phần mở đầu của công trình, tác giả giới thiệu một cách khá chi tiết về cách tiếp cận thuật ngữ, bản chất của biểu tượng, tính chất của biểu tượng và các chức năng của nó. Trong đó, đáng chú ý là phần các chức năng của biểu tượng được tác giả phân loại ra như sau: chức năng thăm dò, chức năng vật thay thế, chức năng trung gian, chức năng giáo dục và trị liệu, chức năng xã hội hóa, chức năng cộng hưởng, chức năng siêu nghiệm. Ở đây, chúng tôi cho rằng, một biểu tượng cần hội tụ đủ các chức năng này. Hay nói cách khác, nắm bắt được những chức năng này của một biểu tượng sẽ tìm thấy được giá trị, vai trò của biểu tượng đó trong nền văn hóa mà nó đang tồn tại.
Đầu những năm 2000, xuất hiện nhiều công trình biên dịch về lý thuyết của các tác giả nước ngoài được công bố, và vấn đề lý thuyết nghiên cứu biểu tượng bắt đầu được đề cập trong các công trình của các tác giả Việt Nam, như các công trình nghiên cứu của Nguyễn Văn Hậu [29], [30]; Vũ Thị Phương Anh, Phan Ngọc Chiến, Hoàng Trọng [2]; Đinh Hồng Hải [11] [25] [26]; Mai Văn Hai [24];… Luận án Ngôn ngữ biểu tượng trong đời sống văn hóa của người Cơtu (2011) của Đinh Hồng Hải đã thể hiện tính mới (trong bối cảnh của Việt Nam) về lý thuyết và phương pháp luận nghiên cứu dưới góc nhìn nhân học biểu tượng. Các tác phẩm dịch trong giai đoạn này cũng là những bổ sung quý giá về lý thuyết cho việc nghiên cứu biểu tượng vốn còn khá mới mẻ ở Việt Nam. Đi đầu, có thể kể đến các công trình của tập thể Trường viết văn Nguyễn Du (Hà Nội), Hội khoa học Lịch sử Việt Nam, cá nhân Đinh Hồng Hải… đã tập hợp và biên dịch về lý thuyết biểu tượng, nhân học biểu 10 tượng, nhân học tôn giáo của các tác giả Charles F. Keyes, Emile Durkheim, Max Weber, Claude Lévi-Strauss, Victor Turner, Clifford Geertz… Một số công trình dịch từ các tác giả nước ngoài: Bruhl (Ngô Bình Lâm dịch) [88]; Chris Barker (Viện Văn hóa nghệ thuật Việt Nam dịch) [80];… Đinh Hồng Hải khẳng định: “Nghiên cứu biểu tượng là khoa học có chức năng giải mã các thành tố văn hóa được sản sinh trong đời sống của con người” [27, tr.
Nghiên cứu biểu tượng là ngành khoa học liên ngành với nhiều hướng tiếp cận khác nhau: triết học, văn học, dân tộc học, mỹ học, phân tâm học, xã hội học… Trong đó, các lĩnh vực ngôn ngữ học, nhân học và ký hiệu học được xem là nền tảng để nghiên cứu biểu tượng; “sự kết nối nghiên cứu văn hóa với các lĩnh vực như ngôn ngữ học, nhân học và ký hiệu học cần phải được đặt làm nền tảng và là hướng đi phù hợp nhất trong giai đoạn hiện nay” [27, tr.8]; “Có thể dễ dàng nhận thấy cả ba chuyên ngành này đều nằm trong một khoa học tổng thể về con người và văn hóa” [27, tr. Bên cạnh ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết, ngôn ngữ biểu tượng thông qua ký hiệu và ý nghĩa biểu đạt của nó cho phép con người ở nhiều nền văn minh khác nhau, nhiều vùng văn hóa khác nhau có thể giao tiếp và hòa nhập với nhau. “Ngôn ngữ biểu tượng được hình thành từ các ký hiệu, và nó cũng chính là ngôn ngữ biểu đạt của các ký hiệu” [27, tr. Ngôn ngữ biểu tượng ra đời, tồn tại và tác động sâu sắc đến đời sống văn hóa xã hội của con người.
Vì vậy, “ngôn ngữ biểu tượng chính là công cụ để giải mã các thành tố văn hóa được sản sinh trong đời sống của con người”[27, tr. Ở chuyên mục “Nghiên cứu biểu tượng từ góc nhìn ký hiệu học” trong công trình Nghiên cứu biểu tượng - Một số hướng tiếp cận lý thuyết, tác giả Đinh Hồng Hải đã đưa ra một số khái niệm và mô hình mà các nhà khoa học trên thế giới đã thực hiện dưới góc nhìn ký hiệu học. Từ những phân tích và lập luận chặt chẽ, tác giả cho rằng: Có thể nói, ký hiệu là bộ môn khoa học đóng vai trò nền tảng cho khoa học nghiên cứu về biểu tượng. Phương pháp tiếp cận rõ ràng, khúc chiết của ký hiệu học giúp cho các nhà khoa học có thể tránh được những “đặc tính khó lường” của biểu tượng - đó là tính trừu tượng và đa nghĩa.
Tuy nhiên, tác giả cũng cho rằng, nghiên cứu biểu tượng từ góc nhìn ký hiệu học vẫn còn hạn chế khi “giải nghĩa một thành tố văn hóa trong môi trường sống của nó” [26]. Điều này được giải quyết với lợi thế của phương pháp tiếp cận nhân học. Với góc độ tiếp cận hết sức rộng lớn, cách tiếp cận nhân học sẽ “liên kết và giải thích về 11 các sự kiện thông qua biểu tượng luận với các cấu trúc xã hội và các sự kiện xã hội trong những điều kiện cụ thể” [27, tr. Công trình “Quan điểm của các nhà nhân học về vấn đề sử dụng biểu tượng” của tác giả Raymond Firth (Đinh Hồng Hải dịch) [83, tr.65-77] cho chúng ta một cái nhìn tổng quan về các quan điểm của các nhà nhân học trên thế giới, giúp chúng ta hiểu thêm về việc sử dụng nhân học cùng với hướng nghiên cứu liên ngành như là hướng đi khả dĩ trong quá trình nghiên cứu biểu tượng.
Tóm lại, biểu tượng chỉ có thể được giải mã trên cơ sở liên ngành với nhiều hướng tiếp cận. Hiện nay, ký hiệu học, nhân học, ngôn ngữ học được xem là những hướng tiếp cận hiệu quả, tối ưu để bóc tách lớp nghĩa của biểu tượng. Ba hướng tiếp cận này có mối quan hệ hữu cơ, bổ khuyết cho nhau trong quá trình giải mã ý nghĩa, giá trị của biểu tượng trong môi trường “sống” của nó. Các công trình nghiên cứu liên quan đến rắn, naga, rồng Sùng bái tự nhiên là một hình thức tín ngưỡng vào loại sớm nhất và phổ biến ở hầu hết các tộc người trên thế giới.
Rắn trong văn hóa các dân tộc trên thế giới chủ yếu được các nhà nghiên cứu đề cập đến ở khía cạnh tín ngưỡng sùng bái tự nhiên - thuộc hình thức thờ cúng động vật của hệ tín ngưỡng nguyên thủy. Qua tìm hiểu tài liệu, chúng tôi đã thu nhận được một số công trình nghiên cứu cơ bản về tục thờ và huyền thoại về rắn của một số nước trên thế giới. Các công trình liên quan đến Naga ở Ấn Độ Chúng ta được tiếp cận những văn bản cổ kính nhất của Ấn Độ là sách Vệ đà - thơ ca, ngụ ngôn và truyện hoang đường bằng tiếng Phạn cổ. Azhi là một thần ác của vũ trụ được miêu tả như một con rắn.
Cũng có quan niệm cho rằng, rắn là rồng thường xuất hiện với ý nghĩa nước gắn chặt với các hiện tượng tự nhiên, nguồn gốc của cải và sự bình ổn; phổ biến ở Ấn Độ, rồng được xem là xuất phát từ ba đối tượng đặc biệt được tôn thờ là Naga, Makara và Jalebha. Trong kinh Vệ đà, hình tượng Rắn thần Vritra được miêu tả như một vị thần canh giữ những dòng sông, nó chiếm và uống sạch các nguồn nước, làm cho mặt đất khô cạn. Cho đến khi nó bị thần Inđra tiêu diệt thì các dòng sông lại được khơi thông. Bộ lạc Vadi ở miền Tây Ấn Độ được mệnh danh là bộ lạc thôi miên rắn.
Các đứa trẻ của bộ lạc này được đưa vào trường dạy đặc biệt để làm quen, ứng xử với rắn từ lúc 2 tuổi, đến năm 12 tuổi thì nó đã có thể biết được tất cả những gì liên quan đến 12 rắn. Vốn là một bộ lạc sống theo lối du mục, chủ yếu trên các sa mạc rộng lớn, cư dân Vadi xem rắn như một vị thần linh, một người bạn, một thành viên của cộng đồng. Stephen Oppenheimer trong công trình Địa đàng ở phương Đông đã dẫn ra dẫn ra tư liệu: Heracles đã giết chết thần rắn nước là con cháu của thần Typhon,… [89, tr. Các khái niệm về Rắn thần Naga được tìm thấy đầu tiên ở các lễ tục sùng bái rắn của cư dân nông nghiệp Dravida, cư dân nơi đây xem rắn là vật tổ của dân tộc mình.
Sau này, khi dân tộc Arya đồng hóa các loại hình tín ngưỡng bản địa của Ấn Độ vào tôn giáo Balamon thì Naga trở thành linh vật thiêng của Balamon giáo thời kỳ hậu Vệ đà. Các tích thần thoại về thần rắn Naga đều được thể hiện trong các bộ sử thi nổi tiếng của Ấn Độ. Về sau, hầu hết các công trình nghiên cứu về Rắn thần Naga ở Ấn Độ xuất hiện rải rác trong các bài viết, công trình nghiên cứu đến rắn, rồng, naga ở các dân tộc vùng Đông Nam Á, người Việt, người Chăm, Khmer Nam Bộ. Văn hoá Ấn Độ ảnh hưởng đến Phù Nam vào những năm đầu Công nguyên, rắn Naga của Ấn Độ đã hội nhập vào tín ngưỡng bản địa thờ rắn của các tộc người sinh sống nơi đây.
Theo Lịch sử thiên văn học về Ấn Độ [102] “Khởi thuỷ của người Ấn được mô tả trong Veda là một trạng thái hỗ mang. Nước được sinh ra đầu tiên rồi mới đến lửa”. Tác giả Nguyễn Tấn Đắc trong Văn hoá Ấn Độ: “Thần mưa được xưng tụng rất nhiều trong Veda. Indra được ca ngợi rất nhiều trong sự tích giết quái vật Vitra, con rắn đen, hình ảnh những đám mây mù giữ nước trên trời, để cho mưa rơi xuống đất.
Thần mưa là vị thần bảo vệ con người, mang lại sự sống cho vạn vật” [19, tr. Trong bài viết của Ngô Minh Trung, Ngô Minh Đức “Ý nghĩa biểu tượng rắn Naga trong đời sống của người Ấn Độ” tác giả đã phân tích một số ý nghĩa biểu tượng rắn Naga và một số nghi lễ thờ rắn Naga trong đời sống của người Ấn Độ. Trong đó, chúng tôi đặc biệt quan tâm đến các ý nghĩa của biểu tượng Rắn thần Naga mà tác giả đã phân tích như: sự bất tử, sự hồi sinh, hủy diệt, phá hoại, tình yêu, các ham muốn…Những cứ liệu khoa học này giúp chúng tôi có thêm những minh chứng về sự phong phú các trường lớp ý nghĩa biểu tượng Rắn thần Naga. Đây cũng được xem là những ý nghĩa khởi nguyên của Rắn thần Naga trong văn hóa Ấn Độ, giúp chúng tôi tiếp tục đi tìm những ý nghĩa phái sinh mới của Rắn thần Naga khi được du nhập qua các nền văn hóa khác [72].