Chương 1. Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý về quyền và nghĩa vụ của người bị kiện trong tố tụng hành chính Chương 2. Thực trạng và giải pháp hoàn thiện về quyền và nghĩa vụ của người bị kiện trong tố tụng hành chính. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI BỊ KIỆN TRONG TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH 1.
Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa về quyền và nghĩa vụ của người bị kiện trong tố tụng hành chính 1. Khái niệm về quyền và nghĩa vụ của người bị kiện trong tố tụng hành chính NBK là một trong hai chủ thể không thể thiếu trong quá trình giải quyết vụ án của Tòa án, có thể nói không có NBK thì cũng không có VAHC. Hiện nay, Luật TTHC năm 2015 đã quy định khá đầy đủ, chi tiết về Q&NV của NBK trong VAHC để đảm bảo NBK có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình một cách tốt nhất trước Tòa án. Tuy nhiên, vẫn chưa có một văn bản quy phạm pháp luật nào quy định cụ thể, chi tiết về khái niệm Q&NV của NBK trong VAHC.
Vì vậy, khi tìm hiểu khái niệm Q&NV và khái niệm NBK trong VAHC cần phải tiếp cận với nhiều góc độ khác nhau như: góc độ ngôn ngữ học, khoa học pháp lý và trong các văn bản pháp luật về TTHC. Thứ nhất, khái niệm về “Q&NV” Một là, dưới góc độ ngôn ngữ học, khái niệm “Q&NV” được cấu thành bởi hai khái niệm “quyền” và “nghĩa vụ”. (i) Về khái niệm “quyền”, theo Từ điển tiếng Việt, “quyền” được hiểu là “điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi”1. Bên cạnh đó, theo Từ điển Luật học, “quyền” có nghĩa là “khái niệm khoa học pháp lý dùng để chỉ những điều mà pháp luật công nhận và đảm bảo thực hiện đối với cá nhân tổ chức để theo đó cá nhân được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn cản, được hạn chế”2.
Có thể thấy, cả hai Từ điển trên đều đưa ra khái niệm “quyền” theo nghĩa chung nhất - “quyền là điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận và chủ thể có quyền được hưởng, được làm, được đòi hỏi”. Tuy nhiên, khái niệm “quyền” mà Từ điển Luật học đưa ra mang tính khoa học pháp lý cao hơn, khẳng định cơ chế bảo vệ quyền là không ai được ngăn cản, hạn chế. Nhìn chung, đó là những gì pháp luật quy định được làm, được hưởng thì không ai được tước đi quyền đó. (ii) Về khái niệm “nghĩa vụ”, Từ điển tiếng Việt cho rằng “nghĩa vụ” là “việc mà đạo đức bắt buộc phải làm đối với xã hội, đối với người khác”3.
Bên cạnh đó, Từ 1 Hoàng Phê (chủ biên) (2006), Từ điển tiếng Việt, Nxb. 2 Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nxb. Từ điển Bách khoa, tr. 3 Hoàng Phê (chủ biên) (2006), Từ điển tiếng Việt, Nxb.
6 điển Luật học khẳng định “nghĩa vụ” là “việc phải làm theo bổn phận của mình”4. Nhìn chung, cả hai khái niệm đều đưa ra bản chất của nghĩa vụ là việc mà cá nhân phải làm theo trách nhiệm, bổn phận mà pháp luật hay đạo đức bắt buộc. Cả hai cách giải thích trên về khái niệm nghĩa vụ đều ngắn gọn, dễ hiểu. Tuy nhiên, so với Từ điển tiếng Việt, Từ điển Luật học đưa ra khái niệm “nghĩa vụ” chưa thật sự đầy đủ, toàn diện.
Hai là, dưới góc độ khoa học pháp lý, khái niệm “Q&NV” không được đề cập trực tiếp, tuy nhiên, các nhà nghiên cứu sẽ gắn chặt khái niệm này với chủ thể ở một thời gian, địa điểm. Chẳng hạn, tác giả Đặng Xuân Sơn bàn luận rằng “Q&NV của đương sự trong VAHC là tổng hợp những điều mà đương sự được làm hoặc phải làm khi tham gia vào quan hệ pháp luật TTHC theo quy định của pháp luật”5 hay tác giả Lê Thị Thu Nga kết luận rằng “Q&NV của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự là những việc mà Tòa án cấp sơ thẩm được làm và phải làm trong một khoảng thời gian xác định của quá trình tố tụng nhằm chuẩn bị những điều kiện cần thiết để xét xử sơ thẩm vụ án dân sự”6. Nhìn chung, các khái niệm này đều dựa trên bản chất của khái niệm “Q&NV” để triển khai cho tương ứng với từng loại chủ thể ở từng thời gian, địa điểm. Ba là, ở góc độ văn bản pháp luật, các văn bản pháp luật nói chung và Luật TTHC năm 2015 nói riêng đều không giải thích từ ngữ “Q&NV”.
Nhìn chung, tương ứng với từng văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan, tổ chức, cá nhân sẽ được pháp luật trao cho những Q&NV cụ thể, chi tiết ở thời gian, địa điểm. Song các quy định này chỉ mang tính chất liệt kê mà không phân tích sâu bản chất “Q&NV” của chủ thể này hay chủ thể khác. Thứ hai, khái niệm về “NBK” Một là, dưới góc độ ngôn ngữ, Từ điển pháp luật Việt Nam đã chỉ ra rằng “NBK là cơ quan, tổ chức, cá nhân có QĐHC, HVHC, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, danh sách cử tri bị khởi kiện”7. Tuy nhiên, khái niệm này được đưa ra ở thời điểm Luật TTHC năm 2015 chưa được sửa đổi, bổ sung.
Hiện nay, Luật TTHC năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 55/2019/QH14 ngày 26 tháng 11 năm 2019 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kiểm toán nhà nước. Theo đó, NBK là người có các 4 Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nxb. Từ điển Bách khoa, tr. 5 Đặng Xuân Sơn (2014), Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong Tố tụng hành chính, Khoá luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr.
6 Hồ Quyết Tiến (2015), Quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, Luận văn Thạc sỹ, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 7 Nguyễn Ngọc Điệp (2020), Từ điển pháp luật Việt Nam, Nxb. Thế giới, tr. 7 đối tượng bị khởi kiện như QĐHC, HVHC, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, danh sách cử tri bị khởi kiện và “quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước”.
Hai là, dưới góc độ khoa học pháp lý, khái niệm “NBK” được Giáo trình Luật Tố tụng hành chính Việt Nam của trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh đề cập như sau “NBK là chủ thể có đối tượng bị khởi kiện VAHC. Hay nói một cách ngắn gọn là chủ thể bị NKK khởi kiện VAHC hợp lệ”8. Khái niệm này ngắn gọn, xúc tích nhưng vẫn đề cập được những đặc trưng cơ bản của NBK. Tư cách của NBK xuất hiện một cách thụ động, bởi vì một chủ thể chính thức trở thành NBK khi và chỉ khi NKK đã khởi kiện hợp lệ và được Tòa án có thẩm quyền chấp nhận9.
Với cách đề cập này, những đối tượng bị khởi kiện không được liệt kê rõ ràng mà các điều kiện để trở thành NBK trong TTHC được tập trung làm rõ. Ba là, dưới góc độ văn bản pháp luật, theo quy định tại khoản 9 Điều 3 Luật TTHC năm 2015 “NBK là cơ quan, tổ chức, cá nhân có QĐHC, HVHC, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước, danh sách cử tri bị khởi kiện”. Dựa trên những khái niệm đã nêu ở trên, có thể đưa ra khái niệm Q&NV của NBK trong VAHC như sau: “Q&NV của NBK trong VAHC là những quy định cho phép NBK được thực hiện mà không ai được ngăn cấm, tước đoạt hoặc những quy định bắt buộc NBK phải thực hiện khi tham gia vào quan hệ TTHC”. Đặc điểm về quyền và nghĩa vụ của người bị kiện trong tố tụng hành chính Trên cơ sở khái niệm Q&NV của NBK đã được phân tích thì Q&NV của NBK trong VAHC có những đặc điểm sau đây: Thứ nhất, Q&NV của NBK trong VAHC là những điều mà NBK được phép thực hiện và bắt buộc thực hiện theo quy định của pháp luật TTHC Luật TTHC năm 2015 quy định rất nhiều Q&NV khác nhau cho NBK trong TTHC.
Đây là những điều mà pháp luật cho phép NBK được thực hiện hoặc bắt buộc thực hiện. Nguyên tắc của nhà nước pháp quyền là “nhà nước quản lý bằng pháp luật và pháp luật là công cụ quan trọng nhất trong việc điều chỉnh quan hệ xã hội”10. Có thể hiểu, một nhà nước pháp quyền quản lý xã hội bằng pháp luật, lấy pháp luật là 8 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình Luật Tố tụng hành chính Việt Nam (Tái bản lần thứ 1, có sửa đổi, bổ sung), Nxb. Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr.
9 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình Luật Tố tụng hành chính Việt Nam (Tái bản lần thứ 1, có sửa đổi, bổ sung), Nxb. Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr. 8 thước đo các hành vi trong xã hội và những hành vi lệch chuẩn đều bị xử lý theo quy định của pháp luật. Trong khuôn khổ pháp luật, các chủ thể trong xã hội được thực hiện các Q&NV mà pháp luật đã quy định.
Cụ thể, trong quan hệ pháp luật TTHC, NBK thực hiện đúng những điều mà pháp luật đã quy định cho Q&NV của mình mà không ai có quyền ngăn cấm hay hạn chế. Về phạm vi quyền, NBK được phép thực hiện hoặc không thực hiện, cần lưu ý rằng, những quyền mà Luật TTHC năm 2015 quy định cho NBK là “chiếc áo pháp lý” bảo vệ lợi ích hợp pháp của NBK. Trong khi đó, về phạm vi nghĩa vụ, NBK không thực hiện đúng những nghĩa vụ bắt buộc do pháp luật TTHC quy định thì sẽ phải gánh chịu những hậu quả bất lợi cho mình. Thậm chí, không chủ thể nào có quyền bắt buộc NBK và các đương sự trong vụ án thực hiện các nghĩa vụ không được quy định trong Luật TTHC năm 2015.
Thứ hai, Q&NV này phát sinh khi tham gia vào quan hệ pháp luật TTHC Hầu hết các quy định pháp luật đều được thể hiện dưới dạng văn bản pháp luật, các quy định này là khuôn mẫu chung để các chủ thể nghiêm chỉnh chấp hành và thực hiện nó. Các Q&NV pháp lý do pháp luật quy định được nhà nước bảo đảm thực hiện. Theo đó, Luật TTHC là ngành luật quy định về trình tự giải quyết VAHC.