Tổng quan nghiên cứu

Trong tiến trình hơn 30 năm đổi mới và phát triển kinh tế thị trường, chính sách đất đai luôn đóng vai trò là đòn bẩy chiến lược thúc đẩy sự tăng trưởng của Việt Nam. Thực tiễn áp dụng pháp luật ghi nhận các giao dịch quyền sử dụng đất chiếm hơn 60% tổng giá trị thị trường tài sản bảo đảm tại các tổ chức tín dụng, đồng thời các khiếu nại, tranh chấp liên quan đến đất đai luôn chiếm tỷ lệ cao, dao động từ 70% đến 80% tổng số đơn thư hành chính trên toàn quốc. Đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Luật Kinh tế với tên gọi "Pháp luật về quyền của người sử dụng đất ở Việt Nam" tập trung giải quyết mâu thuẫn cốt lõi: làm thế nào để vừa duy trì vững chắc chế độ sở hữu toàn dân về đất đai do Nhà nước đại diện chủ sở hữu, vừa bảo đảm tối đa quyền tài sản và sự tự chủ kinh tế cho các chủ thể sử dụng đất.

Mục tiêu cụ thể của công trình là hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận về chế độ sở hữu và quyền tài sản đất đai; phân tích chi tiết thực trạng các quy định xác lập quyền, thẩm quyền giao đất, cho thuê đất và bảo đảm quyền của 7 nhóm chủ thể sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2013; từ đó chỉ ra những điểm nghẽn pháp lý và đề xuất giải pháp khả thi. Phạm vi nghiên cứu bao quát quá trình tiến hóa của pháp luật đất đai Việt Nam từ năm 1987 đến năm 2015, tập trung trọng tâm vào các quy định của Luật Đất đai năm 2003 và Luật Đất đai năm 2013 trên phạm vi toàn quốc. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong việc cung cấp cơ sở khoa học để hoàn thiện thể chế, hướng tới mục tiêu nâng cao tỷ lệ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đạt trên 95% diện tích cần cấp và giảm thiểu ít nhất 40% các vụ việc khiếu kiện đất đai phức tạp trong tương lai.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết hình thái kinh tế - xã hội và học thuyết sở hữu của Chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng lý luận, khẳng định tính tất yếu của việc xác lập chế độ sở hữu toàn dân đối với tư liệu sản xuất đặc biệt là đất đai, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu phân định rạch ròi giữa quyền sở hữu tối cao của Nhà nước và quyền sử dụng của các chủ thể kinh tế. Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp học thuyết "bó quyền tài sản" (bundle of rights) của hệ thống thông luật (Common Law) và lý thuyết quyền vật dụng của hệ thống dân luật (Civil Law) nhằm giải thích bản chất quyền sử dụng đất như một quyền tài sản độc lập, có thể vận hành theo cơ chế thị trường.

Mô hình nghiên cứu được xây dựng dựa trên mối quan hệ tương tác 3 bên: Nhà nước (đại diện chủ sở hữu, quản lý vĩ mô) – Người sử dụng đất (chủ thể nắm giữ quyền tài sản và nghĩa vụ) – Thị trường bất động sản (môi trường vận hành quyền chuyển nhượng, thế chấp, góp vốn). Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm: chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, tư cách pháp lý của người sử dụng đất, căn cứ xác lập quyền (giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất), và cơ chế bảo hộ quyền tài sản của người sử dụng đất.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp quy mô lớn bao gồm toàn bộ văn bản Hiến pháp các năm 1959, 1980, 1992, 2013; 4 đạo luật đất đai năm 1987, 1993, 2003, 2013 cùng hơn 50 nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành và báo cáo tổng kết thực tiễn quản lý đất đai của Chính phủ giai đoạn 2003 - 2014. Cỡ mẫu nghiên cứu chuyên sâu bao gồm 120 điều khoản quy định pháp lý then chốt về thẩm quyền, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, kết hợp phân tích 45 bản án và quyết định giải quyết tranh chấp đất đai điển hình tại Tòa án nhân dân các cấp.

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling) được áp dụng để đảm bảo khảo sát đầy đủ 7 nhóm chủ thể sử dụng đất, từ hộ gia đình, cá nhân, doanh nghiệp trong nước đến doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Tác giả kết hợp phương pháp phân tích quy phạm luật học, phương pháp luật học so sánh quốc tế (đối chiếu kinh nghiệm của Trung Quốc, Liên bang Nga, Đức, Vương quốc Anh) và phương pháp tổng hợp - quy nạp. Việc lựa chọn tổ hợp phương pháp này nhằm làm rõ sự phát triển biện chứng của các quy phạm pháp lý, từ đó đánh giá chuẩn xác mức độ tương thích của pháp luật hiện hành với các quy luật kinh tế thị trường. Timeline nghiên cứu được thực hiện đồng bộ trong thời gian 18 tháng, bám sát các biến chuyển lập pháp ngay khi Luật Đất đai năm 2013 chính thức có hiệu lực từ ngày 01/7/2014.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu khẳng định quá trình tiến hóa lập pháp từ Luật Đất đai năm 1987 đến Luật Đất đai năm 2013 đã chuyển hóa toàn diện vị thế của người sử dụng đất từ người nhận bao cấp tư liệu sản xuất sang chủ thể sở hữu quyền tài sản giá trị cao. Việc Luật Đất đai năm 2013 thu hẹp đối tượng giao đất không thu tiền sử dụng đất xuống còn 5 nhóm tại Điều 54 đã cắt giảm khoảng 60% tình trạng bao chiếm, lãng phí đất đai so với diện giao đất quá rộng của Luật Đất đai năm 2003.

Thứ hai, cơ chế cho thuê đất và giao đất có thu tiền sử dụng đất theo Điều 55 và Điều 56 Luật Đất đai năm 2013 đã xóa bỏ căn bản sự phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Quy định mới cho phép các tổ chức kinh tế và nhà đầu tư nước ngoài đều được bình đẳng lựa chọn hình thức trả tiền thuê đất một lần hoặc trả tiền hàng năm, giúp tăng chỉ số minh bạch tiếp cận đất đai của môi trường đầu tư lên ước tính 25% đến 30%.

Thứ ba, cơ chế công nhận quyền sử dụng đất và cấp Giấy chứng nhận lần đầu cho hộ gia đình, cá nhân theo Điều 100 và Điều 101 Luật Đất đai năm 2013 đã giải quyết căn cơ các trường hợp sử dụng đất ổn định trước ngày 15/10/1993 không có giấy tờ mà không phải nộp tiền sử dụng đất. Điều này tạo điều kiện pháp lý để hợp thức hóa cho hơn 80% diện tích đất dân cư nông thôn tồn đọng qua các thời kỳ lịch sử.

Thứ tư, nghiên cứu phát hiện sự bất cập rõ rệt trong việc phân cấp thẩm quyền theo Điều 59 Luật Đất đai năm 2013. Việc tập trung toàn bộ thẩm quyền giao đất, cho thuê đất đối với tổ chức về Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã tạo áp lực hành chính lớn, khiến khoảng 35% hồ sơ dự án đầu tư bị kéo dài thời gian thẩm định vượt quá thời hạn 30 ngày theo luật định.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện nghiên cứu có thể được hệ thống hóa trực quan thông qua Bảng ma trận so sánh quyền năng giao dịch (chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế, thế chấp, góp vốn) giữa 7 nhóm chủ thể sử dụng đất và Biểu đồ cơ cấu chuyển dịch tài chính đất đai giai đoạn 2003 - 2014. Dữ liệu bảng cho thấy quyền tài sản của hộ gia đình, cá nhân và tổ chức kinh tế được giao đất có thu tiền đạt mức độ hoàn chỉnh lên tới 90% tương đương quyền sở hữu tư nhân tại các nước phát triển, trong khi các đối tượng thuê đất trả tiền hàng năm bị giới hạn quyền giao dịch dưới 20%.

Nguyên nhân chính của các vướng mắc xuất phát từ sự đan xen phức tạp giữa vai trò quản lý hành chính công quyền và vai trò đại diện chủ sở hữu kinh tế của Nhà nước. So sánh với kinh nghiệm của Trung Quốc sau sửa đổi Hiến pháp năm 1988 (cho phép đấu giá và chuyển nhượng quyền sử dụng đất đô thị) hay mô hình quản lý đất công tại Đức (nơi Nhà nước nắm trên 50% đất đô thị nhưng vận hành qua hợp đồng dân sự minh bạch), pháp luật Việt Nam cần đẩy mạnh cơ chế thị trường hơn nữa. Ý nghĩa của phát hiện này chỉ ra rằng việc mở rộng quyền định đoạt tài sản cho người sử dụng đất không hề làm suy yếu chế độ sở hữu toàn dân, mà ngược lại, giúp giải phóng nguồn lực đất đai ước tính hàng trăm nghìn tỷ đồng phục vụ phát triển kinh tế quốc gia.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, Quốc hội và Bộ Tài nguyên và Môi trường cần rà soát, hoàn thiện khung pháp lý về đăng ký đất đai bắt buộc và định giá đất thị trường độc lập. Mục tiêu cụ thể là xây dựng bảng giá đất tiệm cận 85% đến 90% giá thị trường thực tế, thực hiện trong lộ trình 2016 - 2020, nhằm giảm ít nhất 50% khiếu kiện bồi thường giải phóng mặt bằng.

Thứ tư, Bộ Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện đẩy mạnh đơn giản hóa, số hóa 100% quy trình cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Thời gian giải quyết thủ tục cần được cắt giảm tối thiểu 40% (từ 30 ngày xuống dưới 18 ngày làm việc) trong giai đoạn 2016 - 2018.

Thứ ba, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước cần nghiên cứu cơ chế mở rộng quyền thế chấp quyền sử dụng đất tại các ngân hàng, tổ chức tài chính quốc tế đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp Việt Nam có dự án đầu tư lớn. Giải pháp này dự kiến triển khai thí điểm trong giai đoạn 2018 - 2022, hướng tới mục tiêu tăng trưởng 20% dòng vốn FDI vào lĩnh vực hạ tầng và bất động sản công nghiệp.

Thứ tư, Tòa án nhân dân tối cao phối hợp với Bộ Tư pháp tăng cường năng lực cho hệ thống cơ quan tài phán và khuyến khích trọng tài thương mại tham gia giải quyết tranh chấp đất đai ngoài tòa án. Mục tiêu đặt ra trong giai đoạn 2017 - 2021 là nâng tỷ lệ hòa giải và phán quyết dứt điểm các tranh chấp thương mại liên quan đến quyền sử dụng đất lên trên 80%, bảo đảm môi trường kinh doanh an toàn, minh bạch.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các cơ quan xây dựng chính sách và quản lý nhà nước như Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, Sở Tài nguyên và Môi trường các địa phương. Luận văn cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn giúp đánh giá tác động chính sách và sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật đất đai.

Thứ hai, giảng viên, nghiên cứu viên và học viên cao học chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Dân sự, Quản lý Đất đai tại các cơ sở đào tạo đại học. Công trình là tài liệu tham khảo giá trị phục vụ giảng dạy các chuyên đề về quyền tài sản, sở hữu toàn dân và so sánh luật học đất đai quốc tế.

Thứ ba, cộng đồng doanh nghiệp bất động sản, các tập đoàn kinh tế và nhà đầu tư có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Luận văn hỗ trợ nhận diện đầy đủ các căn cứ xác lập quyền, quy trình giao đất, thuê đất và phòng ngừa rủi ro pháp lý khi thực hiện các thương vụ mua bán, sáp nhập dự án, góp vốn bằng quyền sử dụng đất.

Thứ tư, đội ngũ luật sư, chuyên viên tư vấn pháp lý, công chứng viên và thẩm phán. Nội dung nghiên cứu cung cấp cơ sở đối chiếu vững chắc để áp dụng đúng các quy định về quyền thừa kế, tặng cho, thế chấp và phân định thẩm quyền trong quá trình giải quyết các vụ án tranh chấp đất đai phức tạp.

Câu hỏi thường gặp

Đất đai thuộc sở hữu toàn dân thì người sử dụng đất có những quyền tài sản căn bản nào?
Theo Điều 166 và Điều 167 Luật Đất đai năm 2013, người sử dụng đất hợp pháp được Nhà nước bảo hộ trọn vẹn các quyền tài sản bao gồm: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp và góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Việc nắm giữ quyền sử dụng đất cho phép chủ thể khai thác giá trị kinh tế tương đương quyền sở hữu tài sản dân sự thông thường.

Luật Đất đai năm 2013 đã thu hẹp đối tượng giao đất không thu tiền sử dụng đất như thế nào?
Điều 54 Luật Đất đai năm 2013 đã tinh gọn diện giao đất không thu tiền sử dụng đất xuống còn 5 nhóm đối tượng trọng tâm (chủ yếu là hộ gia đình sản xuất nông nghiệp trong hạn mức, đất quốc phòng - an ninh, đất công cộng phi lợi nhuận). Quy định này khắc phục triệt để tình trạng các đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính chiếm dụng đất miễn phí như thời kỳ Luật Đất đai năm 2003.

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được tiếp cận quyền sử dụng đất qua các hình thức nào?
Theo Điều 55 và Điều 56 Luật Đất đai năm 2013, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất để thực hiện dự án nhà ở để bán hoặc cho thuê; thuê đất trả tiền một lần hoặc hàng năm để thực hiện dự án sản xuất, kinh doanh; hoặc nhận chuyển nhượng vốn góp là giá trị quyền sử dụng đất từ doanh nghiệp trong nước.

Người sử dụng đất không có giấy tờ từ trước ngày 15/10/1993 được cấp Giấy chứng nhận ra sao?
Căn cứ Điều 101 Luật Đất đai năm 2013, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ổn định từ trước ngày 15/10/1993 mà không có giấy tờ hợp lệ, nếu được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận không có tranh chấp và phù hợp quy hoạch thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà không phải nộp tiền sử dụng đất.

Thẩm quyền giao đất và cho thuê đất hiện nay được phân cấp cụ thể như thế nào giữa các cấp?
Khoản 1 và Khoản 2 Điều 59 Luật Đất đai năm 2013 phân định rõ: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài và doanh nghiệp FDI; trong khi Ủy ban nhân dân cấp huyện chỉ có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất đối với hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư.

Kết luận

  • Luận văn đã làm sáng tỏ bản chất pháp lý của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai tại Việt Nam, chứng minh tính tất yếu của việc tách bạch quyền sở hữu đại diện của Nhà nước và quyền tài sản của người sử dụng đất.
  • Hệ thống hóa toàn diện 7 nhóm chủ thể sử dụng đất, phân tích sâu sắc các quyền chung theo Điều 166 và quyền giao dịch tài sản theo Điều 167 Luật Đất đai năm 2013.
  • Chỉ ra 4 bất cập trọng yếu trong thực tiễn thi hành pháp luật về định giá đất, phân cấp thẩm quyền hành chính và bảo đảm sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược kèm mục tiêu định lượng cụ thể, đóng góp cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc cho công tác lập pháp của đất nước.
  • Kêu gọi các cơ quan quản lý, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp tăng cường áp dụng các đề xuất lập pháp nhằm tối ưu hóa nguồn lực đất đai trong giai đoạn phát triển mới.