Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN PHẠM NHIỀU TỘI 1. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN LIÊN QUAN ĐẾN QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN PHẠM NHIỀU TỘI 1. Ngƣời chƣa thành niên phạm tội Thuật ngữ người chưa thành niên được đề cập đến trong nhiều lĩnh vực khác nhau với các cách tiếp cận khác nhau tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu. Theo tâm lý học, người chưa thành niên là người chưa hoàn thiện cả về mặt thể chất và tâm lý, có một số đặc điểm tâm sinh lý đặc trưng như ham hiểu biết, thích khẳng định mình song thiếu khả năng tự kiềm chế, non nớt về tri thức xã hội, dễ bị ảnh hưởng tiêu cực song dễ giáo dục, uốn nắn.
Theo cách nhìn trong luật học thì người chưa thành niên là những người chưa trưởng thành đầy đủ cả về thể chất và tinh thần. Vì vậy thường không cho phép người chưa thành niên tự quyết định hoặc tự mình tham gia vào một số quan hệ xã hội nhất định cũng như trao cho họ đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý như người đã thành niên. Thuật ngữ người chưa thành niên phạm tội được sử dụng trong pháp luật hình sự để chỉ những người chưa thành niên đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm và có thể phải chịu trách nhiệm hình sự. Ở góc độ chung, xác định người chưa thành niên phạm tội dựa trên độ tuổi của người đó.
Đây là người chưa đủ độ tuổi theo pháp luật quốc gia xác định là thành niên, song đã đủ tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi đã thực hiện là tội phạm. Như vậy, có thể đưa ra một định nghĩa về người chưa thành niên phạm tội như sau: Người chưa thành niên phạm tội là người chưa thành niên thực hiện tội phạm; tức là người chưa đủ tuổi được coi là thành niên - theo pháp luật quốc gia quy định - đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Người chưa thành niên phạm tội được dựa trên hai tiêu chí là người chưa đủ tuổi được coi là thành niên và đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm. Vệc quy định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự được ghi nhận trong pháp luật hình sự của các quốc gia.
Tuy nhiên việc quy định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự giữa các quốc gia có thể khác nhau hoặc trùng nhau. Một số quốc gia quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự là 7 tuổi như Singapore, Jamaica… song trong pháp luật hình sự một số quốc gia khác như Peru, Colombia…, tuổi chịu trách nhiệm hình sự là 18 tuổi trùng với tuổi xác định là thành niên - thậm chí phạm vi khái niệm người chưa thành niên phạm tội là rỗng. Đặc biệt có quốc gia quy định sự khác biệt giữa nam và nữ trong tuổi chịu trách nhiệm hình sự như tại Ấn Độ và Pakistan, tuổi chịu trách nhiệm hình sự là 18 tuổi đối với nam và 16 tuổi đối với nữ [Dẫn theo 37]. Việc xác định tuổi chịu trách nhiệm hình sự có tính chất hết sức quan trọng, đòi hỏi sự cân nhắc rất kỹ tất cả các khía cạnh pháp lý và các đặc điểm phát triển tâm sinh lý của lứa tuổi.
Về quy định độ tuổi người đã thành niên ở hầu hết các quốc gia đều tương đối thống nhất là người đủ 18 tuổi được coi là người đã thành niên. Quyết định hình phạt đối với ngƣời chƣa thành niên phạm nhiều tội Quyết định hình phạt là một công việc quan trọng trong hoạt động xét xử vụ án hình sự của Tòa án. Khi tìm hiểu về quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm nhiều tội: Thứ nhất, cần bàn về khái niệm quyết định hình phạt. Ở nước ta, trước đây thuật ngữ quyết định hình phạt còn có tên gọi là lượng hình.
Sau khi Bộ luật hình sự năm 1985 được ban hành và có hiệu lực pháp luật, thuật ngữ lượng hình được thay bằng thuật ngữ quyết định hình phạt. Cho tới nay, ở Việt Nam vẫn chưa có một văn bản pháp luật hình sự nào xác định khái niệm quyết định hình phạt. Trong khoa học luật hình sự đã có nhiều tác giả đưa ra 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khái niệm quyết định hình phạt. Đa số các tác giả cho rằng: Quyết định hình phạt là việc Tòa án lựa chọn loại hình phạt cụ thể (bao gồm hình phạt chính và có thể cả hình phạt bổ sung) với mức độ cụ thể trong phạm vi luật định để áp dụng cho người phạm tội.
Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, trong khoa học luật hình sự cũng có ý kiến cho rằng khái niệm quyết định hình phạt cần được hiểu theo hai nghĩa: Nghĩa hẹp và nghĩa rộng [71, tr. Quyết định hình phạt như trên chỉ là theo nghĩa hẹp là việc Tòa án lựa chọn loại hình phạt cụ thể (bao gồm hình phạt chính và có thể cả hình phạt bổ sung) với mức độ cụ thể trong phạm vi luật định để áp dụng cho người phạm tội. Còn theo nghĩa rộng thì quyết định hình phạt bao gồm các hoạt động: Xác định người phạm tội có được miễn trách nhiệm hình sự hay miễn hình phạt không, xác định khung hình phạt, xác định loại và mức hình phạt cụ thể trong phạm vi khung hình phạt hoặc dưới khung đó [70, tr. Quyết định hình phạt được đặt ra đối với trường hợp người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự và bị áp dụng hình phạt.
Đối với hình phạt chính, đa số hình phạt quy định cho các tội phạm là chế tài lựa chọn. Do vậy, nếu trong khung hình phạt có nhiều loại hình phạt khác nhau thì quyết định hình phạt là việc lựa chọn một hình phạt cụ thể trong các hình phạt đó và xác định mức hình phạt cụ thể trong phạm vi cho phép để áp dụng đối với người phạm tội. Trường hợp hình phạt mà Tòa án tuyên cho bị cáo là cảnh cáo, trục xuất, tù chung thân hoặc tử hình thì quyết định hình phạt thực chất chỉ là việc lựa chọn hình phạt mà không có bước xác định mức hình phạt cụ thể áp dụng cho người phạm tội. Đối với hình phạt bổ sung, việc quyết định hình phạt tương tự như quyết định hình phạt chính.
Đó là việc lựa chọn hình phạt bổ sung (có thể là một hoặc nhiều loại nếu luật quy định có thể áp dụng nhiều loại hình phạt bổ sung) và xác định mức hình phạt trong phạm vi cho phép để áp dụng kèm theo hình phạt chính. Tuy nhiên quyết định hình phạt chính vẫn là nội dung cơ bản của quyết định hình phạt và quyết định bản chất khái niệm hình phạt. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ hai, khái niệm phạm nhiều tội. Phạm nhiều tội là trường hợp một người có nhiều hành vi phạm tội hoặc chỉ có một hành vi phạm tội nhưng đã thỏa mãn từ hai cấu thành tội phạm khác nhau trở lên và bị xét xử cùng một lần về các tội phạm đó.
Như vậy, chỉ coi là phạm nhiều tội khi có đầy đủ các dấu hiệu sau: 1) Một người phạm từ hai tội trở lên; 2) Các tội đó chưa bị đưa ra xét xử; 3) Các tội đó chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, không thuộc trường hợp miễn trách nhiệm hình sự; 4) Bị đưa ra xét xử cùng một lần. Người phạm nhiều tội có thể thực hiê ̣n nhiề u hành vi pha ̣m tô ̣i khác nhau hoă ̣c có thể chỉ thực hiê ̣n mô ̣t hành vi pha ̣m tô ̣i. Trong trường hợp người phạm nhiều tội qua viê ̣c thực hiê ̣n nhiều hành vi phạm tội khác nhau, các hành vi thỏa mãn các cấu thành tội phạm khác nhau có thể xảy ra độc lập , nhằm mục đích khác nhau , không có quan hệ hữu cơ với nhau hoặc cùng nhằm một mục đích , có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Các tội phạm có thể (thông thường) được quy định tại các điều luật khác nhau hoă ̣c cá biệt đươ ̣c quy đinh ̣ trong cùng một điều luật.
Ví dụ: Vụ án Trần Xuân Tân phạm tội trộm cắp tài sản và cố ý gây thương tích tại Thành phố Hồ Chí Minh. Theo nội dung vụ án, vào đầu năm 2008, Tân thực hiện hành vi trộm cắp 01 chiếc xe máy trị giá 13 triệu đồng và bị chủ xe cùng người dân phát hiện, đuổi bắt khiến Tân phải bỏ lại xe tháo chạy. Khi bị chủ xe đuổi kịp, Tân rút dao bấm đâm vào đùi chủ xe gây thương tật 26% vĩnh viễn. Như vậy, Tân đã phạm 2 tội qua 2 hành vi phạm tội khác nhau.
Trong đó, hành vi cố ý gây thương tích 26% vừa thỏa mãn cấu thành tội phạm cố ý gây thương tích vừa được xem là tình tiết hành hung để tẩu thoát - tình tiết tăng nặng định khung của tội phạm trộm cắp tài sản. Hành vi phạm 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tội cố ý gây thương tích là hành vi tiếp liền, xuất phát từ việc thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản bị phát hiện. Trong trường hợp người phạm nhiều tội qua việc thực hiện một hành vi phạm tội, hành vi phạm tội này thỏa mãn đồng thời nhiều cấu thành tội phạm khác nhau do một cấu thành tội phạm chưa thu hút hết các tình tiết có ý nghĩa về mặt pháp lý hình sự của hành vi phạm tội, từ đó, một hành vi phạm tội này (toàn bộ hoặc một phần các hành vi thực hiện cụ thể) lại cấu thành tội thứ hai. Các trường hợp cụ thể có thể xảy ra là: 1) Một hành vi phạm tội thỏa mãn dấu hiệu của hai cấu thành tội phạm cụ thể khác nhau trở lên; Ví dụ: A thực hiện hành vi dùng súng quân dụng bắn chết B do có hiềm khích và mâu thuẫn, hành vi của A đã đồng thời cấu thành tội giết người và tội sử dụng trái phép vũ khí quân dụng.