Chương 1. Những vấn đề lý luận về quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Chương 2. Các quy định về quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong Bộ luật Hình sự 2015 Chương 3. Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Kết luận.
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƢỜI DƢỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI 1. Khái niệm và đặc điểm của ngƣời dƣới 18 tuổi phạm tội 1. Khái niệm ngƣời dƣới 18 tuổi phạm tội Để hoàn thiện hơn nữa đối với chính sách xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội nói chung và vấn đề quyết định hình phạt nói riêng, BLHS 2015 đã thay thế thuật ngữ “người chưa thành niên” bằng thuật ngữ “người dưới 18 tuổi”, “trẻ em” bằng thuật ngữ “người dưới 16 tuổi” nhằm xác định rõ độ tuổi cụ thể của người phạm tội. Theo tác giả, sự thay đổi này là hoàn toàn hợp lý, bởi lẽ hiện nay thuật ngữ “người chưa thành niên” được quy định trong nhiều văn bản pháp lý và chồng chéo với các khái niệm khác: Dƣới góc độ pháp luật quốc tế: Quy tắc tối thiểu phổ biến về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do của Liên Hợp Quốc (LHQ) thông qua ngày 14/12/1990 nêu rõ: “Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi.
Giới hạn tuổi dưới mức này cần phải được pháp luật xác định và không được tước quyền tự do của người chưa thành niên”2. Hoặc trong Hướng dẫn về phòng ngừa phạm pháp ở người chưa thành niên (Riyadh) năm 1990 của LHQ cũng thể hiện rõ quan niệm: “Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi”3. Với quy định này, người dưới 18 tuổi được gọi là người chưa thành niên. Tuy nhiên, tại Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 của LHQ (The United Nations Convention on the Rights of the Child, viết tắt là CRC) lại xác định: “Trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn”.
Quy định này giúp ta nhận thấy, CRC xác định trẻ em là người dưới 18 tuổi và cũng như pháp luật quốc tế, CRC cho phép 2 Quy tắc tối thiểu phổ biến về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do (Mục II – Phạm vi áp dụng Quy tắc). 3 Hướng dẫn Riyadh, hướng dẫn số 12. 7 các quốc gia, tùy vào chính sách pháp luật của mình mà quy định mức tuổi cụ thể trong luật. Thông qua đó ta có thể nhận thấy trong các văn bản pháp lý, các tài liệu hướng dẫn của các tổ chức quốc tế và các chương trình của LHQ về vấn đề trẻ em, khái niệm “người chưa thành niên” và “trẻ em” là đồng nhất, được sử dụng để thay thế cho nhau và đều dùng để chỉ những người dưới 18 tuổi.
Dƣới góc độ pháp luật Việt Nam Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, cùng tồn tại song song hai khái niệm “người chưa thành niên” và “trẻ em” ở các văn bản khác nhau. Tuy nhiên, khác với pháp luật quốc tế, hai khái niệm này không đồng nhất, cụ thể: Bộ luật dân sự (BLDS) 2005 quy định “Người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên” (Điều 18) và cũng trên tinh thần đó, BLDS 2015, thay thế BLDS 2005, có hiệu lực vào ngày 01/01/2017 cũng có quy định tương tự “Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi” (Điều 21). Như vậy, trong BLDS người chưa thành niên được dùng để chỉ người chưa đủ 18 tuổi. Bộ luật lao động 2012 có hiệu lực ngày 01/5/2013 quy định “Người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi”.
Điều 68 BLHS 1999 không nêu lên khái niệm người chưa thành niên, mà quy định giới hạn độ tuổi người chưa thành niên phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự là từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi. Như vậy, theo BLHS 1999 thì người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi. Như vậy, có sự thống nhất trong một số văn bản chuyên ngành khi khẳng định người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi. Tuy nhiên, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004 lại quy định: “Trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi” và hiện nay Luật này đã được thay thế bằng Luật trẻ em với quy định cụ thể hơn: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi”.
Như vậy, khái niệm trẻ em theo Luật này được giới hạn là người dưới 16 tuổi. Nhận thấy, khái niệm “người chưa thành niên” theo pháp luật Việt Nam có sự đồng nhất với khái niệm người chưa thành niên trong Công ước của LHQ. Nhưng 8 khái niệm “trẻ em” theo pháp luật Việt Nam lại không đồng nhất với khái niệm của LHQ. Theo đó, trong phạm vi quốc gia, nếu theo Luật trẻ em thì người dưới 16 tuổi (trong đó bao gồm một nhóm người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi) được coi là trẻ em thì theo luật hình sự, nhóm người phạm tội từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi lại được coi là người chưa thành niên.
Như vậy, cùng một độ tuổi nhưng tên gọi khác nhau, điều này dẫn tới những khó khăn, vướng mắc trong nhận thức và áp dụng pháp luật, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể này. Như vậy, sự thay đổi về mặt thuật ngữ “người chưa thành niên” bằng thuật ngữ “người dưới 18 tuổi”, “trẻ em” bằng thuật ngữ “người dưới 16 tuổi” của BLHS 2015 là phù hợp, không chỉ thống nhất với các văn bản chuyên ngành mà còn hài hòa với các chuẩn mực quốc tế mà trước hết là Công ước về quyền trẻ em. Mặt khác, việc sửa đổi này sẽ tạo điều kiện cho nhà làm luật có những quy định chính xác đối với từng tội danh, thể hiện sự phù hợp với yêu cầu đấu tranh phòng ngừa tội phạm cũng như các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tại phiên tòa quyết định hình phạt phù hợp cho từng độ tuổi cụ thể. Đối với khái niệm “Người dưới 18 tuổi phạm tội”, đây là khái niệm đặc thù của BLHS 2015.
Theo đó, BLHS 2015 đã dành một chương riêng để quy định về TNHS cho đối tượng là người dưới 18 tuổi phạm tội bao gồm cả vấn đề quyết định hình phạt. Với phương diện là chủ thể của tội phạm. Điều 12 BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung 20174 quy định: “1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác; 2.
Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này”. Như vậy, theo BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 đối với người dưới 18 tuổi thì người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi phải chịu TNHS về mọi tội phạm bao gồm: tội ít nghiêm trọng, 4 BLHS 2015 do Quốc hội khóa XIV thông qua ngày 27/11/2015 đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS số 100/2015/QH13 số 12/2017/QH14, thông qua vào ngày 20/6/2017, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018. 9 tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng được phân loại theo Điều 9 BLHS 2015 và người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi phải chịu TNHS về tội rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều tại khoản 2 Điều 12 BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung 2017. Đây là quy định mới, đã có sự thu hẹp phạm vi loại tội mà người từ 14 đến dưới 16 tuổi phải chịu.
Theo đó, khoản 2 Điều 12 BLHS 2015 đã có phần mở rộng phạm vi trách nhiệm hình sự đối với đối tượng này có tính nghiêm khắc hơn theo hướng quy định người từ đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu TNHS về cả tội ít nghiêm trọng và nghiêm trọng đối với các tội danh: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác; Tội hiếp dâm; Tội bắt cóc chiếm đoạt tài sản5. Đối với nội dung này, trong quá trình BLHS 2015 tạm ngưng hiệu lực để rà soát và sửa đổi, Ban soạn thảo sửa đổi, bổ sung BLHS 2015 đã trình Quốc hội thảo luận 2 phương án: - Phương án 1: Giữ nguyên quy định trong BLHS 2015. Theo đó, người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về cả tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng đối với 3 tội danh gồm: tội cố ý gây thương tích, tội hiếp dâm và tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản. - Phương án 2: Thu hẹp phạm vi xử lý hình sự đối với lứa tuổi này.
Theo đó, người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng đối với 3 tội danh trên6. Và hiện nay, sau khi có sự trao đổi thẳng thắn và tranh luận trực tiếp, vấn đề đã được chỉnh lý theo phương án 2 tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS số 100/2015/QH13 số 12/2017/QH14. Theo đó, người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc 5 Khoản 2 Điều 12 BLHS 2015 quy định: “2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, tội hiếp dâm, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều sau đây…”.vn/trong-nuoc/dai-bieu-quoc-hoi-tranh-luan-ve-quy-dinh-xu-ly-hinh-su-voi- tre-14-16-tuoi- htm 10 biệt nghiêm trọng với các tội danh quy định tại khoản 2 Điều 12 BLHS 2015.
Tác giả đồng tình với sự sửa đổi này bởi lẽ chính sách hình sự cần được thể hiện nhất quán xuyên suốt tất cả các quy định của BLHS. Đây là quy định tiến bộ, đảm bảo quyền của người của người dưới 18 tuổi theo quy định quốc tế. Mặt khác, Điều 90 còn quy định: “Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự…”.