Luận văn thạc sĩ về các loại người đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu vnu ls một số vấn đề lý luận và thực tiễn về những loại người đồng phạm trong luật hình sự việt nam, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật Hình sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2012

116
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NHỮNG LOẠI NGƯỜI ĐỒNG PHẠM TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1. Khái niệm đồng phạm và các hình thức đồng phạm

1.1.1. Khái niệm đồng phạm

1.1.2. Các hình thức đồng phạm

1.1.3. Những loại người đồng phạm

1.1.3.1. Người thực hành
1.1.3.2. Người tổ chức
1.1.3.3. Người xúi giục
1.1.3.4. Người giúp sức

1.1.4. Trách nhiệm hình sự đối với những loại người đồng phạm

1.1.4.1. Nguyên tắc xác định trách nhiệm hình sự đối với những người đồng phạm trong trường hợp đồng phạm hoàn thành
1.1.4.2. Trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm trong trường hợp đồng phạm chưa hoàn thành
1.1.4.3. Trách nhiệm hình sự của người thực hành trong các giai đoạn thực hiện tội phạm
1.1.4.4. Trách nhiệm hình sự đối với người tổ chức trong các giai đoạn thực hiện tội phạm
1.1.4.5. Trách nhiệm hình sự đối với người xúi giục trong các giai đoạn thực hiện tội phạm
1.1.4.6. Trách nhiệm hình sự đối với người giúp sức trong các giai đoạn thực hiện tội phạm
1.1.4.7. Trách nhiệm hình sự của những loại người đồng phạm trong trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội
1.1.4.7.1. Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội của người thực hành
1.1.4.7.2. Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội của người tổ chức
1.1.4.7.3. Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội của người xúi giục
1.1.4.7.4. Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội của người giúp sức

2. CHƯƠNG 2: CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VỀ NHỮNG LOẠI NGƯỜI ĐỒNG PHẠM

2.1. Các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về những loại người đồng phạm

2.1.1. Giai đoạn từ Sau cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước pháp điển hóa lần thứ nhất - Bộ luật hình sự năm 1985

2.1.2. Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 cho đến nay

2.2. Các quy định của pháp luật hình sự một số nước trên thế giới về những loại người đồng phạm

2.2.1. Bộ luật hình sự Liên bang Nga

2.2.2. Bộ luật hình sự Trung Quốc

2.2.3. Bộ luật hình sự Nhật Bản

2.2.4. Bộ luật hình sự Vương quốc Bỉ

2.2.5. Bộ luật hình sự Cộng hòa Liên bang Đức

3. CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN XÁC ĐỊNH NHỮNG LOẠI NGƯỜI ĐỒNG PHẠM, VẤN ĐỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VỀ NHỮNG LOẠI NGƯỜI ĐỒNG PHẠM

3.1. Thực tiễn xác định những loại người đồng phạm theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999

3.2. Thực tiễn xét xử những loại người đồng phạm theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999

3.3. Các quy định về mặt lập pháp liên quan đến vấn đề những loại người đồng phạm

3.4. Vấn đề hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về những loại người đồng phạm

3.4.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về những loại người đồng phạm

3.4.2. Nội dung sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự năm 1999 về những loại người đồng phạm

3.5. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về những loại người đồng phạm

3.5.1. Tăng cường giải thích pháp luật, hướng dẫn áp dụng pháp luật

3.5.2. Nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ý thức pháp luật và trách nhiệm nghề nghiệp của đội ngũ thẩm phán Tòa án các cấp

3.5.3. Tăng cường kiểm sát việc áp dụng pháp luật hình sự liên quan đến những loại người đồng phạm của Viện kiểm sát nhân dân

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về các loại người đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam

Trong luật hình sự Việt Nam, đồng phạm là một khái niệm quan trọng, thể hiện sự tham gia của nhiều người trong việc thực hiện một tội phạm. Khái niệm này không chỉ đơn thuần là việc nhiều người cùng thực hiện hành vi phạm tội, mà còn bao gồm các hình thức và vai trò khác nhau của từng người trong nhóm. Việc hiểu rõ về các loại người đồng phạm giúp nâng cao hiệu quả trong công tác phòng chống tội phạm.

1.1. Khái niệm và ý nghĩa của đồng phạm trong luật hình sự

Khái niệm đồng phạm được quy định tại Điều 20 Bộ luật hình sự năm 1999, nhấn mạnh rằng đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm. Điều này cho thấy sự liên kết chặt chẽ giữa các đối tượng tham gia, từ đó làm tăng tính nguy hiểm cho xã hội.

1.2. Các hình thức đồng phạm phổ biến trong thực tiễn

Có nhiều hình thức đồng phạm khác nhau, bao gồm người thực hành, người tổ chức, người xúi giục và người giúp sức. Mỗi hình thức đều có vai trò và trách nhiệm riêng trong việc thực hiện tội phạm, từ đó ảnh hưởng đến mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội.

II. Vấn đề và thách thức trong việc xác định người đồng phạm

Việc xác định các loại người đồng phạm trong thực tiễn gặp nhiều thách thức. Các yếu tố như sự phức tạp trong hành vi phạm tội, sự liên kết giữa các đối tượng và cách thức thực hiện tội phạm đều ảnh hưởng đến việc xác định trách nhiệm hình sự. Điều này đòi hỏi các cơ quan chức năng phải có những biện pháp cụ thể để xử lý.

2.1. Những khó khăn trong việc xác định vai trò của từng người đồng phạm

Trong nhiều vụ án, việc phân định vai trò của từng người trong nhóm đồng phạm không hề đơn giản. Các yếu tố như sự đồng thuận, sự tham gia tích cực hay thụ động đều cần được xem xét kỹ lưỡng để xác định trách nhiệm hình sự.

2.2. Thực trạng áp dụng pháp luật về đồng phạm hiện nay

Thực tiễn áp dụng pháp luật về đồng phạm hiện nay cho thấy nhiều bất cập. Các quy định chưa rõ ràng, dẫn đến việc áp dụng không đồng nhất giữa các cơ quan tư pháp, gây khó khăn trong việc xử lý các vụ án có liên quan đến đồng phạm.

III. Phương pháp xác định trách nhiệm hình sự đối với người đồng phạm

Để xác định trách nhiệm hình sự của các loại người đồng phạm, cần áp dụng các phương pháp cụ thể. Việc phân tích hành vi, vai trò và mức độ tham gia của từng người là rất quan trọng trong quá trình điều tra và xét xử.

3.1. Nguyên tắc xác định trách nhiệm hình sự trong đồng phạm

Nguyên tắc xác định trách nhiệm hình sự đối với người đồng phạm dựa trên sự tham gia của họ vào hành vi phạm tội. Mỗi người sẽ chịu trách nhiệm tương ứng với vai trò và mức độ tham gia của mình trong vụ án.

3.2. Các giai đoạn thực hiện tội phạm và trách nhiệm hình sự

Trách nhiệm hình sự của người đồng phạm có thể được xác định qua các giai đoạn thực hiện tội phạm. Từ giai đoạn chuẩn bị, thực hiện đến giai đoạn kết thúc, mỗi giai đoạn đều có thể ảnh hưởng đến mức độ trách nhiệm của từng người.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về đồng phạm

Nghiên cứu về các loại người đồng phạm không chỉ mang tính lý luận mà còn có giá trị thực tiễn cao. Việc áp dụng các quy định pháp luật về đồng phạm trong thực tiễn sẽ giúp nâng cao hiệu quả trong công tác phòng chống tội phạm.

4.1. Các vụ án điển hình liên quan đến đồng phạm

Nhiều vụ án điển hình đã cho thấy sự phức tạp trong việc xác định người đồng phạm. Các vụ án này không chỉ phản ánh thực trạng tội phạm mà còn chỉ ra những khó khăn trong việc áp dụng pháp luật.

4.2. Đánh giá hiệu quả áp dụng pháp luật về đồng phạm

Đánh giá hiệu quả áp dụng pháp luật về đồng phạm cho thấy cần có những cải cách trong quy định pháp luật để phù hợp với thực tiễn. Việc này sẽ giúp nâng cao hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.

V. Kết luận và hướng phát triển trong nghiên cứu về đồng phạm

Nghiên cứu về các loại người đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam cần được tiếp tục mở rộng và sâu sắc hơn. Việc hoàn thiện các quy định pháp luật sẽ góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác phòng chống tội phạm.

5.1. Tầm quan trọng của việc hoàn thiện quy định pháp luật

Việc hoàn thiện quy định pháp luật về đồng phạm là cần thiết để đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Các quy định cần rõ ràng và cụ thể hơn để tránh những bất cập trong áp dụng.

5.2. Định hướng nghiên cứu trong tương lai

Nghiên cứu trong tương lai cần tập trung vào việc phân tích sâu hơn về các loại người đồng phạm, từ đó đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls một số vấn đề lý luận và thực tiễn về những loại người đồng phạm trong luật hình sự việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NHỮNG LOẠI NGƯỜI ĐỒNG PHẠM TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. KHÁI NIỆM ĐỒNG PHẠM VÀ CÁC HÌNH THỨC ĐỒNG PHẠM 1. Khái niệm đồng phạm "Đồng" theo Từ điển tiếng Việt nghĩa là cùng như nhau, không thể khác được. "Phạm" là làm tổn hại đến cái cần tôn trọng, mắc phải điều cần tránh.

Đồng phạm nghĩa là cùng phạm tội hiểu theo nghĩa của luật hình sự" [Dẫn theo 3, tr. Nghiên cứu lịch sử lập pháp hình sự của nước ta, chúng ta thấy vấn đề đồng phạm đã được luật hình sự Việt Nam quy định từ rất sớm nhưng mới chỉ xem xét ở một số khía cạnh nhất định, chưa có quy định về khái niệm đồng phạm. Cho đến khi BLHS năm 1985 được ban hành thì khái niệm pháp lý về đồng phạm mới chính thức được quy định tại khoản 1 Điều 17: "Hai hoặc nhiều người cố ý cùng thực hiện một tội phạm là đồng phạm", BLHS năm 1999 tiếp tục quy định khái niệm pháp lý về đồng phạm tại khoản 1 Điều 20 như sau: "Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm". Từ khái niệm pháp lý trên về đồng phạm và thực tiễn xét xử cho thấy, đồng phạm đòi hỏi phải có những dấu hiệu pháp lý về mặt khách quan và chủ quan như sau: - Về mặt khách quan Phải có sự cùng tham gia của từ hai người trở lên vào việc thực hiện tội phạm, những người này đều có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS; những người đồng phạm phải cùng chung hành động, có nghĩa là hành vi của mỗi người trong số họ đều nhằm thực hiện tội phạm, hoặc góp phần thực hiện 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tội phạm; giữa hành vi phạm tội của mỗi người và hậu quả phạm tội chung xảy ra phải có mối quan hệ nhân quả.

- Về mặt chủ quan Có sự cùng cố ý của tất cả những người phạm tội tham gia vào thực hiện tội phạm do cố ý với các dấu hiệu sau: Những người cùng tham gia vào việc thực hiện tội phạm đều biết được hoạt động phạm tội của mỗi người (hoặc một số người trong số họ); những người đồng phạm đều ý thức được hành vi phạm tội của mình và hành vi phạm tội của những người khác; những người đồng phạm cùng mong muốn hoặc có ý thức để mặc cho hậu quả chung nguy hiểm cho xã hội xảy ra. Lỗi của những người đồng phạm là lỗi cố ý trực tiếp hoặc lỗi cố ý gián tiếp. Lỗi của những người đồng phạm có thể đều là lỗi cố ý trực tiếp hoặc đều là cố ý gián tiếp và cũng có thể có trường hợp "Trong vụ đồng phạm có thể đồng thời có cả lỗi cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp" [35, tr. Tóm lại, theo chúng tôi khái niệm khoa học về đồng phạm có thể được hiểu như sau: Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự cố ý cùng tham gia thực hiện tội phạm do cố ý.

Các hình thức đồng phạm Hình thức đồng phạm là dạng biểu hiện bên ngoài, là phương thức tồn tại và phát triển của đồng phạm đồng thời là mối quan hệ tương đối bền vững giữa những người đồng phạm. Khoa học luật hình sự Việt Nam, "căn cứ vào những đặc điểm của mối quan hệ giữa những người đồng phạm về mặt chủ quan và khách quan để phân loại các hình thức đồng phạm" [56, tr. 180] như sau: a) Căn cứ vào dấu hiệu chủ quan, đồng phạm được phân loại thành đồng phạm có thông mưu trước và đồng phạm không có thông mưu trước. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Đồng phạm không có thông mưu trước: là hình thức đồng phạm trong đó giữa những người đồng phạm không có sự bàn bạc, thỏa thuận với nhau trước về việc tham gia thực hiện tội phạm.

Trong hình thức đồng phạm này, tuy giữa những người đồng phạm không có sự bàn bạc, thỏa thuận trước với nhau về việc thực hiện tội phạm, nhưng mỗi người đều nhận thức được họ cùng với những người đồng phạm khác đang thực hiện một tội phạm nhất định, hoạt động phạm tội của mỗi người trong số họ tiến hành trong sự liên hệ với nhau. - Đồng phạm có thông mưu trước: là hình thức đồng phạm trong đó những người đồng phạm có sự bàn bạc, thỏa thuận trước với nhau về tội phạm cùng tham gia thực hiện. Do có sự bàn bạc, thỏa thuận, tính toán kỹ càng chu đáo từ trước nên giữa những người đồng phạm có mối liên hệ chặt chẽ trong việc cùng tham gia thực hiện tội phạm chung. Do vậy, hình thức đồng phạm có thông mưu trước có mức độ nguy hiểm cho xã hội cao hơn hình thức đồng phạm không có thông mưu trước.

b) Căn cứ vào dấu hiệu khách quan, đồng phạm được phân loại thành đồng phạm giản đơn và đồng phạm phức tạp. - Đồng phạm giản đơn: là hình thức đồng phạm trong đó tất cả những cùng người tham gia vào việc thực hiện tội phạm đều có vai trò là người thực hành (người đồng thực hành). Có nghĩa là, mỗi người đồng phạm đều thực hiện hành vi khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm (CTTP) của điều luật được quy định trong Phần các tội phạm. - Đồng phạm phức tạp: là hình thức đồng phạm có sự phân công vai trò của những người cùng tham gia thực hiện tội phạm, trong đó ngoài một hoặc một số người có vai trò là người thực hành, còn có sự tham gia của những người đồng phạm khác như người tổ chức, người xúi giục hoặc người giúp sức.

Ở hình thức đồng phạm phức tạp chỉ có một hoặc một số người đồng phạm (người đồng thực hành) thực hiện hành vi khách quan được mô tả trong CTTP. 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com c) Căn cứ vào những đặc điểm khách quan và chủ quan của quan hệ giữa những người đồng phạm, đồng phạm được phân đồng phạm có tổ chức (phạm tội có tổ chức). - Phạm tội có tổ chức: là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm (khoản 3 Điều 20 BLHS năm 1999). Theo quy định tại khoản 3 Điều 20 BLHS năm 1999 thì trong đồng phạm có tổ chức, giữa những người cùng thực hiện tội phạm phải có sự câu kết chặt chẽ với nhau, có sự phân công vai trò, nhiệm vụ cụ thể, có sự tính toán và chuẩn bị kỹ càng, chu đáo trong việc cùng tham gia thực hiện tội phạm.

Theo hướng dẫn của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) tại Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 16/11/1988 hướng dẫn bổ sung Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 05/01/1986 khi giải thích khoản 3 Điều 20 BLHS năm 1999 về "Phạm tội có tổ chức" thì phạm tội có tổ chức phải có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm, sự câu kết này, theo hướng dẫn của Hội đồng thẩm phán TANDTC, có thể thể hiện dưới các dạng sau: a) Những người đồng phạm đã tham gia một tổ chức phạm tội như đảng phái, hội đoàn phản động, băng, ổ trộm, cướp… có những người chỉ huy, cầm đầu. Tuy nhiên, cũng có khi tổ chức phạm tội không có tên chỉ huy, cầm đầu mà chỉ là sự tập trung những người chuyên phạm tội đã thống nhất cùng nhau hoạt động phạm tội; b) Những người đồng phạm đã cùng nhau phạm tội nhiều lần theo một kế hoạch đã thống nhất trước; c) Những người đồng phạm chỉ thực hiện tội phạm một lần nhưng đã tổ chức thực hiện tội phạm theo một kế hoạch đã được tính toán kỹ càng, chu đáo, có sự chuẩn bị phương tiện hoạt động và có khi còn chuẩn bị cả kế hoạch che giấu tội phạm. 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, với những đặc điểm của phạm tội có tổ chức nêu trên, chúng ta thấy rằng hình thức đồng phạm có tổ chức có thể thực hiện tội phạm nhiều lần, liên tục, gây ra những hậu quả nghiêm trọng làm cho công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm gặp nhiều khó khăn, tốn kém. Do vậy, BLHS năm 1999 đã quy định phạm tội có tổ chức là một tình tiết tăng nặng TNHS tại Điều 48, và trong hàng loạt các CTTP trong Phần các tội phạm, tình tiết phạm tội có tổ chức được quy định là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt.

NHỮNG LOẠI NGƯỜI ĐỒNG PHẠM Những loại người đồng phạm chính là những chủ thể đã tạo nên vụ đồng phạm. Như chúng ta đã biết: Chủ thể của tội phạm là người đã có lỗi (cố ý hoặc vô ý) trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm, có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo luật định (ngoài ra, trong một số trường hợp cụ thể chủ thể của tội phạm còn có dấu hiệu bổ sung đặc biệt do quy phạm pháp luật hình sự tương ứng quy định) [16, tr. Như vậy, có thể nói chủ thể của tội phạm đồng phạm là những người có lỗi cố ý trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm, họ có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS theo luật định, một số tội phạm đòi hỏi phải có dấu hiệu chủ thể đặc biệt thì dấu hiệu này chỉ quy định cho người thực hành. Nghiên cứu lịch sử lập pháp hình sự nước ta cho đến trước thời điểm BLHS năm 1985 được ban hành cho thấy, chưa có văn bản PLHS nào đưa ra khái niệm về người đồng phạm.

Khoản 2 Điều 17 BLHS năm 1985 lần đầu tiên chính thức quy định về người đồng phạm như sau: "Người thực hành, người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức đều là những người đồng phạm". Khoản 2 Điều 20 BLHS năm 1999 giữ nguyên quy định của BLHS năm 1985 về người đồng phạm. 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, chúng tôi có thể đưa ra khái niệm khoa học về người đồng phạm như sau: Người đồng phạm là người thỏa mãn các dấu hiệu chủ thể của tội phạm, đã cố ý tham gia vào việc thực hiện tội phạm do cố ý cùng với người khác. Tóm lại, có thể nói rằng cơ sở để phân biệt những loại người đồng phạm là vai trò, tính chất sự tham gia của họ vào việc thực hiện tội phạm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Các loại người đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam: Lý luận và thực tiễn" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các khái niệm và phân loại người đồng phạm trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam. Tác giả phân tích các loại hình đồng phạm, từ đó làm rõ vai trò và trách nhiệm của từng loại trong việc thực hiện tội phạm. Bên cạnh đó, tài liệu cũng nêu bật những thách thức trong việc áp dụng lý thuyết vào thực tiễn, giúp người đọc hiểu rõ hơn về sự phức tạp của luật hình sự.

Để mở rộng kiến thức về các khía cạnh liên quan, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Chế định miễn trách nhiệm hình sự trong luật hình sự, nơi bàn về các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự, hoặc tài liệu Luận văn thạc sĩ vnu ls chế định chuẩn bị phạm tội trong luật hình sự việt nam, giúp bạn hiểu rõ hơn về các giai đoạn chuẩn bị phạm tội. Những tài liệu này sẽ cung cấp thêm thông tin hữu ích và mở rộng quan điểm của bạn về luật hình sự Việt Nam.