Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TUỔI CHỊU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ 1. Khái niệm tuổi chịu trách nhiệm hình sự TNHS là một trong những chế định trung tâm, chủ yếu nhất xuyên suốt toàn bộ pháp luật hình sự. Theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học[2,tr21] định nghĩa “trách nhiệm của người phạm tội phải chịu những hậu quả pháp lí bất lợi về hành vi phạm tội của m nh. Theo đó, có thể hiểu TNHS là một dạng trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất, vì vậy để biết được một người có phải chịu trách nhiệm hay không cần phải có năm điều kiện bắt buộc do pháp luật hình sự quy định là: người đó phải có năng lực TNHS,đủ tuổi chịu TNHS, chủ thể phải có lỗi , hành vi đó là hành vi nguy hiểm cho xã hội và bị luật hình sự cấm[26,tr636].
Tuổi chịu TNHS là một trong năm căn cứ riêng cần và đủ, là căn cứ mang tính chất bắt buộc mà thiếu nó thì sẽ không có TNHS. Trong lịch sử lập pháp Việt Nam, tuổi chịu TNHS tuy không được ghi nhận chính thức là một đặc điểm cơ bản của tội phạm nhưng lại có ý nghĩa rất quan trọng trong việc làm sáng tỏ TNHS của người phạm tội. Bàn về vấn đề tuổi chịu TNHS, trước hết cần chỉ ra khái niệm về “tuổi. Theo Đại từ điển Tiếng Việt [1,tr1750] khái niệm về tuổi được định nghĩa là: “Năm, d ng làm đơn vị tinh thời gian sống của người, là khoảng thời gian từ khi sinh ra đến thời điểm xác định nào đó.
Theo đó, tuổi của một người được tính theo đơn vị năm, ph hợp với quy luật của tự nhiên một vòng quay của trái đất quanh mặt trời. Cách tính tuổi của một người sẽ dựa vào thời gian khi người đó được sinh ra đến một thời điểm xác định nào đó. Về mặt lập pháp, khái niệm về “người đủ tuổi chịu TNHS vẫn chưa được các nhà làm luật điều chỉnh trong BLHS. Tuy trong nghiên cứu và áp dụng pháp luật hình sự, thuật ngữ liên quan tới tuổi chịu TNHS được sử dụng 7 z khá phổ biến, nhưng vẫn chưa được định nghĩa hoặc không có sự thống nhất trong cách gọi và cách hiểu.
Trong nhiều tài liệu, tuổi chịu TNHS có thể được hiểu như tuổi tối thiểu của TNHS. Tuy nhiên, việc sử dụng thuật ngữ tuổi tối thiểu của TNHS đôi khi dẫn đến việc cần phải ph n biệt được các giới hạn tuổi khác nhau. Ch ng hạn, ở những quốc gia tồn tại hai giới hạn độ tuổi tối thiểu chịu TNHS, độ tuổi tối thiểu trên và độ tuổi tối thiểu dưới th tuổi tối thiểu của TNHS phải được xác định theo hai mức 48,tr49. Dựa trên khái niệm về TNHS và khái niệm về tuổi, các nhà hình sự học đã x y dựng nên quan điểm về tuổi chịu TNHS theo pháp luật Việt Nam.
Lê Cảm:“Đủ tuổi chịu TNHS là đủ tuổi do pháp luật hình sự quy định tại thời điểm thực hiện tội phạm để có thể có khả năng nhận thức đầy đủ tính chất thực tế và tính chất pháp lý của hành vi do mình thực hiện cũng như có khả năng điều khiển được đầy đủ hành vi ấy 24, tr128. Như vậy người đủ tuổi chịu TNHS có thể hiểu là người mà tại thời điểm phạm tội đã đạt đến độ tuổi quy định trong luật hình sự có khả năng nhận thức được đầy đủ tính chất thực tế và tính chất pháp lý, cũng như điều khiển được hành vi của bản thân một cách đầy đủ. Nguyễn Ngọc Hòa thì : “Năng lực TNHS chỉ được h nh thành khi con người đã đạt độ tuổi nhất định và năng lực đó sẽ tiếp tục phát triển hoàn thiện trong thời gian nhất định tiếp theo. Khi đã đạt độ tuổi đó, con người nói chung sẽ có năng lực TNHS, trừ những trường hợp cá biệt – những trường hợp mà luật hình sự coi là trong tình trạng không có năng lực TNHS 29,tr176.
Có thể thấy, tuổi chịu TNHS được hiểu một cách gián tiếp là một độ tuổi nhất định, khi đạt độ tuổi đó th con người sẽ có năng lực TNHS và sẽ phải chịu những hậu quả pháp lí bất lợi từ việc phạm tội của mình, trừ những trường hợp khác mà luật hình sự quy định. Từ đó, “luật hình sự các nước dựa trên cơ sở các công trình nghiên cứu, khảo sát về tâm lí cũng như căn cứ vào chính sách hình sự của m nh đã quy định tuổi b t đầu có năng lực TNHS đầy đủ 29,tr176. 8 z Mới đ y, trong một cuốn sách chuyên khảo vừa được xuất bản của m nh, TSKH.GS Lê Văn Cảm – một nhà khoa học nghiên cứu rất sâu về luật hình sự - từng định nghĩa: “Tuổi chịu TNHS của một người là tuổi được quy định tại…. và được tính tại thời điểm người đó thực hiện tội phạm 28, tr214 , hoặc “Người đủ tuổi chịu TNHS là người mà tại thời điểm phạm tội đã đạt đến độ tuổi nhất định được quy định tại… để có thể có khả năng nhận thức được hoàn toàn tính chất thực tế và tính chất pháp lý của hành vi do mình thực hiện, đồng thời có thể hoàn toàn điều khiển được hành vi đó 28,tr215.
Kế thừa tư tưởng của các nhà khoa học tiền bối và những nội dung đã được phân tích, tác giả Dựa trên những phân tích trên có thể đưa ra định nghĩa một cách khái quát về tuổi chịu TNHS nhất như sau: Tuổi chịu TNHS của một người là khoảng thời gian tính từ lúc sinh ra đến thời điểm nhất định do luật hình sự quy định mà khi ấy người đóđó thực hiện tội phạm đủ tuổi do luật hình sự quy định mới phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi về hành vi phạm tội của mìnhđược nhà nước thừa nhận là có khả năng phạm tội và khả năng gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi do việc thực hiện tội phạm của mình. Các đặc điểm của tuổi chịu TNHS 1. Tuổi chịu TNHS được nhà nước chính thức ghi nhận trong luật hình sự của quốc gia Quy định độ tuổi để xác định tư cách chịu trách nhiệm của chủ thể là một nội dung có tính chuyên biệt, vì thế mỗi ngành luật có cách xác định khác nhau về độ tuổi. Trong pháp luật hình sự của mỗi quốc gia việc xác định tuổi chịu TNHS là vấn đề vô cùng quan trọng bởi nó thể hiện quan điểm của Nhà nước về việc xử lý tội phạm đảm bảo an toàn trật tự xã hội đồng thời bảo vệ quyền con người.
Trong ngành luật hình sự, tuổi chịu TNHS đã được các nhà lập pháp ghi nhận tại điều 12 BLHS 2015 như sau: 9 z “1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu TNHS về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này. Quy định về tuổi chịu TNHS đã được ghi nhận tại một điều luật riêng biệt, độc lập trong Phần chung của BLHS.
Điều đó có thể thấy tuổi chịu TNHS là một vấn đề lí luận quan trọng vì nó có yếu tố quyết định trong việc một người có hoặc không phải chịu trách nhiệm pháp lý quy định trong BLHS. Vì thế, về nguyên tắc khi xác định tuổi chịu TNHS của một người, chúng ta cần căn cứ vào quy định của luật hình sự mà không viện dẫn các quy định của các ngành luật khác. Chỉ trong một số trường hợp nhất định mà luật hình sự dẫn chiếu sang quy định của các ngành luật khác thì mới có thể áp dụng cách tính tuổi của ngành luật đó để xác định tuổi chịu TNHS. Tuổi chịu TNHS là một trong những đặc điểm bắt buộc đối với chủ thể của tội phạm là cá nhân Việt Nam cũng như phần lớn các nước trên thế giới đều quy định về chủ thể của tội phạm không chỉ là cá nh n.
Điều 2 BLHS 2015 của Việt Nam quy định: “1. Chỉ người nào phạm một tội đã được BLHS quy định mới phải chịu TNHS. Chỉ pháp nh n thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này mới phải chịu TNHS. Có thể thấy, các nhà làm luật Việt Nam đã chính thức quy định pháp nh n thương mại là chủ thể của tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình sự.
Đối chiếu với quy định của các nước trên thế giới, chủ thể có thể chịu TNHS theo đó có thể là cá nhân, pháp nhân, hay thậm chứí là cơ quan nhà nước. Trung Quốc là quốc gia quy định về TNHS của cơ quan nhà nước trong Điều 47 Luật Hải Quan năm 1987 quy 10 z định: “Doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp, cơ quan nhà nước, các đoàn thể xã hội phạm tội buôn lậu, cơ quan tư pháp có thể truy cứu trách nhiệm h nh sự theo luật định đối với người quản lý và nh n viên chịu trách nhiệm trực tiếp 42,tr4 , tuy nhiên từ khi ban hành Bộ luật h nh sự năm 1997 đến nay chưa có trường hợp nào cơ quan nhà nước bị truy cứu TNHS. V thế, các nhà lý luận Trung Quốc kiến nghị loại bỏ các cơ quan nhà nước ra khỏi quy định là chủ thể của tội phạm và xử lý theo quy định về cá nh n phạm tội. Chủ thể phải chịu TNHS ở một số nước trên thế giới có thể là cá nhân hoặc pháp nh n, nhưng tuổi chịu TNHS chỉ là dấu hiệu bắt buộc đối với cá nhân mà không bắt buộc đối với pháp nh n.
Trong quy định của các quốc gia về độ tuổi chịu TNHS chỉ có quy định về một người khi đến tuổi nhất định sẽ có thể bị truy cứu TNHS về tội phạm của m nh g y ra, như trong Điều 12 BLHS Việt Nam năm 2015 có quy định: “1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu TNHS về tội giết người, tội cố ý g y thương tích…. Hay BLHS Cộng hòa Nh n d n Trung Hoa năm 1997, sửa đổi năm 2005 cũng quy định tại Điều 17 như sau: “Người từ đủ 16 tuổi phạm tội phải chịu TNHS.