Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN, NGHĨA VỤ CỦA PHẠM NHÂN TẠI CÁC TRẠI GIAM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM 1. Khái niệm trại giam Thi hành án phạt tù là buộc ngƣời bị kết án tù có thời hạn, tù chung thân chấp hành hình phạt tại trại giam nhằm giáo dục họ trở thành ngƣời có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống XHCN, ngăn ngừa họ phạm tội mới. Tại khoản 3 Điều 3 Luật Thi hành án hình sự nêu rõ: “Thi hành án phạt tù là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này buộc phạm nhân phải chịu sự quản lý, giam giữ, giáo dục, cải tạo để họ trở thành có ích cho xã hội”[45, Khoản 1 Điều 16].
Luật Thi hành án hình sự: “Trại giam là cơ quan thi hành án phạt tù”.[45] Trại giam là một trong những công cụ quan trọng để bảo vệ chế độ và chính quyền cách mạng, bảo vệ ANQG và giữ gìn TTATXH, trại giam Việt Nam có lịch sử ra đời và phát triển gắn liền với cuộc đấu tranh cách mạng của dân tộc, với những thành tích to lớn trên lĩnh vực phòng chống tội phạm. Cùng với việc xuất hiện của Nhà nƣớc VNDCCH, trại giam Việt Nam ra đời và đã thể hiện rõ vị trí và bản chất của mình là một công cụ quan trọng để bảo vệ chính quyền dân chủ nhân dân, bảo vệ trật tự xã hội. Trại giam Việt Nam luôn thể hiện bản chất nhân đạo của Nhà nƣớc mới, của chế độ xã hội mới. Điểm mốc lịch sử quan trọng trong sự hình thành và phát triển của hệ thống trại giam Việt Nam là việc Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 150/SL ngày 07/11/1950 quy định về tổ chức trại giam.
Sắc lệnh nêu rõ: “Phạm nhân phải giam giữ trong trại giam để trừng trị và giáo hoá. Bộ Nội vụ có nhiệm vụ tổ chức và kiểm soát các trại giam trong phạm vi toàn quốc” [20]. Ngày 12 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tháng 6 năm 1951 chiểu theo Sắc lệnh 150/SL, liên Bộ Nội vụ - Tƣ pháp ban hành Nghị định 181/NV6 ấn định những chi tiết về thiết lập, tổ chức và hoạt động kiểm soát trại giam. Cùng với sự phát triển của đất nƣớc, trên lĩnh vực thi hành án phạt tù Nhà nƣớc ta đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật nhằm chỉ đạo việc quản lý, giáo dục phạm nhân có hiệu quả.
Ngày 08 tháng 3 năm 1993, Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh Thi hành án phạt tù; Ngày 16 tháng 9 năm 1993, Chính phủ ra Nghị định số 60/CP ban hành Quy chế trại giam; Ngày 19/10/2007 Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh số 01/2007/UBTVQH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Thi hành án phạt tù; ngày 28 tháng 10 năm 2008 Chính phủ ban hành Nghị định 113/2008/NĐ-CP về quy chế trại giam. Đặc biệt ngày 17 tháng 6 năm 2010 Quốc hội ban hành Luật thi hành án hình sự. Đây là những văn bản pháp lý quan trọng vừa điều chỉnh việc tổ chức quản lý thi hành án phạt tù đƣợc chặt chẽ vừa đảm bảo tính nhân đạo, tính nghiêm minh của pháp luật. Trại giam tổ chức việc giam giữ, quản lý, giáo dục cải tạo phạm nhân tuỳ thuộc vào tính chất, mức độ phạm tội và các yếu tố nhân thân khác.
Dù là loại trại nào và quản lý đối tƣợng loại gì thì trại giam vẫn phải thực hiện chức năng, nhiệm vụ giam giữ, giáo dục, cải tạo phạm nhân, trong đó chức năng quản lý chặt chẽ, không để phạm nhân có điều kiện, cơ hội phạm tội mới, trốn khỏi nơi giam giữ là quan trọng và cần thiết nhằm mục đích giáo dục cải tạo và trả về cho xã hội những con ngƣời hoàn lƣơng. Việc phân trại giam làm 3 loại đã có tác dụng phân hoá tội phạm triệt để, từ đó áp dụng các biện pháp quản lý, giam giữ, giáo dục phù hợp. Tuy nhiên qua 14 năm thi hành Pháp lệnh thấy việc phân trại giam làm 3 loại không phù hợp với điều kiện địa lý trải dài của nƣớc ta và việc phân bố trại giam không đều giữa các vùng lãnh thổ đã dẫn đến nhiều bất cập cho cơ quan thi hành án, trong việc điều chuyển, 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trích xuất phạm nhân, việc thăm gặp của thân nhân phạm nhân gặp rất nhiều khó khăn, tốn kém do chi phí đi lại. Để giải quyết vấn đề trên, Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh thi hành án phạt tù đã sửa đổi xoá bỏ không còn trại giam loại I, trại giam loại II, trại giam loại III mà chỉ còn một mô hình trại giam, đến Luật Thi hành án hình sự tiếp tục khẳng định trại giam có khu giam giữ đối với ngƣời bị kết án tù trên 15 năm, tù chung thân, ngƣời bị kết án tù thuộc loại tái phạm nguy hiểm và khu giam giữ đối với ngƣời bị kết án tù từ 15 năm trở xuống.
Với mô hình trại giam nhƣ trên đã giải quyết đƣợc nhiều vấn đề bấp cập đối với công tác tổ chức thi hành án phạt tù hiện nay và đảm bảo tốt quyền của phạm nhân, đặc biệt là tạo thuận lợi thăm gặp thân nhân. Trong công tác tổ chức thi hành án phạt tù ở trại giam việc giáo dục, cải tạo phạm nhân phải kết hợp chặt chẽ với giáo dục văn hoá, pháp luật, phổ biến thời sự chính sách, giáo dục công dân, dạy nghề kết hợp với việc giáo dục cải tạo bằng lao động để tạo điều kiện thuận lợi cho phạm nhân mau chóng hoà nhập với cộng đồng sau khi chấp hành xong hình phạt tù. Việc giáo dục cải tạo phạm nhân của các trại giam mang tính xã hội và nhân văn cao nhƣng đồng thời là việc làm vô cùng khó khăn và phức tạp. Vai trò của trại giam thể hiện tính hai mặt không thể tách rời, đó là cƣỡng bức pháp lý và giáo dục cải tạo.
Nếu chúng ta chỉ chú trọng biện pháp trừng trị, quản chế, giam giữ mà không chú ý đến việc thực hiện chính sách pháp luật về giáo dục cải tạo, không cảm hoá thuyết phục đƣợc phạm nhân thì kết quả thi hành án phạt tù chẳng những không xoá bỏ đƣợc tƣ tƣởng chống đối chế độ, coi thƣờng pháp luật ở họ… mà còn làm họ ngày càng trở nên liều lĩnh, hận thù chế độ… Nếu chỉ coi trọng khâu giáo dục, lơi lỏng biện pháp trừng trị, quản chế thi hành án phạt tù, không giữ vững đƣợc kỷ luật trại giam thì chẳng những làm cho phạm nhân có thái độ coi thƣờng pháp luật. mà họ sẽ 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lợi dụng cơ hội, sơ hở để chống phá và trốn trại giam ra ngoài tiếp tục hoạt động phạm tội. Trong hoạt động giam giữ, quản lý, giáo dục, cải tạo phạm nhân, trại giam phải tuân thủ các quy định của pháp luật, không đƣợc dùng nhục hình, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của họ, đồng thời phải chú trọng rèn luyện, xây dựng cho họ nhân cách con ngƣời, giúp họ có nhận thức đúng đắn về lao động và hình thành thói quen lao động, nâng cao ý thức tập thể, ý thức kỷ luật và trách nhiệm đối với xã hội. Thông qua hoạt động giam giữ, quản chế, giáo dục cải tạo phạm nhân phải tiếp tục khai thác, nghiên cứu, sử dụng các thông tin do phạm nhân cung cấp phục vụ yêu cầu giữ gìn trật tự an ninh trong và ngoài trại giam đồng thời tích cực góp phần vào cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm trên phạm vi cả nƣớc.
Từ những vấn đề đã trình bày ở trên cho thấy: a. Trại giam là nơi quản lý, giáo dục, cải tạo phạm nhân để họ trở thành ngƣời lƣơng thiện; b.Trại giam không chỉ là nơi thể hiện quyền lực của Nhà nƣớc, của nhân dân, nơi đảm bảo hiệu lực và công bằng của pháp luật, mà còn là nơi trực tiếp thực hiện các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn, trấn áp tội phạm. Trại giam Việt Nam luôn gắn liền và phản ánh cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ ANQG và giữ gìn TTATXH. Chức năng, nhiệm vụ của trại giam đƣợc hình thành, củng cố và phát triển và ngày một hoàn thiện.
Trong những giai đoạn đặc biệt của cách mạng, của đất nƣớc, trại giam còn giam giữ, giáo dục hàng vạn đối tƣợng bị bắt tập trung giáo dục, cải tạo. Thực hiện chức năng của mình, trại giam không những chỉ trừng trị và giáo hoá phạm nhân mà còn tiến hành các hoạt động nghiệp vụ nhằm phát hiện ngăn chặn kịp thời tội phạm, góp phần không nhỏ vào cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm bảo vệ ANQG và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trại giam Việt Nam có quá trình hình thành và tồn tại rất đặc thù. Nó gắn liền với lịch sử các giai đoạn lịch sử cách mạng Việt Nam.
Trại giam là cơ quan thi hành hình phạt tù không chỉ là công cụ thực hiện sự cƣỡng chế của Nhà nƣớc đối với những ngƣời bị Toà án phạt tù có thời hạn, tù chung thân nhằm giáo dục, cải tạo họ trở thành ngƣời lƣơng thiện, mà trại giam còn phải là công cụ quan trọng của Nhà nƣớc, của xã hội để thiết lập bảo vệ, xây dựng trật tự xã hội mới, XHCN. Khái niệm phạm nhân Phạm nhân là người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, tù chung thân (Khoản 2 Điều 3 Luật Thi hành án hình sự). Một con ngƣời đƣợc coi là phạm nhân khi họ phạm tội bị kết án phạt tù và đƣợc đƣa đến trại giam để chấp hành bản án, đồng thời với việc trở thành phạm nhân họ có một địa vị pháp lý hoàn toàn khác với các công dân bình thƣờng ngoài xã hội. Phạm nhân bị tƣớc hoặc bị hạn chế một số quyền tự do cơ bản nhƣ: hội họp, biểu tình, tự do cƣ trú, đi lại, bầu cử, ứng cử.
nhƣng không có nghĩa là đã mất quyền công dân. Họ còn các quyền và nghĩa vụ chủ yếu nhƣ: lao động, học tập, bảo vệ sức khoẻ, bất khả xâm phạm về thân thể, tính mạng, sức khoẻ, danh dự, khiếu nại, tố cáo v.