Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC CĂN CỨ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. KHÁI NIỆM, Ý NGHĨA VÀ CÁC NGUYÊN TẮC QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm quyết định hình phạt Pháp luật là đại lƣợng công bằng áp dụng cho những trƣờng hợp khác nhau. Do đó, pháp luật hình sự quy định những phạm vi chung đối với những ngƣời không giống nhau trong thực tế.
Ttrong phạm vi đó, làm thế nào để đƣa ra một quyết định công bằng, hợp lý là nhiệm vụ rất quan trọng và đầy trách nhiệm của những cơ quan và ngƣời áp dụng pháp luật hình sự. Ở đây, việc áp dụng đúng các quy định của pháp luật hình sự đã đƣợc ban hành liên quan chặt chẽ với việc áp dụng có căn cứ và đúng đắn các đòi hỏi của các quy phạm pháp luật hình sự với việc tuân thủ chính xác và nhất quán các quy định của pháp luật với việc xác định chân lý khách quan của vụ án hình sự. Lần đầu tiên, khái niệm hình phạt đƣợc quy định trong Điều 26 Bộ luật hình sự năm 1999, đây là một điểm mới so với Bộ luật hình sự năm 1985. Việc quy định này không những bảo đảm nhận thức thống nhất về hình phạt trong khoa học, mà còn có nhiều mục đích khác nhƣ: giáo dục, cải tạo ngƣời phạm tội, bảo đảm tính răn đe và nghiêm minh của pháp luật hình sự, cũng nhƣ yêu cầu đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.
Bởi lẽ, đề cập tội phạm chúng ta không thể không nhắc đến hình phạt. Tội phạm và hình phạt là hai nội dung cơ bản trong luật hình sự của mọi quốc gia. Tội phạm và hình phạt luôn luôn đi liền với nhau, có nghĩa là giữa tội phạm và hình phạt luôn luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và không tách rời nhau. Về nguyên tắc, khi đã thực hiện tội phạm thì phải chịu trách nhiệm hình sự và thông thƣờng phải chịu hình phạt và ngƣợc lại hình phạt không thể đƣợc áp dụng khi không có tội phạm xảy ra và cũng không áp dụng đối với ai khác ngoài ngƣời đã phạm tội.
Do đó, đúng nhƣ PGS. Trịnh Quốc Toản đã nhận định: 9 z Chừng nào, Nhà nƣớc còn cần đến luật hình sự và hình phạt, thì hình phạt chỉ đƣợc áp dụng và chỉ cho phép đƣợc áp dụng với tính chất là sự phản ứng Nhà nƣớc và xã hội đối với tội phạm; nó là sự phủ định công khai, quyết liệt của Nhà nƣớc, là sự thể hiện không thể dung thứ của Nhà nƣớc và xã hội đối với các hành vi phạm tội. Hình phạt là biện pháp cƣỡng chế nhà nƣớc nghiêm khắc nhất đƣợc áp dụng theo trình tự riêng biệt cho ngƣời phạm tội, bảo đảm cho luật hình sự thực hiện đƣợc mục đích của mình. Hình phạt với tƣ cách là sự hạn chế, tƣớc bỏ những quyền, lợi ích quan trọng nhất của ngƣời phạm tội có những tác động nhất định đến bản thân ngƣời phạm tội cũng nhƣ tác động đến xã hội theo những hƣớng khác nhau tuỳ thuộc vào việc hình phạt đó đƣợc quyết định thế nào.
Luật hình sự đòi hỏi những tác động đó của hình phạt phải đạt đƣợc những kết quả trực tiếp hay nói cách khác là đạt đƣợc mục đích của hình phạt. Về mặt lập pháp, Bộ luật hình sự hiện hành không quy định cụ thể quyết định hình phạt là gì ? Dƣới góc độ lý luận, quyết định hình phạt là một khái niệm hiện nay có nhiều quan điểm không giống nhau. Đinh Văn Quế đƣa ra định nghĩa mang tính khái quát về quyết định hình phạt nhƣ sau "Quyết định hình phạt là việc Tòa án lựa chọn hình phạt buộc người bị kết án phải chấp hành. Tòa án lựa chọn loại hình phạt nào, mức hình phạt bao nhiêu, phải tuân theo những quy định của Bộ luật hình sự" [27, tr.
Định nghĩa này đã chỉ ra nội dung quan trọng của quyết định hình phạt là một hoạt động của Toà án đồng thời đó là việc toà án lựa chọn hình phạt đồng thời chỉ ra căn cứ pháp lý của quyết định hình phạt đó chính là các quy định của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, định nghĩa này cho thấy chƣa bao quát đƣợc hết hoạt động quyết định hình phạt. Bởi lẽ, quyết định hình phạt là một hoạt động khá phức tạp bao gồm nhiều thao tác ngoài việc lựa chọn loại hình phạt còn xác định mức hình phạt.Bên cạnh đó, tác giả cho rằng hình phạt áp dụng với “người bị kết án” là chƣa chính xác. Bởi ngƣời bị kết là ngƣời đã có bản án kết tội của Tòa án.
Trong khi đó, PGS. Lê Văn Đệ thì cho rằng: "Quyết định hình phạt là sự 10 z lựa chọn loại hình phạt và xác định mức hình phạt cụ thể trong phạm vi luật định để áp dụng đối với người phạm tội cụ thể" [9, tr. Định nghĩa này đã chỉ ra cụ thể hai thao tác quan trọng khi quyết định hình phạt là xác định loại hình phạt và xác định mức hình phạt đồng thời chỉ ra tính chất pháp lý của của hoạt động quyết định hình phạt, đối tƣợng bị áp dụng hình phạt là ngƣời phạm tội cụ thể. Tuy nhiên, ở đây chƣa cho thấy chủ thể thực hiện hoạt động áp dụng hình phạt là toà án Cũng có quan điểm tiếp cận khái niệm quyết định hình phạt còn đƣợc tiếp cận dƣới góc độ của luật tố tụng hình sự.
Theo đó: Quyết định hình phạt là một giai đoạn rất quan trọng trong hoạt động xét xử của Bộ luật hình sự, là việc Tòa án lựa chọn loại hình phạt và mức hình phạt cụ thể đƣợc quy định trong luật hình sự tƣơng ứng với cấu thành tội phạm cụ thể để áp dụng với ngƣời phạm tội, thể hiện trong bản án buộc tội [40, tr. Trong định nghĩa này coi quyết định hình phạt là một giai đoạn trong hoạt động xét xử là chƣa chính xác. Bởi lẽ nói đến giai đoạn trong tố tụng cũng nhƣ trong quá trình xét xử của toà án là nói đến một bƣớc (một khoảng thời gian) độc lập để chủ thể thực hiện hoạt động tố tụng. Tuy nhiên, trƣớc khi lựa chọn loại hình phạt và xác định mức hình phạt cụ thể toà án còn phải dựa vào các căn cứ nhƣ tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, nhân thân bị cáo… Những hoạt động này đƣợc thực hiện xuyên suốt quá trình xét xử chứ không phải là một giai đoạn độc lập.
Định nghĩa này chỉ ra hình thức của việc quyết định hình phạt đó chính là bản án của Tòa án. Tuy nhiên, trong tố tụng hình sự thì chỉ có bản án kết tội chứ không có bản án buộc tội nếu hiểu theo đúng nghĩa của hoạt động buộc tội trong mối quan hệ với hoạt động gỡ tội, xét xử thì nó thuộc về bên buộc tội thể hiện bằng cáo trạng của Viện kiểm sát. Ngoài ra, trong Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của Khoa Luật thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội thì "quyết định hình phạt là việc Tòa án lựa chọn loại hình phạt cụ thể (bao gồm hình phạt chính và có thể cả hình phạt bổ sung) với mức độ cụ thể trong phạm vi luật định để áp dụng đối với người phạm tội" [20, tr. Bên cạnh đó, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của Trƣờng Đại học Luật Hà 11 z Nội thì định nghĩa: "Quyết định hình phạt là sự lựa chọn loại hình phạt và xác định mức hình phạt cụ thể trong phạm vi luật định để áp dụng đối với người phạm tội cụ thể" [36, tr.
Do đó, để làm sáng tỏ một cách đầy đủ nội dung của khái niệm quyết định hình phạt, cần xác định vị trí của quyết định hình phạt trong quá trình áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự. Trong lý luận luật hình sự, việc áp dụng pháp luật hình sự là một quá trình phức tạp gồm nhiều mặt đƣợc tiến hành thông qua các giai đoạn nhất định nhƣ: giải thích quy phạm pháp luật hình sự, xác định hiệu lực của đạo luật hình sự về không gian và thời gian, định tội danh và quyết định hình phạt, miễn trách nhiệm hình sự và xoá án tích. Các quy phạm pháp luật hình sự cấm việc thực hiện các hành vi nguy hiểm cho xã hội trƣớc hết bằng sự tuân thủ các quy phạm đó. Bằng cách đó, mục đích của luật hình sự đã đƣợc và nhƣ vậy, quy phạm pháp luật hình sự đƣợc thực hiện đƣợc chức năng chính, cơ bản của mình Tuy nhiên, bản chất của các quy phạm pháp luật hình sự không bị hạn chế bởi việc công bố các điều cấm nhất định.
Mọi quy phạm pháp luật đều có tính chất bắt buộc và cho phép. Quy phạm pháp luật hình sự ngoài việc đƣa ra điều cấm đối với mọi ngƣời còn xác định cả quyền, nghĩa vụ của toà án trong việc áp dụng quy phạm pháp luật hình sự, tức là áp dụng hình phạt trong trƣờng hợp một ngƣời thực hiện hành vi tội phạm. Chức năng thứ hai của quy phạm pháp luật hình sự - quy định về hình phạt chỉ đƣợc áp dụng trong trƣờng hợp Toà án áp dụng quy phạm pháp luật hình sự. Liên quan đến khái niệm quyết định hình phạt trong khoa học pháp lý hiện nay đang có nhiều quan điểm khác nhau về nội dung của quyết định hình phạt: Đó là quyết định hình phạt đƣợc hiêu theo nghĩa nghĩa hẹp của khái niệm quyết định hình phạt, nghĩa rộng của khái niệm quyết định hình phạt.
Theo đó, quyết định hình phạt còn bao gồm cả các hoạt động: xác định ngƣời phạm tội có đƣợc miễn trách nhiệm hình sự hay miễn hình phạt hay không, xác định khung hình 12 z phạt, xác định loại và mức hình phạt cụ thể trong phạm vi khung hình phạt hoặc dƣới khung đó [14, tr. Dƣơng Tuyết Miên trong sách "Định tội danh và quyết định hình phạt" thì nên coi miễn hình phạt thuộc về giai đoạn quyết định hình phạt: "Người phạm tội có thể được miễn hình phạt trong trường hợp phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật này, đáng được khoan hồng đặc biệt, nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự" [21, tr 62]. Nhƣ vậy, về nội dung pháp lý thì miễn hình phạt là không buộc ngƣời phạm tội phải chịu hình phạt tức biện pháp cƣỡng chế nghiêm khắc nhất về tội mà họ đã phạm. Miễn hình phạt phải thuộc về giai đoạn quyết định hình phạt vì miễn hình phạt đƣợc thực hiện sau khi Tòa án đã xác định xong tội danh và là bƣớc đầu của quá trình xác định hình phạt.