Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp tập trung nghiên cứu chế định người bị kiện trong pháp luật tố tụng hành chính (TTHC) Việt Nam, đặt trong bối cảnh thực thi Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị năm 1966 và Hiến pháp năm 2013 về nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước Tòa án và cơ quan tài phán. Về mặt lập pháp, sự ra đời của Luật TTHC năm 2015 đã thiết lập hành lang pháp lý cụ thể hơn nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử các vụ án hành chính (VAHC) cho thấy vẫn phát sinh nhiều vướng mắc xuất phát từ cả quy định pháp luật lẫn ý thức chấp hành của người bị kiện (NBK). Tình trạng chậm trễ cung cấp tài liệu, chứng cứ hoặc vắng mặt tại các phiên đối thoại, phiên tòa làm ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ giải quyết vụ án của Tòa án và làm phát sinh bức xúc cho người khởi kiện (NKK).

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là làm rõ cơ sở lý luận và pháp lý về quyền và nghĩa vụ (Q&NV) của NBK trong TTHC; phân tích thực trạng áp dụng pháp luật trong thực tiễn xét xử, từ đó đề xuất các nhóm giải pháp hoàn thiện quy định pháp lý và nâng cao hiệu quả thi hành.

Để đạt được mục tiêu trên, tác giả xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Làm rõ cơ sở lý luận về Q&NV của NBK trong TTHC, tạo tiền đề phân tích các quy định của pháp luật hiện hành.
  2. Hệ thống hóa và làm nổi bật các quy định của pháp luật TTHC Việt Nam về Q&NV của NBK.
  3. Chỉ rõ những bất cập, vướng mắc trong quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện về mặt pháp lý cũng như thực tiễn.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hệ thống lý luận, các quy định pháp luật TTHC và thực trạng thực hiện Q&NV của NBK trong VAHC. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các quy định của Luật TTHC năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) đối với các nhóm quyền và nghĩa vụ chủ yếu: thu thập, cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng minh; cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng (VBTT); tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp; kháng cáo và đề nghị kháng nghị. Đề tài không nghiên cứu thủ tục xét xử rút gọn. Về mặt thực tiễn, nghiên cứu sử dụng dữ liệu báo cáo xét xử trên phạm vi cả nước và tập trung phân tích sâu tại một số địa phương như Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng, Đắk Lắk trong giai đoạn 2018–2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận tiếp cận đối tượng nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước và pháp luật, cùng các quan điểm của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp.

Về mặt lý thuyết và khái niệm, tác giả phân tích khái niệm "quyền" và "nghĩa vụ" dưới ba góc độ: ngôn ngữ học (Từ điển tiếng Việt, Từ điển Luật học), khoa học pháp lý (tham chiếu nghiên cứu của Đặng Xuân Sơn, Lê Thị Thu Nga, Hồ Quyết Tiến) và luật thực định. Khái niệm "người bị kiện" được làm rõ qua các góc độ tiếp cận của Giáo trình Luật Tố tụng hành chính Việt Nam (Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh), Từ điển pháp luật Việt Nam và khoản 9 Điều 3 Luật TTHC năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019). Nghiên cứu dựa trên các nguyên tắc cơ bản: nguyên tắc quản lý xã hội bằng pháp luật trong nhà nước pháp quyền, nguyên tắc quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân (khoản 1 Điều 15 Hiến pháp 2013), và nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự (khoản 7 Điều 103 Hiến pháp 2013, Điều 19 Luật TTHC 2015).

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và văn bản giải thích áp dụng làm nền tảng bao gồm:

  • Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị năm 1966.
  • Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.
  • Luật Tố tụng hành chính năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019 theo Luật số 55/2019/QH14).
  • Luật Tố tụng hành chính năm 2010 (dùng so sánh, đối chiếu).
  • Luật Giao dịch điện tử năm 2005.
  • Công văn số 02/GĐ-TANDTC ngày 19/9/2016 của Tòa án nhân dân tối cao giải đáp một số vấn đề TTHC, tố tụng dân sự.

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được triển khai:

  • Phương pháp phân tích luật viết và phương pháp so sánh luật học: sử dụng tại Chương 1 để phân tích từng điều luật cụ thể của Luật TTHC năm 2015 và chỉ ra các điểm mới so với Luật TTHC năm 2010.
  • Phương pháp quy nạp và diễn dịch: sử dụng để khái quát hóa các thuộc tính, đặc điểm và ý nghĩa pháp lý của Q&NV của NBK.
  • Phương pháp thống kê: sử dụng tại Chương 2 nhằm xử lý các số liệu thụ lý, giải quyết án hành chính, tỷ lệ án bị hủy, sửa, tỷ lệ vắng mặt của NBK tại phiên tòa, phiên đối thoại.
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: áp dụng xuyên suốt khóa luận để kết nối giữa quy định pháp luật và các vụ án thực tế.

Nguồn dữ liệu thực nghiệm phục vụ phân tích bao gồm:

  • Báo cáo tổng kết công tác nhiệm kỳ và công tác năm của ngành Tòa án nhân dân (2018–2022).
  • Báo cáo tổng kết công tác nhiệm kỳ 2016–2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
  • Báo cáo kết quả giám sát của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội về việc chấp hành pháp luật trong giải quyết các VAHC của Chủ tịch UBND và UBND.
  • Mẫu khảo sát thực tế gồm 300 bản án sơ thẩm VAHC năm 2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh công bố trên Cổng thông tin điện tử của TANDTC.
  • Hồ sơ, quyết định giám đốc thẩm, bản án phúc thẩm và thông báo rút kinh nghiệm thực tế (Quyết định số 111/2022/QĐ-PT của TANDCC tại Hà Nội; Quyết định GĐT số 05/2020/HC-GĐT và Thông báo rút kinh nghiệm số 40/TB-VC2-HC của VKSNDCC tại Đà Nẵng).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý về quyền và nghĩa vụ của người bị kiện trong tố tụng hành chính

Chương 1 xây dựng khung lý thuyết và rà soát hệ thống quy định pháp luật điều chỉnh tư cách tố tụng của NBK, bao gồm các nội dung trọng tâm:

  1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa:

    • Khái niệm: NBK trong VAHC là cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyết định hành chính (QĐHC), hành vi hành chính (HVHC), quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, danh sách cử tri bị khởi kiện, và theo sửa đổi năm 2019 bổ sung thêm quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước. Q&NV của NBK là tổng hợp các quy định cho phép NBK được thực hiện hoặc bắt buộc phải thực hiện khi tham gia quan hệ TTHC.
    • Đặc điểm: Tư cách của NBK xuất hiện mang tính chất thụ động (phát sinh khi NKK khởi kiện hợp lệ và được Tòa án thụ lý); Q&NV của NBK gắn liền với quan hệ pháp luật TTHC cụ thể; quyền luôn tồn tại song song và đối lập biện chứng với nghĩa vụ; kỹ thuật lập pháp tại Điều 55 và Điều 57 Luật TTHC năm 2015 thể hiện tính liệt kê đan xen, không tách bạch tuyệt đối giữa quyền và nghĩa vụ.
    • Ý nghĩa: Việc thực hiện đúng Q&NV giúp Tòa án giải quyết vụ án khách quan, đúng pháp luật, giảm tỷ lệ án bị hủy, sửa; bảo đảm quyền tự bảo vệ của NBK và quyền lợi của đương sự khác; đồng thời giúp cơ quan hành chính nhà nước tự kiểm tra, khắc phục sai phạm trong hoạt động quản lý.
  2. Các nhóm quy định cụ thể của Luật TTHC năm 2015:

    • Quyền và nghĩa vụ về thu thập, cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng minh (Điều 9, Điều 55, Chương VI): NBK có nghĩa vụ cung cấp hồ sơ giải quyết khiếu nại và bản sao văn bản làm căn cứ ban hành QĐHC/HVHC (Điều 78). Luật năm 2015 bổ sung các nguồn chứng cứ mới (dữ liệu điện tử, tài liệu nghe được, nhìn được tại Điều 81). Thời hạn giao nộp do Thẩm phán ấn định nhưng không quá thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm (Điều 83). Đối với việc nộp chậm chứng cứ tại giai đoạn xét xử sơ thẩm, đương sự phải chứng minh lý do chính đáng theo hướng dẫn tại Công văn số 02/GĐ-TANDTC. NBK có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức lưu giữ chứng cứ cung cấp trong thời hạn 15 ngày (Điều 93) hoặc đề nghị Tòa án xác minh, thu thập, buộc bên khác xuất trình chứng cứ (khoản 7 Điều 55), cũng như quyền sao chụp, tiếp cận tài liệu chứng cứ (khoản 8 Điều 55).
    • Cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng (Điều 99 - Điều 104): Quy định cụ thể các chủ thể thực hiện, thủ tục lập biên bản giao nhận có chữ ký, và bổ sung phương thức tống đạt bằng phương tiện điện tử phù hợp với Luật Giao dịch điện tử năm 2005.
    • Quyền tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ (Điều 19, Điều 55, Điều 61): NBK có quyền tự mình thực hiện các hành vi tố tụng để bảo vệ quyết định, hành vi của mình hoặc nhờ luật sư, người khác có đủ điều kiện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp.
    • Quyền kháng cáo, đề nghị kháng nghị và các quyền tố tụng khác: Thực hiện theo trình tự phúc thẩm, giám đốc thẩm để bảo vệ tính hợp pháp của công quyền khi không đồng ý với phán quyết của Tòa án.

Chương 2. Thực trạng và giải pháp hoàn thiện về quyền và nghĩa vụ của người bị kiện trong tố tụng hành chính

Chương 2 phản ánh bức tranh thực tiễn áp dụng pháp luật thông qua số liệu thống kê ngành và phân tích án lệ điển hình:

  1. Số liệu xét xử án hành chính toàn quốc (2018–2022): Tác giả tổng hợp dữ liệu từ các báo cáo chính thức của ngành Tòa án nhằm minh chứng áp lực thụ lý ngày càng tăng và chất lượng giải quyết án còn những điểm hạn chế:
Năm Số vụ thụ lý Số vụ đã giải quyết, xét xử Tỷ lệ giải quyết (%) Tỷ lệ bản án, QĐ bị hủy (%) Tỷ lệ bản án, QĐ bị sửa (%)
2018 10.506 6.575 62,58% 4,43% 3,00%
2019 10.785 7.142 66,22% 4,16% 3,40%
2020 12.470 8.582 68,80% 3,26% 2,92%
2021 10.728 5.693 53,10% 2,44% 2,82%
2022 11.746 8.524 72,60% 2,16% Chưa nêu rõ

Bên cạnh đó, trong nhiệm kỳ 2016–2020, Viện kiểm sát nhân dân các cấp đã thực hiện kiểm sát đối với 33.011 VAHC (tăng 10,1% so với nhiệm kỳ trước). Số lượng VAHC tăng bình quân 11% mỗi năm, tập trung nhiều nhất ở lĩnh vực đất đai.

  1. Thực trạng thực hiện nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ:

    • Tồn tại thực trạng phổ biến là NBK không cung cấp đầy đủ hoặc chậm trễ cung cấp tài liệu làm căn cứ ban hành QĐHC. Theo báo cáo của TANDTC, có tới 57/63 Tòa án cấp tỉnh phản ánh khó khăn trong công tác thu thập chứng cứ từ UBND.
    • Vụ án minh chứng 1: VAHC sơ thẩm số 88/2021/TLST-HC tại Hải Phòng (bà Nguyễn Thị M kiện UBND huyện Thủy N), Tòa án sơ thẩm phải thông báo đến lần thứ 3 yêu cầu giao nộp hồ sơ thu hồi đất, phương án bồi thường nhưng NBK không cung cấp, dẫn đến việc Tòa án phải ban hành Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án số 03/2022/QĐST-HC (bị kháng cáo tại Quyết định phúc thẩm số 111/2022/QĐ-PT).
    • Vụ án minh chứng 2: VAHC giữa ông Lê Quốc Khiên và Chủ tịch UBND huyện Ea H’Leo (Đắk Lắk), Tòa án cấp phúc thẩm đã hủy Quyết định số 2895/QĐ-UBND với nhận định không khách quan khi chỉ dựa vào việc UBND huyện không cung cấp được hồ sơ giải quyết khiếu nại; vụ án sau đó bị Ủy ban Thẩm phán TANDCC tại Đà Nẵng ra Quyết định giám đốc thẩm số 05/2020/HC-GĐT hủy án phúc thẩm theo Thông báo rút kinh nghiệm số 40/TB-VC2-HC.
  2. Thực trạng tống đạt văn bản tố tụng và sự tham gia của người bảo vệ:

    • Tống đạt VBTT: Bộ phận văn thư của NBK (đặc biệt là cấp UBND) thường từ chối ký nhận biên bản tống đạt khi lãnh đạo không tham gia trực tiếp hoặc không ủy quyền cho cấp phó nhận văn bản.
    • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Trong giai đoạn 2015–2020, luật sư cả nước chỉ tham gia 4.097 VAHC (quá thấp so với 67.339 vụ việc dân sự). Khảo sát thực tế của tác giả đối với 300 bản án sơ thẩm năm 2022 tại TAND TP. Hồ Chí Minh ghi nhận tỷ lệ NBK có người bảo vệ tham gia tố tụng là 67%, còn lại 33% không có. Ngoài ra, việc luật sư thực hiện quyền sao chụp, tiếp cận tài liệu tại điểm b khoản 6 Điều 61 Luật TTHC năm 2015 gặp khó khăn do thiếu thông tư, văn bản hướng dẫn chi tiết.
  3. Thực trạng tham gia phiên tòa, phiên đối thoại và việc ủy quyền: Báo cáo giám sát của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội (giai đoạn 2019–2021) ghi nhận 32,6% số phiên đối thoại và 27,8% số phiên tòa không có sự tham gia của UBND hoặc người đại diện:

Địa phương Tỷ lệ / Số trường hợp vắng mặt tại phiên tòa Tỷ lệ / Số trường hợp vắng mặt tại phiên đối thoại
Hà Nội Vắng 782/1.784 vụ (43,8%); Chủ tịch UBND/người ủy quyền vắng 100% Vắng 100% các phiên đối thoại
TP. Hồ Chí Minh Vắng 963/1.572 vụ (61,3%) Thường xuyên kéo dài do vắng mặt
Đà Nẵng Vắng 97/598 vụ (16,2%); riêng đợt kiểm tra vắng 67/88 phiên tòa Không có số liệu riêng
Khánh Hòa Chưa nêu rõ Chủ tịch UBND/đại diện vắng 100%
Sóc Trăng Không nêu Vắng 78/88 phiên đối thoại
Lạng Sơn Vắng 46/65 phiên tòa Không nêu
Yên Bái Vắng 47/59 phiên tòa Không nêu

Tác giả nêu dẫn chứng vụ án ông Phạm Thế Vinh kiện UBND quận 2 (TP. Hồ Chí Minh) thụ lý từ năm 2012 kéo dài gần 10 năm không thể xét xử dứt điểm do đại diện chính quyền vắng mặt. Về việc ủy quyền, mặc dù khoản 3 Điều 60 Luật TTHC năm 2015 quy định NBK chỉ được ủy quyền cho cấp phó, song trong nhiều trường hợp cấp phó được ủy quyền vẫn gửi đơn xin xét xử vắng mặt, làm vô hiệu hóa ý nghĩa của thủ tục đối thoại theo quy định tại Điều 140.

Kết quả và đóng góp

Về kết quả nghiên cứu, khóa luận đã làm rõ bản chất pháp lý của mối quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ của NBK trong TTHC: tư cách tố tụng hình thành bị động nhưng đòi hỏi trách nhiệm chứng minh chủ động đối với tính hợp pháp của quyết định, hành vi bị khởi kiện. Tác giả đã tổng hợp được bức tranh toàn diện về việc thực thi Luật TTHC năm 2015 trên cơ sở số liệu giám sát của Quốc hội, báo cáo thống kê ngành Tòa án giai đoạn 2018–2022 và khảo sát 300 bản án sơ thẩm năm 2022 tại TAND TP. Hồ Chí Minh.

Đóng góp của đề tài được thể hiện qua các điểm sau:

  • Khắc phục sự tản mạn của các công trình đi trước (vốn chỉ nghiên cứu riêng rẽ về chứng cứ, đối thoại hoặc trách nhiệm công vụ), đề tài là công trình nghiên cứu chuyên sâu, trực tiếp và hệ thống về toàn bộ nhóm Q&NV của NBK theo Luật TTHC năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019).
  • Làm rõ nguyên nhân trực tiếp dẫn đến án tồn đọng và tỷ lệ hủy, sửa án hành chính thông qua thực trạng chấp hành nghĩa vụ tố tụng: tình trạng chậm nộp chứng cứ của 57/63 Tòa án cấp tỉnh và tỷ lệ vắng mặt cao của đại diện chính quyền tại các đô thị lớn (Hà Nội vắng 43,8% phiên tòa và 100% đối thoại; TP. Hồ Chí Minh vắng 61,3% phiên tòa).
  • Đưa ra cơ sở thực tiễn để định hướng các giải pháp: hoàn thiện cơ chế chế tài xử lý trách nhiệm khi không giao nộp chứng cứ hoặc vắng mặt không lý do; ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết về thủ tục cấp, tống đạt văn bản điện tử và quyền sao chụp tài liệu của luật sư; chấn chỉnh kỷ luật công vụ đối với người đại diện theo ủy quyền của cơ quan hành chính.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, đề tài chủ động giới hạn phạm vi nghiên cứu, không đi sâu vào thủ tục xét xử rút gọn trong TTHC. Mẫu khảo sát bản án thực tế mới chỉ thực hiện được trên 300 bản án sơ thẩm tại địa bàn TP. Hồ Chí Minh trong năm 2022, chưa thể mở rộng khảo sát tương tự đối với các tỉnh miền núi hay đồng bằng sông Hồng do nguồn công bố bản án trực tuyến còn hạn chế về khả năng tiếp cận toàn diện hồ sơ.

Hướng nghiên cứu tiếp theo bao gồm việc mở rộng nghiên cứu Q&NV của NBK trong thủ tục rút gọn; nghiên cứu so sánh quy định và cơ chế bảo đảm thi hành phán quyết hành chính, cơ chế chế tài đối với người đứng đầu cơ quan công quyền trong tố tụng hành chính của một số quốc gia trên thế giới; khảo sát tác động của mô hình Tòa án điện tử đối với hoạt động tống đạt văn bản và cung cấp tài liệu, chứng cứ số hóa.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật: Cung cấp tài liệu tham khảo có cấu trúc rõ ràng về môn học Luật Tố tụng hành chính, đặc biệt là nội dung lý luận về địa vị pháp lý của đương sự và cơ chế chứng minh trong vụ án hành chính.
  • Người nghiên cứu và xây dựng chính sách pháp luật: Các bảng tổng hợp số liệu thực tế về tỷ lệ vắng mặt tại phiên tòa, phiên đối thoại và tình trạng chậm nộp chứng cứ là căn cứ thực tiễn phục vụ việc sửa đổi, bổ sung Luật TTHC và các văn bản hướng dẫn thi hành của Hội đồng Thẩm phán TANDTC.
  • Đội ngũ Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên và Luật sư: Phần phân tích quy định Điều 83, Công văn số 02/GĐ-TANDTC về chấp nhận chứng cứ giao nộp chậm và các dẫn chứng về tống đạt VBTT mang lại giá trị kỹ năng nghề nghiệp trong quá trình giải quyết các vụ án hành chính phức tạp về đất đai.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo quy định pháp luật hiện hành, chủ thể nào được xác định là người bị kiện trong vụ án hành chính?
Căn cứ khoản 9 Điều 3 Luật TTHC năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 55/2019/QH14), người bị kiện là cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước, hoặc danh sách cử tri bị khởi kiện.

2. Người bị kiện có bắt buộc phải cung cấp những chứng cứ gì cho Tòa án và thời hạn thực hiện ra sao?
Theo khoản 2 Điều 78 Luật TTHC năm 2015, người bị kiện có nghĩa vụ cung cấp cho Tòa án hồ sơ giải quyết khiếu nại (nếu có) và bản sao các văn bản, tài liệu dùng làm căn cứ ban hành hoặc thực hiện đối tượng bị khởi kiện. Thời hạn giao nộp do Thẩm phán ấn định nhưng không được vượt quá thời hạn chuẩn bị xét xử theo thủ tục sơ thẩm (khoản 4 Điều 83).

3. Tòa án xử lý như thế nào khi đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ sau khi đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm?
Theo hướng dẫn tại Công văn số 02/GĐ-TANDTC ngày 19/9/2016 của TANDTC, đương sự phải chứng minh lý do của việc chậm giao nộp. Nếu lý do chính đáng, Hội đồng xét xử chấp nhận tài liệu, chứng cứ đó. Nếu lý do không chính đáng, Tòa án không chấp nhận nhưng phải lập luận rõ việc không chấp nhận trong bản án, quyết định; trừ trường hợp tài liệu đã có chưa đủ cơ sở để giải quyết vụ án thì Tòa án yêu cầu nộp bổ sung hoặc tự xác minh.

4. Báo cáo giám sát của cơ quan có thẩm quyền chỉ ra thực trạng vắng mặt của UBND và người đại diện tại các phiên tòa, đối thoại ra sao?
Báo cáo của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội (giai đoạn 2019–2021) ghi nhận có tới 32,6% số phiên đối thoại và 27,8% số phiên tòa không có sự tham gia của UBND hoặc người đại diện. Đáng chú ý, tại Hà Nội, Chủ tịch UBND hoặc người đại diện vắng mặt 43,8% số phiên tòa và vắng mặt 100% các phiên đối thoại; tại TP. Hồ Chí Minh vắng mặt 61,3% số phiên tòa; tại tỉnh Khánh Hòa vắng mặt 100% các phiên đối thoại.

5. Người bị kiện là Chủ tịch Ủy ban nhân dân được ủy quyền tham gia tố tụng cho những ai?
Căn cứ khoản 3 và khoản 5 Điều 60 Luật TTHC năm 2015, người bị kiện chỉ được ủy quyền cho cấp phó của mình đại diện tham gia tố tụng. Người đại diện theo ủy quyền phải tham gia vào quá trình giải quyết toàn bộ vụ án, thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của người bị kiện và không được ủy quyền lại cho người thứ ba.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và các quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của người bị kiện. Bằng phương pháp nghiên cứu luật viết kết hợp phân tích số liệu thống kê thực chứng giai đoạn 2018–2022, tác giả đã chỉ rõ những bất cập lớn trong thực tiễn thực thi như tình trạng chậm nộp chứng cứ, việc vắng mặt phổ biến của đại diện chính quyền tại phiên tòa, đối thoại và những rào cản tống đạt văn bản tố tụng. Công trình mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho công tác hoàn thiện khung pháp lý tố tụng hành chính và nâng cao trách nhiệm giải trình của các cơ quan quản lý nhà nước khi tham gia tố tụng.