Chương 1. Một số van dé lý luận chung của đề tài nghiên cứu - Chương 2. Thực trạng kỹ năng tác nghiệp của Nhà báo về vấn đề An ninh phi truyền thống - Chương 3. Giải pháp nâng cao kỹ năng tác nghiệp của nhà báo về vấn đề An ninh phi truyền thống 14 CHUONG 1: MOT SO VAN DE LÝ LUẬN CHUNG CUA ĐÈ TÀI NGHIEN CUU 1.1 Một số quan niệm về an ninh phi truyền thống 1.1 An ninh phi truyền thong An ninh An ninh là một khái niệm co ban thường được su dung trong ngôn ngữ và thực tiễn chính trị quốc tế.
An ninh là nhu cầu đầu tiên và thiết yếu của mỗi con người, mỗi quốc gia và toàn nhân dân, đồng thời an ninh cũng là điều kiện cơ bản và quan trọng số một đảm bảo cho sự phát triển của mỗi quốc gia. Theo nghĩa chung nhất của ngôn ngữ chính trị quốc tế và theo định nghĩa trong Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam, thì “An ninh” là khái niệm dùng dé chỉ “7irạng thải ổn định, an toàn, không có dấu hiệu nguy hiém de doa su ton tại và phát triển bình thường của cá nhân, của từng tổ chức, cua từng linh vực hoạt động xã hội hoặc của toàn xã hội” [56; tr. Mặt khác, nội ham của khái niệm an ninh không chỉ giới hạn ở tình trạng như đã nêu, mà còn bao hàm cả những biện pháp dé mang lại tình trạng đó, tức là hành động dé thực hiện an ninh. An ninh quốc gia (national security): La su 6n dinh va phat trién bén vững cua chế độ xã hội, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và các lợi ích quan trọng khác của một quốc gia.
Trong quan hệ quốc tế, khi phân loại khái niệm an ninh theo chủ thé quốc gia và yếu t6 thời gian, người ta chia thành An ninh truyền thống và An ninh phi truyền thống - cũng chính là đối tượng chính mà luận văn nghiên cứu. An ninh truyền thống (traditional security): Lay Nhà nước làm đơn vị (quốc gia) và chủ yếu đề cập đến những quan hệ chính trị, tương quan sức mạnh quân sự giữa các quốc gia. Các lợi ích đều phải đặt dưới lợi ích quốc gia. An ninh truyền thống là để bảo vệ toàn vẹn lãnh 15 thổ, chủ quyên, thé chế và giá trị của đất nước, trong đó cốt lõi là bảo vệ đất nước trước các mối đe doa từ bên ngoải bằng tan công quân sự.
Do đó, quốc gia là chủ thể duy nhất đảm bảo sự sống còn của mình thông qua việc tăng cường quyền lực quốc gia bằng sức mạnh quân sự và khả năng phòng thủ. An ninh phi truyền thông (non-traditional security): Bắt dau được nhắc đến vào những năm 80 của thế ky XX va được sử dụng nhiều trong thập niên đầu thế kỷ XXI, ANPTT trở thành một thuật ngữ phổ biến trong các hội nghị, diễn đàn khu vực, quốc tế, hợp tác song phương, đa phương giữa các quốc gia, các tổ chức. Tuy nhiên, trên thế giới hiện nay có rất nhiều cách hiểu, quan niệm khác nhau về ANPTT. Giới nghiên cứu trong nước và quốc tế hiện nay chưa thống nhất được một khái niệm hoàn chỉnh xung quanh thuật ngữ này.
Tuy thuộc vào cách nhìn nhận, góc độ, lĩnh vực tiếp cận, hoàn cảnh cụ thể mà từng nhà nghiên cứu đưa ra quan niệm khác nhau về ANPTT. Theo các học giả trên thế giới, sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, đặc biệt là thập niên đầu thế kỷ XXI, thé giới có nhi éu biến động phức tạp vượt qua khuôn khổ dự báo của giới nghiên cứu về một thế giới hòa bình, ôn định và thịnh vượng. Trong thế giới đương đại, bên cạnh mỗi đe dọa về quân sự, vẫn tồn tại và xuất hiện nhiều yếu tố mới đe dọa đến an ninh con người, ANQG như: khủng bó, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, ma túy, tội phạm xuyên quốc gia. Trong bối cảnh đó, những nhận thức về an ninh cũng thay đổi nhanh chóng.
Bên cạnh những quan niệm đã và đang được sử dụng xung quanh chủ đề này như: an ninh tập thể, an ninh chung, an ninh toan diện., xuất hiện thuật ngữ ANPTT. Đáng chú ý, có 3 sự kiện lớn xảy ra cuối những năm 1990 đến đầu thế kỷ XXI, mức độ ảnh hưởng và sức tàn phá không kém các cuộc đối đầu quân sự buộc các nước phải thay đôi nhận thức về ANQG, từ đó huy động tiềm lực và hợp tác dé đối phó. 16 Một là, khủng hoảng tài chính châu Á 1997-1998 ở các quốc gia Châu Á nhanh chóng lan sang Nga, Châu Mỹ Latinh, gây thiệt hại ước tính lớn hơn hậu quả một cuộc chiến tranh. Hai là, khủng bố ngày 11-9-2001 tại Mỹ cho thấy một siêu cường thé giới cũng dé dàng bị thương tôn nặng bởi một cuộc tan công khủng bố có quy mô.
Ba là, sự bùng nổ đại dịch Hội chứng hô hap cấp nặng (SARS) và sự lây lan nhanh chóng virus Corona SARS (2003) đã đe dọa tính mạng của hàng chục triệu người. Ngoài ra, một số vấn đề cũng đang tác động sâu sắc đến thay đổi nhận thức về ANQG như: số lượng vũ khí hạt nhân hiện có trên thế giới nếu được sử dụng một phần cũng hủy diệt mọi sự sống trên trái đất, xóa nhòa biên giới quốc gia và ANQG của bat kỳ nước nảo; xung đột sắc tộc, tôn giáo, chính tri trong nội bộ nhiều nước xay ra còn lớn hơn số lượng các cuộc chiến tranh; xung đột giữa các quốc gia và trả giá cho nó chủ yếu là dan thường mà không phải là chủ quyền và ANQG. Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, các cường quốc sử dụng sức mạnh mềm là kinh tế để mở rộng biên giới quốc gia (biên giới mềm), khiến chủ quyền quốc gia và ANQG cũng trở nên mờ nhạt. Như vậy có thể thấy ANPTT chỉ là cách tiếp cận mới về ANQG trong điều kiện thế giới đã thay đôi.
Đây không phải là van đề mới, mà là sự mở rộng nội hàm khái niệm an ninh (theo cách tiếp cận truyền thống), nhằm giúp các quốc gia trên thế giới nhận thức đúng về bản chất van đề an ninh trong bồi cảnh toàn cầu hóa, khoa học va công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin phát triển. Chủ thé an ninh được bổ sung thêm các chủ thé mới là con người, kinh tế, văn hóa, xã hội, tôn giáo.Đối tượng bị thách thức về an ninh gồm cả nhà nước và con người. Theo Liên Hiệp Quốc, ANPTT bao gồm an ninh con người (cá nhân) và an ninh cộng đồng. Trong báo cáo “Phát triển con người” năm 1994 của Liên Hiệp Quốc (được đa phần các học giả và nghị sĩ Châu Âu đồng thuận), thì các mối đe dọa an ninh con người bao gồm: thất nghiệp, nghiện ngập, tội ác, ô nhiễm, vi phạm nhân quyên, lo lắng về chiến tranh và bao lực có tô 17 chức, v.
Báo cáo nay định nghĩa an ninh con người là “sự an toàn của con người trước những mối đe doạ kinh niên như nghèo đói, bệnh tật và đàn áp, và những sự cô bat ngờ, bat lợi trong đời sống hàng ngày” [66, tr. Báo cáo cũng đưa ra 7 nội dung chủ yếu của an ninh con người, gồm: (1) an ninh kinh tế; (2) an ninh lương thực; (3) an ninh sức khoẻ; (4) an ninh môi trường; (5) an ninh cá nhân; (6) an ninh cộng đồng; và (7) an ninh chính trị. Với các nước phương Đông, nhận thức về ANPTT cũng có những sự khác biệt nhất định. Năm 2002, Hội nghị thượng đỉnh lần thứ 6 giữa ASEAN và Trung Quốc tại Phnôm Pênh (Campuchia) đã ra Tuyên bố chung ASEAN - Trung Quốc về hợp tác trên lĩnh vực ANPTT, xác định những van đề ANPTT gồm: tội phạm xuyên quốc gia, khủng bố, ma túy, buôn bán phụ nữ và trẻ em, buôn lậu vũ khí, rửa tiền, tội phạm kinh té quéc té, tội phạm công nghệ cao.
Một số học giả châu Âu, châu Á khi nghiên cứu vấn đề này đã đề cập thêm một số vấn đề như an ninh lương thực, an ninh kinh tế - tài chính, tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm công nghệ cao. Hội nghị Bộ trưởng các nước ASEAN (ADMM+) tháng 10 năm 2010 tại Hà Nội đã xác định các mối nguy cơ đe dọa ANPTT bao gồm: khủng bố, cướp biến, tội phạm xuyên quốc gia, ma túy, buôn bán vũ khí, rửa tiền, kinh tế, công nghệ cao. Hội nghị cấp cao ASEM tổ chức tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào tháng 10 năm 2012, đề xuất những biện pháp nhằm đối phó với các nguy cơ, thách thức ANPTT bao gồm: biến đối khí hậu, thiên tai, an ninh năng lượng, an ninh hạt nhân, chống cướp biển, bảo vệ và sử dụng nguồn nước. Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2004 xác định: Những vấn đề chưa được giải quyết, liên quan đến tranh chấp biên giới, lãnh thổ trên bộ, trên biển cùng những vấn đề ANPTT khác như buôn bán và vận chuyên trái phép vũ khí, ma túy, cướp biển, tội phạm có tô chức xuyên quốc gia, khủng bố, nhập cư và di cư trái phép, suy thoái môi trường, sinh thái.
cũng là những mối quan tâm an ninh của Việt Nam [58, tr. Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam nêu rõ: “Các yếu tô đe dọa ANPTT, tội phạm công nghệ cao 18 tiếp tục gia tăng. Những vấn đề toàn cầu như an ninh tài chính, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh. sẽ tiếp tục diễn biến phức tạp” và “Những căng thắng, xung đột tôn giáo, sắc tộc, ly khai, chiến tranh cục bộ, bạo loạn chính trị, can thiệp, lật đô, khủng bố vẫn sẽ diễn ra gay gắt; các yếu tố đe dọa ANPTT, tội phạm công nghệ cao trong các lĩnh vực tài chính - tiền tệ, điện tử - viễn thông, sinh học, môi trường.
còn tiếp tục gia tăng”. Các quan niệm nêu trên dù không hoàn toàn giống nhau, nhưng đã xác định được các van dé cơ bản về ANPTT. Kế thừa những quan niệm nêu trên, với cách tiếp cận tổng hợp và bám sát vào sự phát triển của van đề, luận văn đưa ra khái niệm: ANPTT là khái niệm nhằm phân biệt với an ninh truyền thong, dùng dé chỉ các moi đe dọa phi truyền thong đối với ANOG, cuộc sống con người và cộng đông nhân loại, không xuất phát trực tiếp từ yếu tô quân sự mà nảy sinh từ các yếu to tự nhiên và xã hội, diễn ra và tác động trên nhiễu lĩnh vực của đời song kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, thông tin, môi trường.