Luận Văn Thạc Sĩ Về Quyền Làm Việc Của Người Khuyết Tật Tại Việt Nam

Luận văn thạc sĩ luật học phân tích vnu ls quyền làm việc của người khuyết tật tại việt nam luận văn ths luật, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp khả thi cho

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

99
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN LÀM VIỆC CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI

1.1. Các khái niệm cơ bản

1.2. Khái niệm người khuyết tật theo công ước quốc tế và luật người khuyết tật

1.3. Khái niệm người lao động khuyết tật

1.4. Quyền làm việc của người khuyết tật trong mối quan hệ với các quyền khác

1.5. Quyền làm việc của người khuyết tật – Quyền con người

1.6. Kinh nghiệm của một số quốc gia đảm bảo quyền làm việc của người khuyết tật

1.6.1. Quyền làm việc của người khuyết tật tại Nhật Bản

1.6.2. Quyền làm việc của người khuyết tật tại Malaysia

1.6.3. Quyền làm việc của người khuyết tật ở nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa

1.6.4. Quyền làm việc của người khuyết tật ở Mỹ

1.7. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NGƯỜI KHUYẾT TẬT TẠI VIỆT NAM VÀ CÁC CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT, THỂ CHẾ ĐẢM BẢO QUYỀN LÀM VIỆC CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT TẠI VIỆT NAM

2.1. Thực trạng lao động khuyết tật tại Việt Nam

2.2. Tỷ lệ lao động khuyết tật

2.3. Các dạng khuyết tật theo lứa tuổi

2.4. Giáo dục và đào tạo

2.5. Tham gia lực lượng lao động và việc làm

2.6. Mức sống và thu nhập

2.7. Chính sách, pháp luật, cơ chế đảm bảo quyền làm việc của người khuyết tật tại Việt Nam

2.7.1. Chính sách đảm bảo quyền làm việc của người khuyết tật

2.7.2. Pháp luật đảm bảo quyền làm việc của người khuyết tật

2.7.3. Thể chế đảm bảo quyền làm việc của người khuyết tật

2.8. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN VỀ CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT, THỂ CHẾ CỦA VIỆT NAM TRONG VIỆC ĐẢM BẢO QUYỀN LÀM VIỆC CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT

3.1. Tổng quan đánh giá

3.2. Về Chính sách

3.3. Về pháp luật

3.4. Về thể chế

3.5. Một số giải pháp nhằm đảm bảo thực thi quyền làm việc của người khuyết tật Việt Nam

3.5.1. Hoàn thiện pháp luật

3.5.2. Hoàn thiện chính sách

3.5.3. Hoàn thiện thể chế

3.6. Kết luận chương 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Quyền Làm Việc Của Người Khuyết Tật Tại Việt Nam

Quyền làm việc của người khuyết tật tại Việt Nam là một vấn đề quan trọng, liên quan đến quyền con người và sự phát triển bền vững của xã hội. Theo thống kê, khoảng 6% dân số Việt Nam là người khuyết tật, trong đó có 60% đang trong độ tuổi lao động. Tuy nhiên, quyền làm việc của họ vẫn chưa được đảm bảo đầy đủ. Nhiều người khuyết tật vẫn phải đối mặt với sự kỳ thị và thiếu cơ hội việc làm. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến cuộc sống của họ mà còn gây lãng phí nguồn lực lao động quý giá cho xã hội.

1.1. Khái Niệm Về Quyền Làm Việc Của Người Khuyết Tật

Quyền làm việc của người khuyết tật được hiểu là quyền được tham gia vào thị trường lao động, có cơ hội làm việc và được hưởng các quyền lợi như mọi người khác. Điều này bao gồm việc được đào tạo nghề, tìm kiếm việc làm và có môi trường làm việc phù hợp.

1.2. Tình Hình Thực Tế Về Người Khuyết Tật Tại Việt Nam

Mặc dù có nhiều chính sách hỗ trợ, nhưng thực tế cho thấy người khuyết tật vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm. Nhiều người vẫn phải sống phụ thuộc vào gia đình hoặc trợ cấp xã hội. Sự thiếu nhận thức và kỳ thị từ xã hội cũng là một rào cản lớn.

II. Thách Thức Đối Với Quyền Làm Việc Của Người Khuyết Tật Tại Việt Nam

Người khuyết tật tại Việt Nam phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc thực hiện quyền làm việc. Những thách thức này không chỉ đến từ môi trường làm việc mà còn từ chính nhận thức của xã hội. Sự kỳ thị và thiếu thông tin về khả năng của người khuyết tật đã tạo ra những rào cản lớn trong việc tìm kiếm việc làm.

2.1. Kỳ Thị Xã Hội Đối Với Người Khuyết Tật

Kỳ thị xã hội là một trong những nguyên nhân chính khiến người khuyết tật không được chấp nhận trong môi trường làm việc. Nhiều nhà tuyển dụng vẫn có quan niệm sai lầm về khả năng của họ, dẫn đến việc không tuyển dụng hoặc không tạo điều kiện làm việc phù hợp.

2.2. Thiếu Chính Sách Hỗ Trợ Hiệu Quả

Mặc dù có nhiều chính sách hỗ trợ người khuyết tật, nhưng việc thực thi và giám sát các chính sách này còn nhiều hạn chế. Nhiều người khuyết tật không biết đến các chương trình hỗ trợ hoặc không đủ điều kiện để tham gia.

III. Phương Pháp Đảm Bảo Quyền Làm Việc Của Người Khuyết Tật Tại Việt Nam

Để đảm bảo quyền làm việc của người khuyết tật, cần có những phương pháp và giải pháp cụ thể. Các chính sách cần được hoàn thiện và thực thi một cách hiệu quả hơn. Đồng thời, cần nâng cao nhận thức của xã hội về khả năng của người khuyết tật.

3.1. Hoàn Thiện Chính Sách Hỗ Trợ Người Khuyết Tật

Cần có những chính sách cụ thể và rõ ràng hơn để hỗ trợ người khuyết tật trong việc tìm kiếm việc làm. Các chương trình đào tạo nghề cần được mở rộng và phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động.

3.2. Tăng Cường Đào Tạo Nghề Cho Người Khuyết Tật

Đào tạo nghề cho người khuyết tật là một trong những giải pháp quan trọng. Cần có các chương trình đào tạo phù hợp với khả năng và nhu cầu của họ, giúp họ có thể tự lập và tham gia vào thị trường lao động.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Về Quyền Làm Việc Của Người Khuyết Tật Tại Việt Nam

Việc thực hiện quyền làm việc của người khuyết tật không chỉ là trách nhiệm của nhà nước mà còn là của toàn xã hội. Các doanh nghiệp cần có chính sách tuyển dụng và đãi ngộ công bằng cho người khuyết tật. Đồng thời, cần có sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội để tạo ra môi trường làm việc thân thiện.

4.1. Các Mô Hình Doanh Nghiệp Hỗ Trợ Người Khuyết Tật

Nhiều doanh nghiệp đã bắt đầu áp dụng các mô hình tuyển dụng và hỗ trợ người khuyết tật. Những mô hình này không chỉ giúp người khuyết tật có việc làm mà còn nâng cao nhận thức của xã hội về khả năng của họ.

4.2. Kết Quả Nghiên Cứu Về Quyền Làm Việc Của Người Khuyết Tật

Nghiên cứu cho thấy rằng việc tạo điều kiện làm việc cho người khuyết tật không chỉ mang lại lợi ích cho họ mà còn cho doanh nghiệp. Người khuyết tật thường có tính kỷ luật cao và sự trung thành với công việc.

V. Kết Luận Về Quyền Làm Việc Của Người Khuyết Tật Tại Việt Nam

Quyền làm việc của người khuyết tật tại Việt Nam cần được đảm bảo và thực thi một cách nghiêm túc. Cần có sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và xã hội để tạo ra môi trường làm việc thân thiện và công bằng cho người khuyết tật. Việc thực hiện quyền này không chỉ mang lại lợi ích cho người khuyết tật mà còn cho toàn xã hội.

5.1. Tương Lai Của Quyền Làm Việc Của Người Khuyết Tật

Tương lai của quyền làm việc của người khuyết tật phụ thuộc vào sự thay đổi trong nhận thức của xã hội và các chính sách hỗ trợ. Cần có những bước đi cụ thể để đảm bảo quyền lợi cho người khuyết tật.

5.2. Đề Xuất Giải Pháp Cải Thiện Quyền Làm Việc

Cần có các giải pháp cụ thể để cải thiện quyền làm việc của người khuyết tật, bao gồm việc hoàn thiện chính sách, nâng cao nhận thức và tạo ra môi trường làm việc thân thiện.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls quyền làm việc của người khuyết tật tại việt nam luận văn ths luật

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN LÀM VIỆC CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm người khuyết tật theo công ước quốc tế và luật người khuyết tật Theo công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật được đại hội đồng liên hợp quốc thông qua ngày 13/3/2007 thì khái niệm người khuyết tật được hiểu là một khái niệm mở, tiến triển theo thời gian và điều kiện xã hội, theo đó thì các quốc gia tham gia công ước sẽ: Thừa nhận rằng sự khuyết tật là một khái niệm luôn tiến triển và sự khuyết tật xuất phát từ sự tương tác giữa người có khuyết tật với những rào cản về môi trường và thái độ, những rào cản này phương hại đến sự tham gia đầy đủ và hữu hiệu của họ vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác [14, Điều 1]. Theo đó thì sự khuyết tật và mức độ khuyết tật được đánh giá trên phương diện nó là rào cản ảnh hưởng đến việc người khuyết tật tham gia đầy đủ các hoạt động xã hội, thực hiện các quyền bình đẳng, hợp pháp của mình.

Khái niệm này dẫn đến việc số lượng người được coi là khuyết tật sẽ cao hơn cách tính của Việt Nam. Vì sẽ bao gồm cả những người bị suy giảm một phần chức năng về thị giác, thính giác do tuổi già và các trường hợp tật nhẹ khác. Trong luận văn này, ở mục thực trạng người viết có nêu những số liệu thống kê do cuộc tổng điều tra dân số năm 2009 tập hợp về người khuyết tật tại Việt Nam. Đây là những số liệu dựa trên cách đánh giá theo khái niệm của công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật đã nêu trên.

Tức là đánh giá theo mức độ khó khăn trong việc thực hiện các chức năng nghe, nhìn, vận 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com động, tư duy. đây là một cách thống kê tiến bộ và tiệm cận với cách tính phổ biến trên thế giới. Theo luật của Việt Nam, người khuyết tật được hiểu như sau: Điều 2 luật người khuyết tật năm 2010 đã đưa ra những khái niệm cơ bản sau: Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn. Ở Việt Nam, Ngày 14/7/2006 Văn phòng Điều phối các hoạt động hỗ trợ người khuyết tật Việt Nam đã hợp tác với Tổ chức Cứu trợ và Phát triển (CRS) tổ chức dự thảo “Khái niệm và từ ngữ về người khuyết tật”.

Đã có ý kiến đề nghị nên dùng từ “khuyết tật” thay từ “tàn tật”. Hội thảo đã đi đến kết luận là sự cần thiết sử dụng từ “khuyết tật” thay cho “tàn tật” bởi vì những lý do sau: - Mặt ý nghĩa từ “tàn tật” mang ý nghĩa tiêu cực, nặng nề hơn. Việc dùng từ tàn tật sẽ khiến người ta có cảm giác là những người này không còn khả năng gì và điều đó ảnh hưởng tiêu cực đến sự nỗ lực phấn đấu vượt khó khăn. Trong khi đó từ “khuyết tật” lại mang ý nghĩa là những khiếm khuyết, sự giảm chức năng, phục hồi chức năng, vẫn còn khả năng, còn hy vọng bởi vậy, nó mang ý nghĩa tích cực hơn.

- Xã hội ngày càng phát triển, văn minh hơn, nhận thức của xã hội nói chung và nhận thức của xã hội về người khuyết tật nói riêng cũng thay đổi nên từ ngữ sử dụng cũng cần thay đổi theo xu hướng đó. - Đại bộ phận người khuyết tật mong muốn được gọi là người khuyết tật chứ không phải là người tàn tật vì nó mang tính nhân văn và xã hội nhiều hơn. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Phân loại người khuyết tật Để phân loại người khuyết tật nói chung và lao động khuyết tật nói riêng có thể dựa vào các tiêu chí sau đây: a. Theo nguyên nhân dẫn đến khuyết tật, gồm có: Nhóm nguyên nhân khuyết tật do bẩm sinh; Nhóm nguyên nhân khuyết tật do bệnh tật; Nhóm nguyên nhân khuyết tật do chiến tranh; Nhóm nguyên nhân khuyết tật do tai nạn lao động; Do các nguyên nhân khác.

Theo tiêu chuẩn phân loại khả năng suy giảm, khuyết tật và trở ngại (ICIDH) do tổ chức Y tế thế giới ban hành vào năm 1980, gồm 7 dạng: Suy giảm khả năng vận động như bị cụt chân, cụt tay, liệt, bại não. Suy giảm thính giác/nói (giao tiếp); Suy giảm thị giác bao gồm mù, mù màu.; Hành vì cư xử xa lạ (thường là do kết quả bệnh thần kinh phân liệt hay chứng loạn thần kinh hay những bệnh tâm thần khác); Chứng động kinh, ngất xỉu. Theo bộ chỉ số đa mục tiêu: Phản ánh tình hình chung về khuyết tật; phản ánh nguyên nhân khuyết tật, phản ánh cơ cấu địa bàn cư trú của người khuyết tật theo địa giới hành chính, phản ánh theo nhân khẩu học: Giới tính, độ tuổi, dân tộc, tình trạng hôn nhân, phản ánh theo trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kỹ thuật, nghề nghiệp, phản ánh nhu cầu đa dạng của người khuyết tật theo nhu cầu trợ giúp. Tại cuộc tổng điều tra dân số (TĐTDS) năm 2009 của Việt Nam đã sử dụng khung phân loại quốc tế để phân loại người khuyết tật.

Các phân loại này được sử dụng phổ biến tại nhiều quốc gia và các tổ chức phi chính phủ, liên hợp quốc. Đây là khung phân loại quốc tế về Chức năng, Khuyết tật và sức khỏe (ICF) của tổ chức y tế thế giới WTO để xác định tình trạng sức khỏe và khuyết tật. Nguyên tắc chủ chốt trong việc xây dựng khung phân loại này là sự bình đẳng trong cơ hội. Khung phân loại ICF không xét đến những khiếm khuyết của từng cá nhân mà hướng tới khả năng thực hiện các chức 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com năng của người dân.

Phương pháp phân loại này cho phép so sánh giữa các quốc gia trên toàn thế giới và trên thực tế đã được sử dụng trong TĐTDS ở nhiều quốc gia. TĐTDS sử dụng bộ câu hỏi ngắn, trọng tâm về tình trạng khuyết tật do nhóm Washington về thống kê khuyết tật xây dựng (WGDS 2006). Bộ câu hỏi gồm 4 câu hỏi về mức độ khó khăn trong việc thực hiện 4 chức năng là: 1) Nhìn; 2) Nghe; 3) Vận động; 4)tập trung ghi nhớ. Người trả lời sẽ tự đánh giá mức độ khó khăn của mình theo 4 mức độ 1) không có khó khăn gì; 2) Có khó khăn; 3) Rất khó khăn; 4) Không thể thực hiện được.

Luật người khuyết tật Việt Nam 2010 đã phân loại người khuyết tật như sau: Theo điều 2 NĐ 28/2012/ NĐ-CP hướng dẫn thi hành luật người khuyết tật thì có 6 dạng khuyết tật như sau: - Khuyết tật thị giác: là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhìn và cảm nhận ánh sáng, màu sắc, hình ảnh, sự vật trong điều kiện ánh sáng và môi trường bình thường. - Khuyết tật vận động: là tình trạng giảm hoặc mất chức năng cử động đầu, cổ, chân, tay, thân mình dẫn đến hạn chế trong vận động, di chuyển - Khuyết tật nghe nói: tình trạng giảm hoặc mất chức năng nghe, nói hoặc cả nghe và nói, phát âm thành tiếng và câu rõ ràng dẫn đến hạn chế trong giao tiếp, trao đổi thông tin bằng lời nói. - Khuyết tật thần kinh, tâm thần là tình trạng rối loạn tri giác, trí nhớ, cảm xúc, kiểm soát hành vi, suy nghĩ và có biểu hiện với những lời nói, hành động bất thường. - Khuyết tật trí tuệ là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhận thức, tư duy biểu hiện bằng việc chậm hoặc không thể suy nghĩ, phân tích về sự vật, hiện tượng, giải quyết sự việc.

- Khuyết tật khác là tình trạng giảm hoặc mất những chức năng cơ thể khiến cho hoạt động lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn mà không thuộc các trường hợp đã nêu trên. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Việc phân loại dạng khuyết tật cũng như xác định mức độ khuyết tật là rất quan trọng vì với mỗi loại khuyết tật sẽ phù hợp với công việc và các trang thiết bị hỗ trợ khác nhau. Các mức độ khuyết tật khác nhau cũng giúp người sử dụng lao động đánh giá được khả năng lao động để bố trí công việc phù hợp cho từng lao động. Khái niệm người lao động khuyết tật Khái niệm người lao động khuyết tật sẽ hẹp hơn khái niệm lao động khuyết tật vì không phải tất cả những người khuyết tật đều có khả năng lao động.

Trong nghiên cứu này chỉ đề cập đến đối tượng lao động là người khuyết tật có năng lực chủ thể tức là có đủ năng lực pháp lý và năng lực hành vi. Họ có đủ năng lực chủ thể mới đủ điều kiện tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong đó: - Năng lực pháp lý là khả năng chủ thể hưởng các quyền và nghĩa vụ pháp lý được nhà nước thừa nhận, đối với cá nhân có năng lực pháp lý kể từ khi công dân đó được sinh ra. - Năng lực hành vi là khả năng của chủ thể bằng hành vi của mình tham gia vào các quan hệ pháp luật và phải gánh chịu những trách nhiệm pháp lý do hành vi đem lại.

Một chủ thể pháp luật chỉ có đơn thuần năng lực pháp luật không thể tự mình tham gia vào quan hệ pháp luật để thực hiện quyền và nghĩa vụ chủ thể. Như một người bị bệnh tâm thần nặng mất năng lực hành vi, mất năng lực chủ thể không tham gia vào quan hệ pháp luật không thể tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh do vậy không thể coi là người lao động khuyết tật. Ngoài ra với các dạng khuyết tật khác nhau, mức độ khuyết tật khác nhau cũng quyết định đến khả năng lao động của người khuyết tật. Việc phân loại như vậy là hết sức quan trọng để có thể có những chương trình đào tạo 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghề thích hợp, tư vấn học nghề và tìm những công việc thích hợp, cũng như tạo môi trường lao động thuận lợi cho người lao động khuyết tật.

Tuy nhiên hiện nay ở nước ta, vẫn chưa có bộ quy chuẩn, phân loại lao động khuyết tật một cách chính xác để phục vụ cho các hoạt động dạy nghề và tư vấn việc làm cho người lao động khuyết tật. Hiện chúng ta chỉ có quy định về việc giám định mức độ khuyết tật và quy định không được sử dụng những người khuyết tật từ 51% trở lên làm việc thêm giờ vào ban đêm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Quyền Làm Việc của Người Khuyết Tật tại Việt Nam: Nghiên Cứu và Đề Xuất" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quyền lợi và thách thức mà người khuyết tật phải đối mặt trong môi trường làm việc tại Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ nêu rõ các quy định pháp luật hiện hành mà còn đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện tình hình việc làm cho nhóm đối tượng này. Độc giả sẽ nhận thấy tầm quan trọng của việc tạo ra một môi trường làm việc bình đẳng và không phân biệt, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống cho người khuyết tật.

Để mở rộng kiến thức về vấn đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu "Luận văn thạc sĩ bình đẳng và chống phân biệt đối xử với người khuyết tật trong pháp luật quốc tế và pháp luật việt nam phân tích và so sánh", nơi phân tích sâu hơn về các quy định pháp luật liên quan đến người khuyết tật. Ngoài ra, tài liệu "Luận văn thạc sĩ vai trò của tổ chức công đoàn trong bảo vệ quyền của người lao động ở việt nam hiện nay luận văn ths luật" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vai trò của các tổ chức trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động, bao gồm cả người khuyết tật. Cuối cùng, tài liệu "Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với quỹ quốc gia về việc làm ở việt nam" sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về các chính sách quản lý nhà nước liên quan đến việc làm, từ đó giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về bối cảnh việc làm tại Việt Nam.