Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYẾT ĐINH ̣ HÌNH PHẠT TÙ ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI 1. Những khái niệm có liên quan 1. Khái niệm người dưới 18 tuổi Tuổ i là mô ̣t hin ̀ h thức xác đinh ̣ khoảng cách thơ gian ̀ i của mô ̣t sự vâ ̣t tiń h từ lúc hình thành đến một thời điểm nhất định. Trong khoa ho ̣c xã hô ̣i- nhân văn và khoa ho ̣c pháp ly,́ tuổ i của con người đươ ̣c xác đinh ̣ từ ngày sinh đế n thời điể m cầ n tính toán.
Theo Đa ̣i từ điể n tiế ng Viê ̣t của Nguyễn Như Y,́ tuổ i là "thời gian đã qua kể từ khi sinh tính bằng năm đến một thời điểm nào đó" [60, tr. Về khái niê ̣m "năm" theo quy ước hiê ̣n nay trong khoa ho ̣c pháp lý của Viê ̣t Nam là "năm dương li ̣ch" (tính theo lịch Gregory). Lịch Gregory chia một năm thành 12 tháng với 365 ngày, cứ 4 năm thì thêm 1 ngày vào cuối tháng 2 tạo thành năm nhuận. Như vâ ̣y, người dưới 18 tuổ i được xác định là người tính từ ngày sinh đến thời điểm cần tính chưa đủ 18 năm dương li ̣ch.
Chẳ ng ha ̣n , mô ̣t người sinh ngày 01/01/1999 thì từ ngày 01/01/1999 đến hết ngày 31/12/2017 đươ ̣c xác định là người dưới 18 tuổ i. Trong quá trình giải quyết một vụ việc mang tính hình sự hoặc một vụ án hình sự, việc xác định chính xác tuổi của bị can, bị cáo, người bị hại hoặc những đối tượng liên quan có ý nghĩa quan trọng để xác định trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự, áp dụng biện pháp ngăn chặn, xác định các tình tiết định khung, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Theo quy luâ ̣t phát triể n , không phải từ khi sinh ra con người đã có nhận thức đầy đủ về tự nhiên, xã hội và về chính mình. Khả năng nhận thức được những đòi hỏi của xã hội không tồn tại một cách bẩm sinh mà là kết quả của quá trình sống, quá trình hoạt động giao tiếp trong môi trường xã hội 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong một thời gian nhất định.
Khi khả năng nhận thức những đòi hỏi của con người đạt đến được giới hạn nhất định thì họ mới hiểu được quyền và nghĩa vụ của mình trong đời sống xã hội, mới thấy được những đòi hỏi của xã hội đối với họ và từ đó mới có thể đánh giá được ý nghĩa xã hội của hành vi mà mình đã thực hiện [17, tr. Ở Việt Nam, người được coi là có nhận thức đầy đủ là người từ đủ 18 tuổi trở lên; người dưới 18 tuổi - hay còn gọi là người chưa thành niên là “người chưa đến tuổi được pháp luật công nhận với đầy đủ các quyền và nghĩa vụ”. Điều này được ghi nhận thống nhất trong Hiến pháp 2013, Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật Lao động, Bộ luật Dân sự và một số văn bản quy phạm pháp luật khác. Khái niệm người dưới 18 tuổ i trong các văn bản pháp luâ ̣t ở Viê ̣t Nam hiê ̣n nay là sự cu ̣ thể hóa các khái niệm tổng quát “người chưa thành niên ”, “trẻ vị thành niên ” hay “trẻ em ” ở nhiều quốc gia cũng như các công ước quố c tế.
Công ước Quốc tế về quyền trẻ em được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 20/11/1989 tại quy định như sau: “Trong phạm vi của Công ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” [56, tr. Như vậy, độ tuổi của trẻ em được pháp luật quốc tế quy định là “người dưới 18 tuổi”. Bên cạnh, Công ước về quyền trẻ em thì Quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên hợp quốc về việc áp dụng pháp luật đối với NCTN hay còn gọi là Quy tắc Bắc Kinh (United Nations Standard Minimum Rules for the Administration of Juvenile Justice/Beijing Rules) do Đại hội đồng Liên hiệp quốc thông qua ngày 29/11/1985 cũng là một văn bản pháp luật quốc tế quan trọng đề cập đến khái niệm “Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi” như là một sự kế thừa của Công ước về Quyền trẻ em, thông qua các quy định cũng giúp chúng ta hiểu NCTN là người dưới 18 tuổi [56, tr. Như vậy, tại Việt Nam, người dưới 18 tuổi là người chưa đủ 18 tuổi.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Khái niệm người dưới 18 tuổi pham ̣ tội Thuâ ̣t ngữ "người dưới 18 tuổ i phạm tội " đươ ̣c xác đinh ̣ dựa trên khái niê ̣m tô ̣i pha ̣m nói chung và tuổ i chiụ trách nhiê ̣m hình sự trong pháp luật hình sự. Như đã phân tích ở trên, tùy theo mỗi quốc gia với những điều kiện kinh tế, xã hội khác nhau mà pháp luật của quố c gia đó quy định độ tuổi cũng như tên go ̣i của nhóm đố i tươ ̣ng chưa thành niên khác nhau. Ở Việt Nam , người dưới 18 tuổi được gọi là người chưa thành niên (NCTN) được các nhà làm luật sử dụng với tư cách vừa là đối tượng tác động của tội phạm vừa là chủ thể thực hiện tội phạm.
Với tư cách là chủ thể thực hiện tội phạm, NCTNPT là khái niệm không những mang tính pháp lý mà còn có ý nghĩa chính trị xã hội sâu sắc. Bộ luật hình sự năm 1999 quy định NCTN là những người chưa đủ 18 tuổi, nhưng chỉ những NCTN từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi mới có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi nguy hiểm cho xã hội do mình thực hiện. Còn NCTN dưới 14 tuổi thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về những tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, còn NCTN từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm (Điều 12 BLHS 1999).
Như vâ ̣y, có thể đưa ra khái niệm về người dưới 18 tuổi pha ̣m tô ̣i như sau: “Người dưới 18 tuổi phạm tội là người từ đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà BLHS quy định là tội phạm”. Khái niệm quyết định hình phạt tù Hình phạt là một phạm trù pháp lý và xã hội phức tạp, mang tính khách quan, gắn liền với sự xuất hiện của nhà nước và pháp luật. Vì thế nó được nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau như triết học, thần học, giáo dục học, đạo đức học, tâm lý học, tội phạm học, khoa học Luật hình sự [46, tr. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong lĩnh vực khoa học luật hình sự, quan điể m về hiǹ h pha ̣t đươ ̣c các nhà khoa học trong và ngoài nước chia thành ba loại [46, tr.
143-156]: Quan điểm thứ nhất, coi hình phạt là công cụ trừng trị, trả thù của Nhà nước dựa theo học thuyết trừng trị hay còn gọi là học thuyết hình phạt tuyệt đối do I. Hegel, là những triết gia người Đức chủ trương [49, tr. Quan niệm thứ hai, coi hình phạt là công cụ phòng ngừa tội phạm. Học thuyết về phòng ngừa tội phạm của hình phạt hay còn gọi là học thuyết hình phạt tương đối do Cesare Beccaria, một luật gia người Italia khởi xướng [46, tr.
Quan niệm thứ ba, coi hình phạt không chỉ có mục đích trừng trị mà còn có mục đích phòng ngừa tội phạm. Những người đại diện cho quan niệm này là A. Theo Từ điển Luật hình sự của Association Henri Capitant (1995): Hình phạt là sự trừng trị được luật quy định để phòng ngừa và trấn áp hành vi cấu thành tội phạm gây tổn hại đến trật tự xã hội.; sự trừng trị buộc người phạm tội phải chịu trong lĩnh vực hình sự thuộc quyền của thẩm phán hình sự, chiểu theo quy định của pháp luật. Hoă ̣c, theo Giáo trình Luật hình sự Phần chung của Jescheck, Weigend (1996) thì: Hình phạt là sự đền bù của hành vi trái pháp luật nghiêm trọng bằng việc trừng trị các điều ác được làm thích ứng với mức độ của sự bất công và lỗi.
Nó là sự khiển trách công khai hành vi trái pháp luật, qua đó khôi phục lại công lý. Ngoài ra, hình phạt cần phải mở rộng sự tác động tích cực vào người phạm tội. Ở Việt Nam , khoa học luật hình sự và luật hình sự không thừa nhận quan điểm coi hình phạt là công cụ trả thù người phạm tội vì tội phạm mà họ đã thực hiện [42, tr. 27]; không thừa nhận hình phạt có mục đích làm cho người phạm tội khiếp sợ, hành hạ thể xác, xúc phạm nhân phẩm, danh dự của người phạm tội mà vẫn coi người phạm tội là chủ thể của các quan hệ xã hội, 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com là con người có thể giáo dục, cải tạo trở thành người có ích cho xã hội.
Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc của Nhà nước, được luật quy định, do Tòa án áp dụng đối với người bị kết án và được thể hiện ở việc tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người đó nhằm giáo dục, cải tạo và phòng ngừa tội phạm. Hình phạt tù là loại hình phạt có lịch sử lâu đời và được quy định hầu hết trong pháp luật hình sự của các nước trên thế giới, hình phạt tù được áp dụng phổ biến và mang lại hiệu quả cao trong việc giáo dục, cải tạo người phạm tội. Sự hạn chế tự do của người bị kết án tù có thời hạn là nội dung pháp lý chủ yếu của loại hình phạt này, là hình phạt phổ biến nhất trong các loại hình phạt của bất cứ quốc gia nào. Tù có thời hạn vẫn có ý nghĩa xã hội trong điều kiện hiện nay ở nước ta, ý nghĩa đó thể hiện ở chỗ nó cho phép xã hội cách ly những người có mức độ nguy hiểm lớn đối với xã hội, nó vừa đảm bảo được giáo dục và phòng ngừa riêng lại vừa đảm bảo được giáo dục và phòng ngừa chung [47, tr.
Xét về mặt bản chất, tù có thời hạn là một hiện tượng có mâu thuẫn nội tại của nó. Một mặt nó giữ người phạm tội không thể gây nguy hại cho đối tượng mà luật hình sự bảo vệ nhưng lại gây ra yếu tố tiêu cực đối với người bị kết án, mà xét trong hoàn cảnh bình thường, xã hội không hề muốn có đối với công dân của mình.