 2 - Ban lãnh đạo doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa: Các nhà quản trị doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp công nghiệp phụ trợ Việt Nam. Nghiên cứu cung cấp tài liệu tham khảo chi tiết về quy trình đàm phán hợp đồng, nhận diện rủi ro pháp lý theo 4 cấp độ chuyển giao và xây dựng chiến lược liên kết chuỗi cung ứng bền vững.

Nhóm 3 - Chuyên gia nghiên cứu và giảng viên học thuật: Các nhà khoa học, nghiên cứu viên và giảng viên thuộc các viện nghiên cứu, trường đại học chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ, Kinh tế phát triển và Kinh tế đối ngoại. Luận văn đóng vai trò là tài liệu tham khảo chuyên khảo về thể chế chuyển giao công nghệ trong giai đoạn kinh tế chuyển đổi từ năm 1988 đến năm 2010.

Nhóm 4 - Học viên cao học và sinh viên đại học: Người học thuộc các ngành Quản trị công nghệ, Chính sách công và Luật kinh tế quốc tế. Công trình cung cấp phương pháp luận nghiên cứu kết hợp định tính - định lượng cùng hệ thống case study điển hình trong ngành công nghiệp ô tô và điện tử tại 7 vùng kinh tế trọng điểm.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao có tới 12.000 dự án FDI nhưng chỉ ghi nhận khoảng 750 hợp đồng chuyển giao công nghệ được đăng ký hoặc phê duyệt? Nguyên nhân chủ yếu do doanh nghiệp né tránh các thủ tục hành chính phức tạp bằng cách gộp chi phí công nghệ vào giá trị máy móc, thiết bị nhập khẩu. Hơn nữa, khoảng 70% doanh nghiệp FDI hoạt động dưới hình thức 100% vốn nước ngoài, chủ yếu thực hiện luân chuyển bí quyết nội bộ khép kín mà không làm thủ tục đăng ký pháp lý chính thức.

Cơ cấu hợp đồng chuyển giao công nghệ đã được phê duyệt tập trung vào những ngành kinh tế nào? Tính đến năm 2005, trong số 296 hợp đồng được Bộ Khoa học và Công nghệ phê duyệt, công nghiệp nặng chiếm tỷ trọng cao nhất với 33,2% (98 hợp đồng), ngành điện tử - viễn thông đứng thứ hai với 17,57% (52 hợp đồng), ngành thực phẩm chiếm 14,18% (42 hợp đồng) và ngành hóa mỹ phẩm chiếm 10,48% (31 hợp đồng).

Trình độ công nghệ thực tế của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam được đánh giá ở mức độ nào? Khảo sát thực tế trên 400 doanh nghiệp tại các khu công nghiệp, khu chế xuất Thành phố Hồ Chí Minh ghi nhận 0% doanh nghiệp sở hữu công nghệ tiên tiến hàng đầu thế giới. Phần lớn công nghệ đưa vào Việt Nam chỉ đạt mức trung bình của khu vực, với 294 trên tổng số 296 hợp đồng chỉ chuyển giao bí quyết và trợ giúp kỹ thuật thông thường.

Rào cản chính sách lớn nhất đối với hoạt động chuyển giao công nghệ qua FDI là gì? Rào cản lớn nhất nằm ở sự thiếu đồng bộ và gián đoạn trong thực thi thể chế. Khi Luật Chuyển giao công nghệ năm 2006 chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm và phân cấp về địa phương, việc thiếu vắng các thông tư hướng dẫn chi tiết khiến phần lớn các Sở Khoa học và Công nghệ lúng túng, không phát sinh thủ tục cấp đăng ký cho doanh nghiệp.

Doanh nghiệp Việt Nam cần những điều kiện gì để tiếp nhận chuyển giao công nghệ thành công từ khối FDI? Doanh nghiệp nội địa cần tối thiểu 3 điều kiện: nâng cao tiềm lực tài chính để đối ứng vốn, đào tạo đội ngũ nhân lực kỹ thuật làm chủ tài liệu công nghệ, và tham gia sâu vào chuỗi cung ứng công nghiệp phụ trợ. Việc tiếp cận nguồn vốn ưu đãi với lãi suất thấp hơn 2-3% từ các quỹ phát triển công nghệ là đòn bẩy tài chính quan trọng.

Kết luận

  • Luận văn đã nhận diện và phân tích toàn diện 3 nhóm rào cản cơ bản đối với chuyển giao công nghệ qua FDI tại Việt Nam gồm: rào cản thể chế chính sách, rào cản từ cơ chế phối hợp liên ngành và rào cản năng lực nội sinh của doanh nghiệp.
  • Thực trạng chuyển giao công nghệ giai đoạn 2001-2010 bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng, thể hiện qua tỷ lệ khiêm tốn với 750 hợp đồng chuyển giao trên tổng số 12.000 dự án FDI, cùng sự sụt giảm tỷ lệ giải ngân vốn xuống mức 16% vào năm 2008 và tốc độ tăng năng suất lao động khu vực FDI giảm âm 6,6%.
  • Đóng góp khoa học cốt lõi của công trình là hệ thống hóa khung lý thuyết chuyển giao công nghệ và cung cấp bức tranh thực chứng sâu sắc từ 10 doanh nghiệp tiêu biểu cùng 5 chuyên gia đầu ngành tại 7 trung tâm kinh tế trọng điểm.
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp kiến nghị cần được triển khai quyết liệt theo lộ trình giai đoạn 2011-2015, tập trung hoàn thiện thông tư hướng dẫn luật, thành lập cơ sở dữ liệu quốc gia và vận hành Quỹ Đổi mới công nghệ.
  • Việt Nam cần khẩn trương chuyển đổi tư duy thu hút đầu tư, chuyển dịch dứt khoát từ chiến lược thu hút FDI theo số lượng vốn đăng ký sang mô hình chọn lọc chất lượng gắn liền với chuyển giao công nghệ nguồn và phát triển công nghiệp phụ trợ.