Chương 1: Mô ̣t số vấ n đề lý luâ ̣n về quyế t đinh ̣ truy tố của Viê ̣n kiể m. sát Chương 2: Quy đinh ̣ của pháp luâ ̣t tố tu ̣ng hình sự về quyế t đinh ̣ truy tố của Viê ̣n kiể m sát và thực tiễn áp du ̣ng ta ̣i tin ̉ h Phú Tho .̣ Chương 3: Mô ̣t số gi ải pháp nâng cao hiệu quả quyết định truy tố của Viện kiể m sát. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYẾT ĐINH ̣ TRUY TỐ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 1. Khái niệm, đặc điểm của quyết định truy tố 1.
Khái niệm quyết định truy tố Truy tố là từ Hán Việt nếu chiết tự có nghĩa là: (i) đưa một sự việc ra trước công luận, công đường (tố) và (ii) làm rõ đến tận cùng sự việc này từ thời điểm sự việc xảy ra (truy). Truy tố trong ngôn ngữ hiện đại được hiểu là thực hiện việc buộc tội một người ra trước tòa án để xét xử. Truy tố là một công đoạn quan trọng trong quá trình buộc tội hay quá trình truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội. Khi pháp luật trao quyền này cho Nhà nước thì một chủ thể đại diện cho Nhà nước hay một cơ quan nhà nước được quy định có chức năng thực hành quyền công tố sẽ thực hiện việc truy tố.
Truy tố trở thành một quyết định hoặc hành vi tố tụng của chủ thể thực hành quyền công tố, là quyết định hoặc hành vi tố tụng tiêu biểu thể hiện quyền công tố, thể hiện chức năng thực hành quyền công tố của một cơ quan Nhà nước có thẩm quyền [5, tr. Quyền công tố là quyền của Nhà nước, do đó, về nguyên tắc, truy tố do Nhà nước quyết định không phụ thuộc vào việc người phạm tội hay nạn nhân có muốn truy tố hay không. Cơ quan thực hành quyền công tố đại diện cho Nhà nước truy tố người phạm tội có thể có những tên gọi khác nhau như Viện kiểm sát/Viện công tố/ Chưởng lý/ Biện lý thực hiện, một số quốc gia như Singapore, Pháp còn giao thẩm quyền truy tố cho cơ quan cảnh sát, hải quan, cơ quan phòng chống ma túy… trong một số vụ án khinh tội, chứng cứ rõ ràng. Khi nhận được kết quả điều tra, cơ quan Công tố phải quyết định có đưa vụ án ra toà hay không.
Để ra quyết định truy tố, cơ quan Công tố phải đánh giá đầy đủ các căn cứ để xem xét khả năng bị cáo có thể bị kết tội (tại toà) hay không. Quá trình điều tra có thể có những thiếu sót về chứng cứ, về áp dụng pháp luật hoặc có căn cứ khác dẫn đến việc không thể truy tố tội phạm. Khi quyết định truy tố hoặc không truy tố, cả lợi ích chung và lợi ích cá nhân người phạm tội đều phải được cân nhắc để không 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ảnh hưởng đến nguyên tắc hợp pháp và bảo đảm sự cân bằng giữa lợi ích chung và lợi ích cá nhân [6, tr. Liên quan đế n vấ n đề truy tố , chúng ta có hai khái niệm c ần làm rõ , đó là truy tố trong tố tu ̣ng hình sự với tư cách là một quyết định/hành vi tố tụng như đã đề cập, và ngoài ra , truy tố còn có thể với tư cách là một giai đoa ̣n t ố tụng – giai đoạn truy tố trong tố tu ̣ng hình sự.
Về truy tố với tư cách là một giai đoạn trong tố tụng hình sự, ở Việt Nam hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về việc truy tố có phải là một giai đoa ̣n độc lập trong tố tu ̣ng hình sự như các giai đo ạn khởi tố , điề u tra , truy tố , xét xử hay không. Quan điểm của trường Đại học Luật Hà Nội trong các Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam coi đây là một giai đoạn độc lập [47, tr. Trong khi đó, lại có quan điểm căn cứ vào luật thực định (BLTTHS năm 1988, năm 2003) không quy định rõ truy tố là một giai đoạn tố tụng nên cũng không khẳng định đây là một giai đoạn độc lập [20, tr. Chúng tôi cho rằng, tính độc lập của giai đoạn truy tố có thể được khẳng định nếu xét trên các phương diện sau đây: Thứ nhất, giai đoạn truy tố có một nhiệm vụ tố tụng riêng so với các giai đoạn tố tụng khác, đó là quyết định việc buộc tội chính thức để đưa người bị buộc tội này ra xét xử trước Tòa án.
Giai đoạn này còn có các nhiệm vụ cụ thể khác do luật định, đó là kiểm tra lại tính hợp pháp và có căn cứ của toàn bộ các hành vi tố tụng mà cơ quan Điều tra có thẩm quyền đã áp dụng để bảo đảm cho các quyết định của Viện kiểm sát được chính xác và khách quan, góp phần truy cứu trách nhiệm hình sự đúng tội, đúng người và đúng pháp luật [6, tr. Quyết định truy tố của Viện kiểm sát thông qua bản cáo trạng thể hiện hoạt động chứng minh trên cơ sở các tài liệu của hồ sơ của vụ án (nhất là kết luận điều tra) tính chất lỗi của hành vi phạm tội, lỗi của bị cáo trong việc thực hiện tội phạm để góp phần có hiệu quả trong việc chuẩn bị cho giai đoạn xét xử của Tòa án, loại trừ những thiếu sót hoặc hậu quả tiêu cực tiếp theo có thể xảy ra do việc xét xử thiếu công minh, vô căn cứ và không đúng pháp luật, tránh bỏ lọt tội phạm và làm oan những người vô tội. Thứ hai, giai đoạn truy tố là giai đoạn tố tụng gắn với một cơ quan tiến hành 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tố tụng đặc thù, là giai đoạn mà thẩm quyền chủ yếu thuộc về Viện kiểm sát, cơ quan nhà nước theo quy định của Hiến pháp có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Điều này có nghĩa là Viện kiểm sát nhân danh Nhà nước thực hiện việc buộc tội nghi can trước Tòa án để xét xử.
Viện kiểm sát căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự tiến hành các biện pháp cần thiết nhằm đánh giá một cách toàn diện, khách quan các tài liệu của vụ án hình sự (bao gồm cả kết luận điều tra và quyết định đề nghị truy tố) do Cơ quan điều tra chuyển đến và trên cơ sở đó Viện kiểm sát ra quyết định: Truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng (kết luận về tội trạng); Trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc là đình chỉ hay tạm đình chỉ vụ án hình sự [20, tr. Thứ ba, giai đoạn truy tố có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc riêng biệt. Thời điểm bắt đầu của giai đoạn này được bắt đầu từ khi Viện kiểm sát nhận được các tài liệu của vụ án hình sự (bao gồm cả kết luận điều tra và đề nghị truy tố) do Cơ quan điều tra chuyển đến và kết thúc bằng việc Viện kiểm sát ra một trong ba loại quyết định sau: 1) Truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng (kết luận về tội trạng), 2) Trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc là 3) Đình chỉ hay tạm đình chỉ vụ án hình sự tương ứng [20, tr. Thứ tư, các hoạt động nội dung của giai đoạn truy tố với thành phẩm là Viện kiểm sát ra được các quyết định.
Quyết định truy tố có thể được hiểu theo 2 nghĩa: Quyết định việc truy tố và quyết định truy tố bị can bằng bản cáo trạng. Quyết định truy tố là quyết định việc truy tố có nghĩa rộng hơn, Viện kiểm sát đưa ra các quyết định xử lý khác nhau, trong đó phổ biến nhất là quyết định truy tố bị can bằng bản cáo trạng. Quyết định truy tố nếu hiểu là Quyết định truy tố bằng bản cáo trạng thì phạm vi tiếp cận hẹp hơn, tương ứng với một quyết định tố tụng điển hình nhất, đặc trưng của Viện kiểm sát là bản cáo trạng (quyết định truy tố bị can). Trong số các quyết định được ban hành ở giai đoạn truy tố thì quyết định truy tố bị can bằng bản cáo trạng là quyết định quan trọng nhất.
Giai đoạn này có quyết định tố tụng đặc thù - bản cáo trạng thể hiện quan điểm của Viện kiểm sát - cơ quan thay mặt nhà nước thực hiện quyền buộc tội người phạm tội về hành vi 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phạm tội của bị can. Bản cáo trạng nếu được thực hiện tốt, chi tiết, chính xác có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện việc truy tố chính xác. Bản cáo trạng là văn bản pháp lý do VKSND ban hành, thực hiện quyền công tố nhà nước, sau khi xác định được các yếu tố đủ để thực hiện việc truy tố đối với bị can và những hành vi phạm tội của họ trước Tòa án [20, tr. Bản cáo trạng phải ghi rõ ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm xảy ra tội phạm; thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội, hậu quả của tội phạm và những tình tiết quan trọng khác; những chứng cứ xác định tội trạng của bị can, những tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân của bị can và mọi tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án.
Phần kết luận của bản cáo trạng ghi rõ tội danh và điều khoản của Bộ luật hình sự được áp dụng. Và sau khi ban hành bản cáo trạng trong thời hạn ba ngày VKSND phải gửi bản cáo trạng cho Tòa án cùng với hồ sơ vụ án. Kết thúc giai đoạn truy tố, ngoài việc ban hành quyết định truy tố bằng bản cáo trạng, VKSND cùng cấp còn có thể ban hành quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung khi có căn cứ nhất định. Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung do VKSND thực hiện khi có những căn cứ: Còn thiếu những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà Viện kiểm sát không thể tự mình bổ sung được; Có căn cứ để khởi tố bị can về một tội phạm khác hoặc có người đồng phạm khác; Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
Bên cạnh đó, trong giai đoạn truy tố VKSND còn có thể ban hành quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án khi có các căn cứ nhất định [20, tr.