Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CỦA NGƢỜI SỬ DỤNG ĐẤT Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng và không thể thay thế trong đời sống con người. Đất đai là môi trường sống và tiến hành các hoạt động sản xuất của cải vật chất để tồn tại và duy trì nòi giống. Trải qua quá trình lịch sử lâu dài, bằng lao động của mình con người đã sử dụng và cải tạo đất, biến đất đai từ tài sản tự nhiên trở thành tài sản của cộng đồng, dân tộc. Luật Đất đai năm 1993 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định: Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng.
Trải qua nhiều thế hệ nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập, bảo vệ được vốn đất đai như ngày nay. Do tính chất đặc biệt quan trọng của loại tài sản này mà vấn đề sở hữu đối với đất đai có yếu tố quyết định đến sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Chế định quyền của người sử dụng đất là một trong những chế định cơ bản và đặc thù của pháp luật đất đai ở Việt Nam. Chế định quyền của người sử dụng đất được xây dựng trên cơ sở chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai được ghi nhận và không ngừng củng cố, hoàn thiện kể từ khi Hiến pháp năm 1980 ra đời cho đến nay.
Theo đó, toàn bộ đất đai ở Việt Nam thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước giữ vai trò đại diện chủ sở hữu thực hiện chức năng quản lý đất đai trong cả nước, người dân trực tiếp sinh sống, lao động, sản xuất và thực hiện các hoạt động khác trên đất được coi là người sử dụng đất và được thực hiện các quyền trên cơ sở quy định của pháp luật. Nghiên cứu chế định quyền của người sử dụng đất không thể không bắt đầu từ việc tìm hiểu chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở Việt Nam. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CHẾ ĐỘ SỞ HỮU TOÀN DÂN ĐỐI VỚI ĐẤT ĐAI Ở VIỆT NAM 1.
Khái niệm về sở hữu và chế độ sở hữu đất đai 1. Khái niệm quan hệ sở hữu Theo quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lê nin, quan hệ sở hữu là quan hệ giữa người với người trong quá trình xác lập và thực hiện quyền đối với đối tượng sở hữu. Ăngghen đã khẳng định: "Khoa kinh tế chiń h tri không ̣ nghiên cứu các vâ ̣t phẩ m , mà nghiên cứu những mối quan hệ giữa người với người, xét cho cùng là giữa giai cấp với giai cấp, nhưng các quan hê ̣ đó bao giờ cũng gắn với các vật phẩm vàbiể u hiê ̣n ra như là những vâ ̣t phẩ m" [20, tr. Quan hệ sở hữu hình thành và vận động theo các quy luật khách quan, là một trong các yếu tố cấu thành quan hệ sản xuất, quyết định quan hệ phân phối và quan hệ quản lý.
Nó cũng xác lập và vận động trên cơ sở trình độ kinh tế - xã hội, đồng thời phụ thuộc vào trình độ lực lượng sản xuất trong xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định. Với tư cách là một trong những quan hệ xã hội nền tảng, có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong xã hội, do vậy, từ rất lâu trong lịch sử quan hệ sở hữu đã được thể chế hóa bằng pháp luật. Theo quan điểm của tác giả, về mặt pháp lý, quan hệ sở hữu là các quyền năng pháp lý trong quá trình xác lập và vận động của các quyền năng kinh tế đối với đố i tượng sở hữu theo các quy định của pháp luật. Toàn bộ các quy định của pháp luật về quan hệ sở hữu và cơ chế vận hành các quan hệ sở hữu đó hợp thành chế độ pháp lý về sở hữu.
Khái niệm chế độ sở hữu đất đai Chế độ pháp lý về sở hữu đất đai là toàn bộ các quy định pháp luật trong việc xác lập và vận động của quan hệ sở hữu đất đai. Chế độ sở hữu đối với đất đai bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ sở hữu và các vấn đề liên quan đến cơ chế vận hành của quan hệ sở hữu đối với đất đai. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thông thường, chế độ sở hữu đất đai thường được hiểu là các quyền năng sở hữu, các quyền năng này có thể được khái quát hóa dưới dạng quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt (theo pháp luật các nước thuộc hệ thống civil law) hoặc "bó quyền" các quyền tài sản đối với đất đai (theo pháp luật của các nước thuộc hệ thống common law). Quyền sở hữu nói chung và quyền sở hữu đối với đất đai nói riêng có thể được chia nhỏ để trao cho những người không phải chủ sở hữu trên cơ sở thỏa thuận và quy định của pháp luật.
Trong trường hợp này, cả quyền sở hữu của chủ sở hữu và quyền năng của người không phải chủ sở hữu là quyền tài sản đối với đất đai. Ở các nước thuộc hệ thống pháp luật common law, quyền sở hữu có thể phân chia theo nội dung các quyền năng để trao cho từng chủ thể. Ở các nước thuộc hệ thống pháp luật common law cũng thừa nhận tính độc lập của người không phải chủ sở hữu thông qua nhận chuyển giao các quyền năng của chủ sở hữu. Quyền của người được chủ sở hữu trao quyền cũng có tính độc lập tương đối và được coi như một quyền tài sản của người không phải chủ sở hữu, trở thành đối tượng được tham gia các giao dịch.
Trong mỗi chế độ sở hữu đất đai có thể tồn tại nhiều hình thức sở hữu đối với đất đai. Ở hầu hết các nước tồn tại nhiều hình thức sở hữu đối với đất đai bao gồm sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân đối với đất đai. Bên cạnh đó cũng có một số nước chỉ ghi nhận một hình thức sở hữu đối với đất đai là sở hữu nhà nước. Trên thực tế, không phải hình thức sở hữu mà chính nội dung quyền năng và chủ thể tham gia quan hệ sở hữu mới ảnh hưởng quyết định đến chế độ sở hữu đối với đất đai.
Ở Việt Nam, mặc dù hiến pháp không công nhận hình thức sở hữu tư nhân đối với đất đai, tuy nhiên, xét về nội dung quyền sử dụng đất của một số đối tượng sử dụng đất ở Việt Nam hiện nay không có nhiều khác biệt với nội dung quyền sở hữu tư nhân đối với đất đai ở đa số các nước khác. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Vấn đề sở hữu đất đai trong lịch sử Việt Nam 1. Sở hữu đất đai ở Việt Nam trong thời kỳ phong kiến Xuyên suốt chiều dài lịch sử chế độ phong kiến, Việt Nam song song tồn tại cả hai hình thức sở hữu đối với đất đai: hình thức sở hữu tối cao của nhà nước và hình thức sở hữu tư nhân đối với đất đai.
Quyền sở hữu của nhà nước đối với đất đai bắt đầu hình thành vào triều Lý (thế kỷ XI), thực sự phát triển vững chắc từ thời Lê Sơ (thế kỷ XV) và tiếp tục duy trì trong các triều đại sau với quy mô và mức độ khác nhau. Quá trình xác lập quyền sở hữu tối cao của nhà nước đối với đất đai được đánh dấu bằng các sự kiện: Nhà Lý đã tiến hành đo đạc lại ruộng đất trong cả nước để xác lập chủ quyền của nhà nước đối với toàn bộ đất đai; đến thời Trần, Nhà nước lập ra một chức quan phụ trách việc điền địa và trông coi đê điều; Thời nhà Lê, sau khi giành thắng lợi quân xâm lược nhà Minh, vua Lê cho tiến hành thống kê ruộng đất trong cả nước. Cùng với việc thống kê tình hình ruộng đất, năm 1429 nhà Lê đã tiến hành thu hồi ruộng đất của quan lại nhà Minh, ngụy quan, ruộng đất của nhân dân bỏ hoang, ruộng đất của lính trốn để sung làm ruộng đất của công. Bên cạnh đó, vua Lê còn ra lệnh cho các phủ làm sổ ruộng đất, sổ hộ.
Trên cơ sở thống kê và tịch thu đất đai, nhà nước phong kiến Việt Nam qua các triều đại còn thực hiện quyền sở hữu tối cao của mình đối với đất đai bằng việc thi hành chính sách lộc điền, quân điền, đặt ra tô thuế cho từng loại ruộng đất, quy định cụ thể quyền sở hữu của mình trên ruộng đất công. Quốc triều hình luật có quy định cấm dân không được bán ruộng đất của công cấp cho hay là ruộng đất khẩu phần (Điều 342); trừng phạt người chiếm ruộng đất công quá số hạn định (Điều 343). Mặc dù chế độ sở hữu nhà nước đối với đất đai được xây dựng và củng cố ngày càng vững chắc qua các triều đại phong kiến Việt Nam, đặc biệt trong triều đại Lê Sơ, tuy nhiên bên cạnh nó vẫn tồn tại hình thức sở hữu tư nhân đối với ruộng đất. Hình thức sở hữu này bắt đầu xuất hiện từ thời Lý - 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trần, đến thời Lê Sơ, với chính sách cấp ruộng đất cho công thần, quan lại, nhà nước cũng cho phép họ có quyền định đoạt (mua bán, chuyển nhượng, để thừa kế) trừ khi họ phạm tội nên hình thức sở hữu ruộng đất tự nhân trở thành một hình thức phổ biến.
Hình thức sở hữu tư nhân về ruộng đất bao gồm: Sở hữu của quan lại, quý tộc được nhà nước ban cấp ruộng đất; sở hữu của người lao động do tự khai phá, mua lại ruộng đất. Nhà nước phong kiến cũng thừa nhận và bảo hộ hình thức sở hữu này thông qua các biện pháp trừng phạt nghiêm khắc đối với các hành vi xâm chiếm, bán trộm, tranh giành ruộng đất. Hình thức sở hữu tư nhân về ruộng đất không ngừng phát triển qua các triều đại phong kiến Việt Nam, tuy nhiên: Nhà nước giữ quyền sở hữu tối cao đối với toàn bộ đất đai của quốc gia. Vì vậy quyền tư hữu đối với ruộng đất là một thứ quyền tư hữu bị hạn chế và không hoàn chỉnh, luôn luôn bị sự chi phối lớn bởi quyền tối cao của nhà nước.
Đây chính là một đặc điểm lớn trong chế độ sở hữu ruộng đất tại Việt Nam [15, tr.