Chương 1. Tổng quan nghiên cứu về báo chí phụ nữ với vấn đề nữ quyền Chương 2. Cơ sở lý luận về báo chí phụ nữ với vấn đề nữ quyền Chương 3. Thực trạng thông tin về van đề nữ quyền trên báo chí phụ nữ Chương 4: Một số vấn đề đặt ra và các giải pháp nâng cao hiệu quả thông tin vệ vân đê nữ quyên trên báo chí phụ nữ.
TONG QUAN NGHIÊN CỨU VE BAO CHÍ PHU NU VỚI VAN DE NU QUYEN Trong chương này, luận án sẽ phân tích, tổng hợp các nghiên cứu trên thé giới và Việt Nam về nữ quyền, thông tin về van đề nữ quyền trên báo chí nói chung và báo phụ nữ nói riêng. Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài 1. Các công trình nghiên cứu về nữ quyền Cùng với sự phát triển của xã hội, chủ nghĩa nữ quyền cũng có lịch sử hình thành và phát triển qua các thời kỳ, gắn liền với đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của phụ nữ. Điều nay có thé thay qua một số tư liệu, tài liệu nghiên cứu tiêu biểu sau: Năm 1791, nhà hoạt động chính trị và nhà viết kịch người Pháp Olympe de Gouges xuất bản “Tuyền ngôn về Quyên của Phụ nữ và Công dân Nữ” [74].
Trong đó nhắn mạnh: “Người phụ nữ được sinh ra tự do và bình dang về các quyền của con người. Sự phân biệt xã hội có thể chỉ dựa trên tiện ích chung”. Tác giả De Gouges mở rộng điều thứ sáu của Tuyên ngôn về quyền của con người và của công dân, trong đó tuyên bố các quyền của công dân tham gia vào việc hình thành luật: “Mọi công dân kể cả phụ nữ đều được thừa nhận bình đẳng đối với tất cả các phẩm giá, chức vụ va công việc công, tùy theo năng lực của ho và không có sự phân biệt nào khác ngoài phẩm chat và tài năng của họ”. Năm 1792 Mary Wollstonecraft, nha văn và nha triét hoc người Anh, xuất bản cuốn “A Vindication of the Rights of Woman”, đâu tranh chống dan áp giới, thúc day cơ hội giáo dục bình đăng và yêu cầu "công lý" và "quyền đối với con người" cho tat cả mọi người [138].
Wollstonecraft, cùng với những người Anh cùng thời là Damaris Cudworth và Catharine Macaulay bắt đầu sử dụng ngôn ngữ về quyền trong mối quan hệ với phụ nữ, cho rằng phụ nữ nên có nhiều cơ hội hơn giống như nam giới. Simone De Beauvoir, nha triết học, nhà văn người Pháp (1908 - 1986), nhà sáng lập thuyết Nữ quyền hiện sinh, một bộ phận của học thuyết Nữ quyền hiện đại, tác gia cuốn sách nổi tiếng “Giới tinh thứ hai” (The Second Sex) năm 1949, là một trong những người đầu tiên đã đưa ra thuật ngữ “vi trí xã hội” để so sánh với thuật 19 ngữ “vai trò xã hội” của phụ nữ từ góc độ triết học và xã hội học[147]. Xuất phát từ sự bất bình đăng giữa nam giới và nữ giới đang tồn tại trong xã hội nam quyền, bà nhận thấy người phụ nữ đã phải chịu nhiều bat công khi chỉ tính đến vai trò của phụ nữ mà không quan tâm nhiều đến VỊ tri, VỊ thế xã hội của họ. Tác phẩm “History of Woman Suffrage” của E.Gage và LH.Harper, được viết bởi bốn suffragists (những người ủng hộ việc mở rộng quyền bỏ phiếu, đặc biệt là cho phụ nữ) bao gồm sáu tập, xuất bản từ 1881 đến 1922, [123].
Hơn 5700 trang của quyên sách là nguồn tài liệu phong phú về phong trào đấu tranh đòi quyền bầu cử của phụ nữ từ khi bắt đầu thông qua việc phê chuẩn Tu chính án thứ XIX của Hiến pháp Hoa Kỳ. Trong cuốn “The Feminine Mystique - Betty Friedan” xuất bản năm 1963, W. Norton đã chỉ ra những bat hạnh của phụ nữ giữa thé kỷ XX, mô tả bat hạnh của phụ nữ là “van đề không có tên”. Phụ nữ cảm thay tram cảm vì họ buộc phải phụ thuộc vào nam giới về tài chính, tinh thần, thé chat và trí tuệ [117].
Năm 1981, Tác phẩm Black Women and Feminism là một trong số ít cuỗn sách viết về nữ quyền và bình đăng giới hướng tới đối tượng những phụ nữ da màu của tác giả nữ nhà văn người Mỹ là Gloria Jean Watkins, thường được biết đến với bút danh Bell Hooks [116]. Cuốn sách “We Should All Be Feminists” của Chimamada Ngozzi Adichie thi lại nêu rõ những van đề định kiến giới dang tồn tai ở Nigeria [118]. Năm 1998, nhà xã hội học người Pháp Piere Bourdieu trong cuốn “Sự thống trị” [75], đã đưa ra những kết luận về hình thức thống trị nam giới được xã hội đón nhận như một hiện thực tự nhiên, đặc biệt ở phong trào nữ quyền vốn được hiểu là cuộc cách mạng giải phóng và đòi quyền bình đăng cho nữ giới. Năm trong danh sách những phụ nữ quyền lực nhất thế giới, nữ tướng của Facebook- Sheryl Sandberg năm 2013 đã cho ra mắt cuốn sách Lean In: Women, Work and The Will To Lean [144].
Day được xem là một tuyên ngôn mới về sự bình dang của phụ nữ và sự nghiệp trong thé ki 21. Từ kinh nghiệm va quan sát của ban thân tác giả, cuốn sách thể hiện sự bất bình đăng giới trong môi trường công việc. Sheryl chỉ ra lối mòn của phụ nữ hiện đại đó là luôn tự nghi ngờ trình độ của bản thân, hạ thấp ước mơ của mình. Đây cũng chính là một trong số rất nhiều nguyên nhân khiến con đường phụ nữ hướng đến vị trí lãnh đạo bị chững lại.
Tác giả đã đưa 20 ra những giải pháp rất có tính thuyết phục, và hướng dẫn phụ nữ cách dé vừa thành công trong công việc vừa hoàn thiện nhân cách. Các công trình nghiên cứu về báo chí (báo chí phụ nữ) với vẫn đề nữ quyền ở các nước phương Tây Trên thế giới công trình nghiên cứu về báo chí với vẫn đề nữ quyền được biết đến qua các công trình nghiên cứu, các cuốn sách, bài viết trên các tạp chí chuyên ngành. Năm 1957, Roland Barthes xuất bản cuốn sách “Những huyền thoại” với nhiều bài viết đề cập tới những giá trị của phụ nữ trên Tạp chí Elle như Nữ Ký giả, Nghệ thuật trang trí món ăn [8, tr9, 193]. Ong Martha Nussbaum, tác giả cuỗn “Sex and Social Justice” (Giới tính và công bằng xã hội) cũng cho răng tai hau hết các quốc gia, phụ nữ vẫn dang phải đối mặt với sự thiên vị nam nữ trong giáo dục, không công bằng trong cơ hội việc làm, sự bất bình đăng về giới chính trị [147].
Một số dự án về giám sát giới và truyền thông được thực hiện ở quy mô 71 quốc gia do Media Watch Canada tô chức (1995) hay Dự án giám sát truyền thông toàn cầu "Who make the news" (2000; 2010) tập trung xem xét số lượng, tần suất, khuôn mẫu giới, định kiến giới trong nội dung sản phâm truyền thông, vấn đề quan điểm, nhận thức, tiếng nói, sự hiển diện của nam và nữ, hình anh bạo lực giới trên truyền thông. Các kết quả nghiên cứu này đều cho thấy khuôn mẫu giới, định kiến giới là pho biến trong các sản phâm truyền thông trên thế giới. Nghiên cứu về sự xuất hiện các hình ảnh nam - nữ trên truyền thông của David Gaunlett (2003) cho rang trong quá khứ, truyền thông đại chúng thường rap khuôn trong việc trình bày các vai trò giới. So với phụ nữ, nam giới thường theo mẫu hình năng động, quyết đoán, thông minh.
Ngày nay, sự thể hiện vai trò giới trên truyền thông đã đa dang hơn và bớt di tính khuôn mẫu so với quá khứ [56]. Báo cáo Phong trào Phụ nữ “Dua tin về chủ nghĩa nữ quyên làn sóng thứ hai trên các tờ bao ở Anh và Hoa Kỳ, 1968 -1982” cua tác gia Kaitlynn Mendes đăng trên Tạp chí Feminist Communication Studies , 2011 - Number 24 đã xem xét và so sánh cách bốn tờ báo của Anh và Mỹ đã đưa tin về phong trào nữ quyền làn sóng thứ hai trong thời kỳ chính trị sôi động nhất của nó, 1968 -1982. Thông qua việc sử dụng cả phân tích nội dung và phân tích diễn ngôn phê bình, nghiên cứu này cho 21 thấy bất chấp sự khác biệt về chính trị - xã hội, ở Hoa Kỳ(The New York Times , Chicago Tribune) và Vương quốc Anh (The Times, Daily Mirror) các tờ báo đã sử dụng một loạt các diễn ngôn tương tự khi đề cập đến phong trào phụ nữ và các thành viên của nó. Tuy nhiên, những tin bài này hiếm khi đề cập đến những cách thức mà chủ nghĩa tư bản và chế độ phụ hệ áp bức phụ nữ như một nhóm, và thường tạo ra ranh giới giữa các nhà nữ quyền “hợp pháp” và “không hợp pháp”, sau đó là bat kỳ ai đi lệch khỏi các chuân mực nữ quyền truyền thống.
Van dé nữ quyền trên báo chí Mỹ còn được được tiếp cận qua nghiên cứu về định kiến giới và các khuôn mẫu giới trên truyền thông, đặc biệt là chân dung, hình ảnh của người phụ nữ trên truyền hình cũng như trong các quảng cáo truyền hình. Bài nghiên cứu “Anh hưởng của truyền thông lên định kiến gidi” của tác giả Hannah Goodall trên Media Asia (2012) cho thấy tác động của truyền thông đối với nhận thức của công chúng, đặc biệt công chúng trẻ về van dé giới, và định kiến giới. Công trình “Xây dựng định kiến về giới thông qua các vai trò xã hội trong truyền hình khung giờ vàng” của các tác giả Martha M. &Nora Horan MA trên Journal of Broadcasting & Electronic Media (2008) sử dụng một mẫu gồm 124 chương trình truyền hình vào khung giờ vàng phát sóng trên 6 mạng phát sóng trong 2005 -2006.
Nghiên cứu này đã xem xét các vai trò xã hội của các nhân vật nữ và nam, đồng thời xác nhận rằng các nhân vật nữ chủ yếu được khắc họa trong môi trường tình cảm, gia đình và bạn bè, trong khi các nhân vật nam có nhiều khả năng thực hiện vai trò liên quan đến công việc hơn. Tiếp tục bàn về định kiến giới trong lĩnh vực quảng cáo, là nghiên cứu “Định kiến giới trong quảng cáo: đánh giá qua các nghiên cứu hiện tại” của các tác gia Stacy Landreth Grau &Yorgos C. Zotos đăng trên International Journal of Advertising, 2016 - Number 5 : Gender Issues in Advertising. Bài viết hệ thống hóa lich sử van dé định kiến giới trong quảng cáo trong 5 thập ky qua nêu những vấn dé bat cập trong khuôn mẫu định kiến giới trong quảng cáo hiện nay.