Luận Văn Thạc Sĩ: Quyền Tự Do Ngôn Luận Trên Báo Chí Của Công Dân Ở Việt Nam Hiện Nay

Khám phá quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân tại Việt Nam hiện nay, những quy định và thực tiễn áp dụng trong xã hội hiện đại.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2020

72
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và đặc điểm của quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân

Quyền tự do ngôn luận trên báo chí là một trong những quyền cơ bản của công dân, được ghi nhận trong Hiến pháp Việt Nam và các văn bản pháp luật liên quan. Khái niệm này đề cập đến quyền của công dân được tự do bày tỏ ý kiến, chia sẻ thông tin và tham gia vào các hoạt động báo chí mà không bị hạn chế bất hợp pháp. Báo chí Việt Nam đóng vai trò là diễn đàn quan trọng để thực hiện quyền này, đồng thời phải tuân thủ các quy định của pháp luật báo chí. Đặc điểm nổi bật của quyền tự do ngôn luận trên báo chí là tính mở và liên kết rộng, nhưng cũng có giới hạn để bảo vệ lợi ích quốc gia và cộng đồng.

1.1. Khái niệm quyền tự do ngôn luận trên báo chí

Quyền tự do ngôn luận trên báo chí được hiểu là quyền của công dân được tự do tìm kiếm, tiếp nhận và chia sẻ thông tin thông qua các phương tiện báo chí. Đây là quyền cơ bản được ghi nhận trong Hiến pháp Việt Nam và các công ước quốc tế về nhân quyền. Tuy nhiên, quyền này không phải là vô hạn mà phải tuân thủ các quy định của pháp luật, đảm bảo không xâm phạm đến lợi ích quốc gia, trật tự công cộng và quyền của người khác.

1.2. Đặc điểm của quyền tự do ngôn luận trên báo chí

Quyền tự do ngôn luận trên báo chí có những đặc điểm riêng biệt, bao gồm tính mở, liên kết rộng và giới hạn pháp lý. Báo chí là diễn đàn để công dân thực hiện quyền tự do ngôn luận, nhưng cũng phải tuân thủ các quy định của pháp luật báo chí. Điều này đảm bảo rằng quyền tự do ngôn luận không bị lạm dụng để xâm phạm lợi ích quốc gia hoặc quyền của người khác. Báo chí Việt Nam luôn phải cân bằng giữa quyền tự do ngôn luận và trách nhiệm xã hội.

II. Pháp luật và thực trạng về quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân

Pháp luật Việt Nam đã có nhiều quy định cụ thể về quyền tự do ngôn luận trên báo chí, đặc biệt là trong Luật Báo chíHiến pháp Việt Nam. Tuy nhiên, thực trạng thực hiện quyền này vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là trong bối cảnh bùng nổ thông tin và sự phát triển của mạng xã hội. Báo chí Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc đảm bảo quyền tự do ngôn luận của công dân, đồng thời tuân thủ các quy định pháp luật.

2.1. Pháp luật Việt Nam về quyền tự do ngôn luận trên báo chí

Pháp luật Việt Nam đã ghi nhận quyền tự do ngôn luận trên báo chí trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật như Luật Báo chí (2016). Các quy định này đảm bảo công dân có quyền tự do bày tỏ ý kiến, tiếp cận thông tin và tham gia vào các hoạt động báo chí. Tuy nhiên, quyền này cũng phải tuân thủ các giới hạn pháp lý để bảo vệ lợi ích quốc gia và trật tự công cộng.

2.2. Thực trạng thực hiện quyền tự do ngôn luận trên báo chí

Thực trạng thực hiện quyền tự do ngôn luận trên báo chí ở Việt Nam hiện nay còn nhiều hạn chế. Mặc dù pháp luật báo chí đã có nhiều quy định cụ thể, nhưng việc thực thi vẫn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là trong bối cảnh bùng nổ thông tin và sự phát triển của mạng xã hội. Báo chí Việt Nam cần có những giải pháp cụ thể để đảm bảo quyền tự do ngôn luận của công dân, đồng thời tuân thủ các quy định pháp luật.

III. Quan điểm và giải pháp tăng cường bảo đảm quyền tự do ngôn luận trên báo chí

Để tăng cường bảo đảm quyền tự do ngôn luận trên báo chí, cần có những giải pháp cụ thể từ cả phía nhà nước và các cơ quan báo chí. Pháp luật báo chí cần được hoàn thiện để phù hợp với thực tiễn, đồng thời các cơ quan báo chí cần nâng cao trách nhiệm xã hội trong việc thực hiện quyền tự do ngôn luận. Báo chí Việt Nam cần đóng vai trò tích cực trong việc thúc đẩy dân chủ và minh bạch thông tin.

3.1. Quan điểm về quyền tự do ngôn luận trên báo chí

Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn nhất quán trong việc tôn trọng và bảo đảm quyền tự do ngôn luận trên báo chí. Tuy nhiên, quyền này phải được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, đảm bảo không xâm phạm lợi ích quốc gia và quyền của người khác. Báo chí Việt Nam cần phát huy vai trò tích cực trong việc thúc đẩy dân chủ và minh bạch thông tin.

3.2. Giải pháp tăng cường bảo đảm quyền tự do ngôn luận trên báo chí

Các giải pháp tăng cường bảo đảm quyền tự do ngôn luận trên báo chí bao gồm hoàn thiện pháp luật báo chí, nâng cao nhận thức của công dân về quyền này, và tăng cường trách nhiệm xã hội của các cơ quan báo chí. Báo chí Việt Nam cần đóng vai trò tích cực trong việc thúc đẩy dân chủ và minh bạch thông tin, đồng thời tuân thủ các quy định pháp luật.

02/03/2025
Luận văn thạc sĩ quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân ở việt nam hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 đã ghi rõ “báo chí là diễn đàn thực hiện quyền tự do ngôn luận của nhân dân”. Như vậy, tự do báo chí và tự do ngôn luận có phần đồng nhất. Đó là quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân, là quyền được tự do tìm kiếm thông tin, chia sẻ thông tin hoặc ý kiến của mình trên váo chí. Với tính chất mở và liên kết rất rộng của báo chí nói chung, mạng xã hội… nói riêng là nơi ít có và khó kiểm soát chặt chẽ hết của nhà nước.

Đây là vấn đề rất dễ bị lợi dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí. Không có quốc gia nào trên thế giới coi quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí là vô hạn, hay nói cách khác, quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí là có giới hạn. Tự do ngôn luận trên báo chí chỉ được bảo vệ khi những phát ngôn, bình luận, chia sẻ… trên báo chí khi không bị xâm phạm lợi ích hợp pháp chính đáng của quốc gia và cộng đồng, hay không xâm phạm những quyền, tự do chính đáng của người khác. Đây là điều phù hợp với các quy định trong Tuyên ngôn quốc tế và Nhân quyền.

Quan niệm của quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân Trong tất cả các văn kiện pháp luật của quốc tế và Việt Nam, khái niệm “quyền” luôn bao gồm: Quyền và nghĩa vụ. Trong đó, tự do ngôn luận, báo 9 chí, tiếp cận thông tin là một quyền cơ bản được ghi nhận trong bản Tuyên ngôn Quốc tế về nhân quyền (1948) và được thể chế trong “Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị” 1966, đã quy định rõ quyền và nghĩa vụ của người hưởng thụ quyền tự do ngôn luận, báo chí. Theo đó người dân có quyền tự do ngôn luận, quyền được sử dụng các phương tiện báo chí, thông tin, mạng internet, các trang mạng xã hội không trái với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, người sử dụng quyền này có nghĩa vụ phải tuân thủ quy định của pháp luật và chấp nhận những hạn chế quyền.

Việc thực hiện những quyền này phải kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt, và việc này có thể phải chịu một số hạn chế nhất định, nhằm tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác như: Bảo vệ An ninh Quốc gia, trật tự công cộng, sức khoẻ hoặc đạo đức của xã hội. Ở Việt Nam, “quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình” đã được quy định trong Hiến pháp Nước Cộng hoà XHCN Việt nam (2013) và được cụ thể hoá trong nhiều đạo luật, Nghị định như: Luật Báo chí (2016), Luật tiếp cận thông tin (2016), Nghị định 72/2013/NĐ-CP, ngày 15/7/2013 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng,… và thực thi nghiêm túc, tạo không khí dân chủ trong xã hội. Điều đó khẳng định và thể chế hoá quan điểm nhất quán của Đảng và nhà nước ta tôn trọng và bảo đảm thực thi quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền sáng tạo tác phẩm báo chí, cung cấp thông tin cho báo chí, phản hồi thông tin trên báo chí, tiếp cận thông tin báo chí, v.v Quyền tiếp cận thông tin của công dân được quy định rộng rãi hơn, đó không chỉ là một quyền thụ động do cơ quan nhà nước công khai thông tin theo nhận thức của mình, mà còn là quyền chủ động, được đòi hỏi các cơ quan, tổ chức nhà nước đáp ứng. Trên không gian mạng nhà nước ta đã có những quy định về quyền tự do ngôn luận, báo chí, Tiếp cận thông tin.

Vì 10 vậy, công dân có quyền được sử dụng các dịch vụ trên internet, trừ các dịch vụ bị cấm theo quy định của pháp luật và có nghĩa vụ tuân thủ các quy định về bảo đảm an toàn thông tin, an ninh thông tin. Phải chịu trách nhiệm về những nội dung thông tin do mình lưu trữ, cung cấp, truyền đưa trên mạng xã hội… Tuy nhiên, cũng như các quyền con người khác, việc thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí phải do pháp luật quy định và trong khuôn khổ pháp luật. Quy định rõ mối quan hệ giữa quyền với nghĩa vụ công dân: “Không được xâm phạm lợi ích quốc gia – dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”. Việc hạn chế các quyền này theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do: Quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khoẻ cộng đồng là một tất yếu.

Những hành vi đăng, phát thông tin xuyên tạc, phỉ báng, phủ nhận chính quyền; bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân; xuyên tạc lịch sử; phủ nhận thành tựu cách mạng; xúc phạm dân tộc, anh hùng dân tộc; thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm cá nhân… đều bị pháp luật xử lý. Việc tiếp cận thông tin là những quy định về phân loại những thông tin mà người dân được tiếp cận và những thông tin cơ quan, tổ chức không được pháp cung cấp. Do vậy, “quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân”; “nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt” hoặc “Một số hạn chế nhất định” theo quy định của pháp Luật Việt Nam hoàn toàn tương thích, phù hợp với Luật quốc tế về Quyền con người. Hiện nay, quyền tự do ngôn luận trên báo chí ở Việt Nam không những được bảo đảm tốt mà còn là nhân tố tích cực trong cuộc đấu tranh chống những biểu hiện tiêu cực trong xã hội.

Nhiều vụ tham nhũng lớn được người dân phản ánh, báo chí phanh phui, trước khi cơ quan chức năng phát hiện. Những năm gần đây, các tổ chức đoàn thể, Mặt trận Tổ quốc tham gia tích 11 cực việc giám sát, phản biện đối với chính sách của nhà nước. “Quyền phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới”, tham gia phản biện, giám sát của cá nhân, tổ chức được Đảng, nhà nước ta tôn trọng, khuyến khích. Tuy nhiên, vấn đề là phản biện ra sao và động cơ phản biện như thế nào để đảm bảo tính khách quan, tránh hiện tượng “bôi đen” xã hội, bị kẻ xấu lợi dụng gây tổn hại cho người dân, xã hội và đất nước.

Tự do ngôn luận và quyền tự do ngôn luận có mối liên hệ mật thiết với các quyền như: Quyền tự do biểu đạt, tự do thông tin… Thuật ngữ tự do biểu đạt (Freedom of expression) đôi khi còn được dùng để đề cập đến cả hành động tìm kiếm, tiếp nhận và chia sẻ thông tin hoặc quan niệm, bất kể bằng cách sử dụng phương tiện truyền thông nào. Ở một góc độ khác, tự do ngôn luận thể hiện ở sự tự do phát biểu mà không bị kiểm duyệt hoặc hạn chế. Quyền này có thể bị hạn chế, chẳng hạn như sự hạn chế với những phát ngôn reo rắc sự hận thù (Hate speech), hay phân biệt đối xử về chủng tộc, dân tộc, giới, tôn giáo, tín ngưỡng… Trong thực tiễn cũng không tồn tại quyền tự do ngôn luận tuyệt đối trong các hệ thống pháp luật và các xã hội trên thế giới. Theo Điều 25, Hiến pháp (2013): “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình”, các hạn chế đối với tự do ngôn luận phải được luật pháp quy định và chỉ được quy định trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khoẻ của cộng đồng.

Như vậy, Quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân, là quyền mà công dân được tự do thể hiện ý kiến, quan điểm trên báo chí mà không trái với pháp luật quốc gia và quốc tế. Đó là quyền của công dân thông qua báo chí, mạng xã hội,… được thực hiện thông qua việc phát ngôn tự do trên 12 phương tiện báo chí, truyền thông đại chúng, cung cấp phục vụ cho công dân, mà không bị kiểm duyệt. Công tác quy hoạch báo chí trong trong thời kỳ phát triển công nghệ thông tin Năm 2020 là năm có nhiều thách thức đối với công tác báo chí, nhất là khi sự phát triển của internet, mạng xã hội hay các phương tiện truyền thông khác tiếp tục ảnh hưởng lớn đến hoạt động của cơ quan báo chí; việc thực hiện quy hoạch báo chí cũng đặt ra nhiều thách thức, đòi hỏi những nỗ lực, quyết tâm lớn để hoàn thành nhiệm vụ này trong thời gian tới. Đến nay, việc triển khai đã đạt được một số kết quả ban đầu, nhận thức của cơ quan chủ quản, cơ quan báo chí thực hiện quy hoạch đã được nâng lên.

Để hoàn thành tốt nhiệm vụ, các cơ quan chỉ đạo, quản lý báo chí cần tiếp tục làm tốt nhiệm vụ tham mưu cho Đảng, nhà nước những vấn đề trong chỉ đạo, định hướng, quản lý báo chí. Các cơ quan chủ quản báo chí đẩy mạnh các biện pháp, hình thức thực hiện tốt cơ chế kiểm tra, giám sát cơ quan báo chí. Các cơ quan báo chí tiếp tục tuân thủ, thực hiện nghiêm các quy định của Đảng, pháp luật của nhà nước về báo chí; thông tin, tuyên truyền kịp thời, đầy đủ các diễn biến trong đời sống chính trị - kinh tế - xã hội, đặc biệt là các hoạt động kỷ niệm những ngày lễ lớn, sự kiện quan trọng trong năm 2020. Đồng thời người làm báo tiếp tục nâng cao bản lĩnh chính trị, trách nhiệm người công dân, sứ mệnh người làm báo nhằm tạo sự đồng thuận xã hội, giữ vững niềm tin vào nhân dân, vào sự lãnh đạo của Đảng.

Trách nhiệm bảo đảm quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân Tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ Ba, Ban chấp hành Trung ương Đảng Khoá X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí và Chiến lược phòng chống tham nhũng đến năm 2020 đã đề 13 ra nhiệm vụ nghiên cứu và ban hành Luật đảm bảo quyền tự do ngôn luận của công dân, coi đây là một biện pháp quan trọng trong công tác phòng chống tham nhũng của Đảng và nhà nước. Lý luận bảo đảm về quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận Việt Nam là quốc gia thực sự có tự do báo chí, tự do ngôn luận: Để quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ngày càng được đảm bảo trong thực tiễn cuộc sống, năm 2016, Quốc hội Việt Nam ban hành Luật Tiếp cận thông tin và Luật Báo chí.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Quyền Tự Do Ngôn Luận Trên Báo Chí Của Công Dân Ở Việt Nam Hiện Nay" khám phá những khía cạnh quan trọng của quyền tự do ngôn luận trong bối cảnh báo chí tại Việt Nam. Tác giả phân tích các quy định pháp lý, thực trạng và thách thức mà công dân phải đối mặt khi thể hiện quan điểm của mình qua các phương tiện truyền thông. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về quyền lợi và nghĩa vụ của công dân mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của tự do ngôn luận trong việc xây dựng một xã hội dân chủ và phát triển.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực báo chí và quyền tự do ngôn luận, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ báo chí học bồi dưỡng năng lực quản lý cho tổ trưởng chuyên môn ở các trường trung học cơ sở huyện ninh giang tỉnh hải dương, nơi đề cập đến việc nâng cao năng lực quản lý trong lĩnh vực báo chí. Bên cạnh đó, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ báo chí kỹ năng tác nghiệp của nhà báo về vấn đề an ninh phi truyền thống, giúp bạn hiểu rõ hơn về các kỹ năng cần thiết cho nhà báo trong bối cảnh hiện đại. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ báo chí phật giáo tại việt nam thực trạng và vấn đề sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về một lĩnh vực báo chí đặc thù, từ đó giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về sự đa dạng trong báo chí Việt Nam.