Tổng quan nghiên cứu
Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở, Việt Nam có khoảng 6,1 triệu người từ 5 tuổi trở lên gặp khó khăn trong các chức năng sinh hoạt, chiếm 7,8% dân số cả nước, trong đó có khoảng 385.000 người khuyết tật nặng. Đáng chú ý, nhóm người trong độ tuổi lao động từ 15 đến 60 tuổi chiếm tới 53,1% tổng số người khuyết tật, tạo nên một nguồn nhân lực có tiềm năng đóng góp lớn cho nền kinh tế. Tuy nhiên, việc bảo đảm quyền làm việc của người khuyết tật tại Việt Nam vẫn đối mặt với nhiều rào cản nghiêm trọng khi có tới 30% người khuyết tật chưa có việc làm nhưng mang nguyện vọng làm việc tha thiết, và 32,5% hộ gia đình có người khuyết tật thuộc diện nghèo.
Nghiên cứu được thực hiện nhằm làm rõ cơ sở lý luận về quyền làm việc của người khuyết tật dưới lăng kính pháp luật về quyền con người, phân tích thực trạng pháp lý và cơ chế thể chế tại Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách nhằm thúc đẩy sự hòa nhập lao động bình đẳng. Phạm vi nghiên cứu bao quát dữ liệu thực chứng trên toàn quốc giai đoạn từ năm 1995 đến năm 2015, gắn liền với quá trình chuyển dịch lập pháp từ Pháp lệnh Người tàn tật năm 1998 sang Luật Người khuyết tật năm 2010 và Hiến pháp năm 2013. Luận văn mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp giải pháp nhằm thu hẹp khoảng cách tham gia lực lượng lao động giữa người khuyết tật (72%) và người không khuyết tật (82,7%), giảm tỷ lệ thất nghiệp của người khuyết tật tại khu vực đô thị từ mức 13,9% xuống mức tối thiểu, đồng thời nâng mức thu nhập bình quân từ 370.000 đồng/tháng lên mức bảo đảm an sinh bền vững.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng trên cơ sở tiếp cận quyền con người theo chuẩn mực của Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua năm 2006 và quan điểm duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò quyết định của kinh tế đối với đời sống chính trị xã hội. Mô hình nghiên cứu vận hành theo cấu trúc tương tác đa tầng giữa ba chủ thể: Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế và ban hành chính sách; Doanh nghiệp tạo lập cơ hội việc làm và điều chỉnh môi trường lao động; Xã hội xóa bỏ định kiến và hỗ trợ hòa nhập.
Khung phân tích của đề tài xoay quanh bốn khái niệm cốt lõi:
- Người khuyết tật: Cá nhân bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc suy giảm chức năng, được phân loại theo sáu dạng tật chính quy định tại Nghị định 28/2012/NĐ-CP và khung phân loại quốc tế ICF của Tổ chức Y tế Thế giới.
- Người lao động khuyết tật: Chủ thể có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi lao động, có khả năng tham gia vào quan hệ lao động phù hợp với sức khỏe thực tế.
- Quyền làm việc của người khuyết tật: Quyền con người cơ bản được ghi nhận tại Điều 59, Điều 61 Hiến pháp năm 2013 và Điều 5 Luật Người khuyết tật năm 2010, bao gồm quyền bình đẳng về tuyển dụng, tiền lương và điều kiện lao động tiếp cận.
- Mô hình sống độc lập và mô hình cùng chi trả: Hệ thống an sinh xã hội tích hợp giúp người khuyết tật tự chủ kinh tế và hòa nhập toàn diện.
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn khai thác nguồn dữ liệu thứ cấp quy mô lớn từ Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 với cỡ mẫu 78,5 triệu người từ 5 tuổi trở lên, kết hợp khảo sát thực trạng người khuyết tật tại 11 tỉnh thành năm 2008 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trên cỡ mẫu 1.907 người khuyết tật từ 16 tuổi trở lên và Điều tra mức sống dân cư năm 2006. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên đại diện toàn quốc trong cuộc tổng điều tra giúp phản ánh chính xác bức tranh nhân khẩu học, trong khi phương pháp chọn mẫu mục tiêu tại 11 tỉnh hỗ trợ đo lường chi tiết cấu trúc thu nhập và việc làm theo từng dạng tật.
Đề tài sử dụng phương pháp luật học so sánh để đối chiếu các quy định pháp luật của Việt Nam với các chuẩn mực quốc tế và kinh nghiệm thực tiễn từ Nhật Bản, Malaysia, Trung Quốc và Hoa Kỳ. Đồng thời, phương pháp phân tích thống kê mô tả và tổng hợp logic được áp dụng xuyên suốt để lý giải mối tương quan giữa mức độ khiếm khuyết với tỷ lệ việc làm. Việc lựa chọn tổ hợp phương pháp này bảo đảm tính khách quan, giúp nhận diện chính xác các khoảng trống thể chế trong khung thời gian nghiên cứu từ năm 2013 đến năm 2015.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, nghiên cứu chỉ ra sự chênh lệch lớn về cơ hội tiếp cận thị trường lao động. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của người khuyết tật đạt 72%, thấp hơn 10,7% so với mức 82,7% của người không khuyết tật, và sụt giảm mạnh xuống chỉ còn 25,3% ở nhóm khuyết tật nặng. Tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực đô thị của người khuyết tật lên tới 13,9%, cao gấp 3,2 lần so với người không khuyết tật (4,31%), thậm chí chạm ngưỡng 42,37% ở nhóm khuyết tật nặng và 70,51% ở nhóm khuyết tật về tập trung, ghi nhớ.
Thứ hai, rào cản học vấn và kỹ năng chuyên môn ảnh hưởng nặng nề đến khả năng có việc làm. Tỷ lệ biết đọc biết viết của người khuyết tật trưởng thành chỉ đạt 76,3%, thấp hơn đáng kể so với 95,2% ở người không khuyết tật. Tỷ lệ tốt nghiệp tiểu học của người khuyết tật dừng lại ở mức 47,8% (so với 82,9% của người không khuyết tật), và có tới 18,62% người khuyết tật trưởng thành chưa từng được đến trường. Số năm đi học trung bình của người khuyết tật chỉ đạt 5 năm, thấp hơn 2 năm so với mức trung bình của dân số chung.
Thứ ba, cơ cấu việc làm thiếu bền vững và mức thu nhập rất thấp. Trong số những người khuyết tật có việc làm, 41,06% tập trung trong ngành nông lâm ngư nghiệp với thu nhập bình quân 619.000 đồng/tháng; 28,86% làm việc trong thương mại dịch vụ (thu nhập 1.026.000 đồng/tháng); chỉ 6,1% tiếp cận được khu vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp (thu nhập 1.166.000 đồng/tháng). Thu nhập bình quân chung của người khuyết tật trong mẫu khảo sát 11 tỉnh chỉ đạt 370.000 đồng/tháng, dẫn đến thực trạng 70% đến 80% người khuyết tật tại đô thị phải sống dựa vào gia đình và trợ cấp xã hội.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng trên bắt nguồn từ định kiến xã hội xem người khuyết tật là đối tượng mất sức lao động cần cứu trợ thay vì là nguồn nhân lực có tiềm năng. Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật Việt Nam còn thiếu các quy chuẩn kỹ thuật phân loại khả năng lao động theo từng dạng tật để phục vụ tư vấn học nghề. Các chính sách ưu đãi miễn giảm thuế cho doanh nghiệp sử dụng lao động khuyết tật chưa đủ mạnh và thủ tục hành chính còn phức tạp.
So sánh với các quốc gia trong khu vực, Malaysia đã áp dụng thành công hạn mức bắt buộc 1% vị trí việc làm trong khu vực công và tư nhân cho người khuyết tật, đồng thời miễn thuế bổ sung cho doanh nghiệp tuyển trên 5% nhân sự khuyết tật. Nhật Bản phát triển hệ thống quỹ chuyên trách hỗ trợ chi phí cải tạo nhà xưởng tiếp cận. Những bằng chứng quốc tế này khẳng định Việt Nam cần chuyển đổi mạnh mẽ từ mô hình bảo trợ từ thiện sang mô hình thực thi quyền.
Dữ liệu nghiên cứu được biểu đạt trực quan thông qua bảng thống kê tương quan giữa mức độ khuyết tật và tỷ lệ thất nghiệp, kết hợp biểu đồ cột thể hiện sự dịch chuyển cơ cấu tuổi người khuyết tật qua ba mốc thời gian 1995 (13,48% người cao tuổi), 2005 (17,17%) và 2009 (43,3%), qua đó minh họa nhu cầu cấp thiết trong việc xây dựng chính sách việc làm thích ứng cho từng nhóm đối tượng.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên kết quả phân tích thực trạng và kinh nghiệm quốc tế, luận văn đưa ra bốn nhóm khuyến nghị trọng tâm nhằm bảo đảm quyền làm việc của người khuyết tật tại Việt Nam:
-
Quy định hạn mức tuyển dụng bắt buộc trong khu vực công và tư nhân:
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Bộ Nội vụ xây dựng quy định bắt buộc các cơ quan hành chính nhà nước và doanh nghiệp có quy mô trên 50 lao động phải tiếp nhận tối thiểu 1% đến 2% chỉ tiêu lao động là người khuyết tật. Giải pháp này hướng tới mục tiêu tạo việc làm ổn định cho khoảng 150.000 người khuyết tật trong giai đoạn 2016-2020.
-
Hoàn thiện chính sách ưu đãi tài chính và tín dụng doanh nghiệp:
Bộ Tài chính cùng Ngân hàng Chính sách Xã hội ban hành gói tín dụng ưu đãi lãi suất 3%/năm dành riêng cho các cơ sở sản xuất kinh doanh có từ 5% lao động là người khuyết tật. Đồng thời, áp dụng cơ chế khấu trừ 100% chi phí cải tạo công trình tiếp cận, mua sắm trang thiết bị hỗ trợ vào chi phí hợp lý khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp, triển khai ngay từ năm 2016.
-
Thiết lập Ủy ban Quốc gia về Người khuyết tật:
Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo thành lập Ủy ban Quốc gia về Người khuyết tật với vai trò cơ quan điều phối liên ngành độc lập, có chức năng giám sát thực thi chính sách lao động, quản lý Quỹ hỗ trợ việc làm người khuyết tật và tiếp nhận phản ánh về phân biệt đối xử tại nơi làm việc, hoàn thiện bộ máy thể chế trong giai đoạn 2016-2018.
-
Chuẩn hóa quy trình đánh giá chức năng và đổi mới mạng lưới đào tạo nghề:
Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp phối hợp với Bộ Y tế ban hành bộ tiêu chuẩn đánh giá khả năng lao động dựa trên khung ICF của Tổ chức Y tế Thế giới, thay thế cho cách giám định y khoa đơn thuần. Phấn đấu nâng chỉ tiêu đào tạo nghề gắn với địa chỉ sử dụng lao động lên mức 50.000 học viên khuyết tật mỗi năm trong lộ trình 2016-2020.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Công trình nghiên cứu mang giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao, đặc biệt hữu ích đối với bốn nhóm đối tượng sau:
-
Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách:
Các chuyên viên, lãnh đạo thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Ủy ban Xã hội của Quốc hội có thể sử dụng các số liệu thực chứng và phân tích khoảng trống lập pháp để phục vụ quá trình sửa đổi, bổ sung Luật Người khuyết tật và xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành.
-
Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên ngành Luật:
Giảng viên và người học chuyên ngành Luật học, Pháp luật về quyền con người tại các cơ sở đào tạo như Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội có thể sử dụng luận văn làm tài liệu giảng dạy, học tập chuyên sâu về an sinh xã hội, quyền của nhóm yếu thế và phương pháp luật học so sánh.
-
Doanh nghiệp và tổ chức sử dụng lao động:
Người sử dụng lao động, cán bộ quản trị nhân sự và các hiệp hội doanh nghiệp tìm thấy trong luận văn mô hình bố trí việc làm thích ứng, quy trình tiếp cận nguồn lao động khuyết tật và các bước tối ưu hóa chính sách ưu đãi thuế của Nhà nước.
-
Các tổ chức phi chính phủ và mạng lưới người khuyết tật:
Hội Người khuyết tật Việt Nam cùng các tổ chức xã hội dân sự có thêm cơ sở lý luận và số liệu xác thực để xây dựng các dự án sinh kế, truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng và vận động chính sách thúc đẩy quyền sống độc lập.
Câu hỏi thường gặp
-
Khái niệm người lao động khuyết tật trong khoa học pháp lý được hiểu như thế nào?
Người lao động khuyết tật là cá nhân bị khiếm khuyết cơ thể hoặc suy giảm chức năng theo Điều 2 Luật Người khuyết tật năm 2010, đồng thời phải có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi lao động. Số liệu nghiên cứu cho thấy khoảng 60% người khuyết tật nằm trong độ tuổi lao động và hoàn toàn có khả năng tạo ra giá trị kinh tế nếu được bố trí công việc phù hợp.
-
Vì sao quyền làm việc được xác định là quyền nền tảng của người khuyết tật?
Quyền làm việc quyết định quyền tự chủ kinh tế. Khi có việc làm với thu nhập bình quân khoảng 785.000 đồng/tháng thay vì phụ thuộc vào mức trợ cấp xã hội 75.000 đồng/tháng, người khuyết tật sẽ tự tin hòa nhập, có vị thế bình đẳng trong gia đình và có điều kiện tham gia vào các quyền văn hóa, xã hội và dân sự chính trị.
-
Việt Nam có thể tiếp thu bài học kinh nghiệm quốc tế nào để thúc đẩy việc làm cho người khuyết tật?
Việt Nam có thể học tập mô hình áp dụng tỷ lệ 1% việc làm bắt buộc trong khu vực công và tư của Malaysia, kết hợp ưu đãi thuế khi tuyển trên 5% lao động khuyết tật. Ngoài ra, mô hình lập quỹ hỗ trợ cải tạo môi trường làm việc của Nhật Bản và Đạo luật ADA của Hoa Kỳ là những điển hình xuất sắc.
-
Thu nhập thực tế của lao động khuyết tật tại Việt Nam hiện nay phân hóa như thế nào?
Theo khảo sát tại 11 tỉnh thành, thu nhập bình quân chung của người khuyết tật chỉ đạt 370.000 đồng/tháng. Tuy nhiên, người khuyết tật làm việc trong ngành công nghiệp đạt 1.166.000 đồng/tháng và ngành thương mại dịch vụ đạt 1.026.000 đồng/tháng, cao gấp gần ba lần so với nhóm làm nông nghiệp (619.000 đồng/tháng).
-
Những rào cản lớn nhất đối với việc làm của người khuyết tật là gì?
Ba rào cản lớn nhất gồm: định kiến xã hội đánh giá thấp năng lực của người khuyết tật; hạn chế về trình độ học vấn khi có 47,8% người khuyết tật chỉ học hết tiểu học và 18,62% chưa từng đến trường; cùng với sự thiếu thốn hạ tầng giao thông và trang thiết bị tiếp cận tại nơi làm việc.
Kết luận
- Khẳng định quyền làm việc của người khuyết tật là quyền con người thiêng liêng, tạo đòn bẩy căn bản để người khuyết tật vươn lên làm chủ cuộc sống và thực thi đầy đủ các quyền công dân.
- Phản ánh rõ nét thực trạng bất bình đẳng thông qua các dữ liệu thực chứng với tỷ lệ thất nghiệp đô thị của người khuyết tật lên tới 13,9% và thu nhập bình quân chỉ đạt 370.000 đồng/tháng.
- Tổng kết sâu sắc kinh nghiệm lập pháp quốc tế từ Nhật Bản, Malaysia, Trung Quốc và Hoa Kỳ nhằm tìm kiếm các mô hình thích ứng cho điều kiện kinh tế xã hội tại Việt Nam.
- Đề xuất hệ thống bốn nhóm giải pháp mang tính đột phá về hạn mức tuyển dụng bắt buộc 1% đến 2%, gói tín dụng ưu đãi 3%/năm, thành lập Ủy ban Quốc gia về Người khuyết tật và chuẩn hóa đào tạo nghề.
- Xác định lộ trình triển khai cụ thể giai đoạn 2016-2020 nhằm mở ra cơ hội việc làm bền vững cho hơn 6,1 triệu người khuyết tật trên phạm vi cả nước.
Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Quế là công trình nghiên cứu công phu, đặt nền móng lý luận và thực tiễn vững chắc cho việc bảo vệ quyền làm việc của người khuyết tật tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu không chỉ đóng góp trực tiếp vào tiến trình nội luật hóa Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật mà còn cung cấp luận cứ khoa học sắc bén cho các nhà lập pháp. Các cơ quan quản lý, chuyên gia học thuật và doanh nghiệp hãy khai thác sâu sắc tài liệu này để cùng chung tay xây dựng một thị trường lao động hòa nhập, công bằng và nhân văn.