Bình Đẳng và Chống Phân Biệt Đối Xử với Người Khuyết Tật trong Pháp Luật Quốc Tế và Việt Nam

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu bình đẳng và chống phân biệt đối xử với người khuyết tật trong pháp luật quốc tế và pháp luật việt, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ luật học

2015

120
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT, BÌNH ĐẲNG VÀ CHỐNG PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT

1.1. Tổng quan một số vấn đề lý luận về người khuyết tật

1.2. Phân loại người khuyết tật

1.3. Đặc điểm, vị trí, vai trò của người khuyết tật

1.4. Một số đối tượng khuyết tật đặc thù

1.5. Phụ nữ khuyết tật

1.6. Trẻ em khuyết tật

1.7. Nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử với NKT

1.8. Nguyên tắc bình đẳng. Nguyên tắc không phân biệt đối xử

1.9. Sự cần thiết xác lập cơ chế bảo đảm quyền bình đẳng và chống phân biệt đối xử với người khuyết tật trong pháp luật quốc tế cũng như quốc gia

2. CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BÌNH ĐẲNG VÀ CHỐNG PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT

2.1. Tổng quan pháp luật quốc tế và Việt Nam về người khuyết tật

2.2. Tổng quan pháp luật quốc tế về người khuyết tật

2.3. Pháp luật quốc tế về người khuyết tật. Công ước quốc tế về người khuyết tật và vấn đề bình đẳng, chống phân biệt đối xử với người khuyết tật

2.4. Vị trí của vấn đề người khuyết tật trong hệ thống pháp luật quốc gia

2.5. Tổng quan chính sách, pháp luật Việt Nam về người khuyết tật. Pháp luật Việt Nam về người khuyết tật. Nội dung cơ bản của Luật người khuyết tật Việt Nam. Các tổ chức của/vì người khuyết tật Việt Nam

2.6. Mức độ tương thích của pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế về quyền bình đẳng và chống phân biệt đối xử với người khuyết tật

2.7. Việc sử dụng thuật ngữ “người khuyết tật”

2.8. Về nội dung định nghĩa “người khuyết tật”. Đảm bảo quyền một số nhóm người khuyết tật đặc thù

2.9. Đảm bảo quyền của người khuyết tật trong một số lĩnh vực cụ thể. Quyền về dạy nghề và việc làm đối với người khuyết tật

2.10. Quyền về tiếp cận hạ tầng giao thông, công cộng

2.11. Quyền được chăm sóc y tế và phục hồi chức năng

2.12. Quyền về giáo dục – đào tạo. Quyền về văn hóa, thể thao, giải trí, du lịch

2.13. Quyền được bảo trợ xã hội

2.14. Quyền tiếp cận truyền thông, công nghệ thông tin

2.15. Đánh giá chung

3. CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT BẢO ĐẢM VỀ BÌNH ĐẲNG VÀ CHỐNG PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT TẠI VIỆT NAM

3.1. Yêu cầu hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền bình đẳng và chống phân biệt đối xử với người khuyết tật Việt Nam hiện nay

3.2. Bối cảnh trong nước và yêu cầu hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền của người khuyết tật. Tình hình người khuyết tật tại Việt Nam và yêu cầu thúc đẩy, bảo đảm quyền của người khuyết tật trên thực tế

3.3. Quan điểm về việc bảo đảm quyền bình đẳng và chống phân biệt đối xử với người khuyết tật trong thời gian tới. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về người khuyết tật tại Việt Nam

3.4. Hoàn thiện quy định về người khuyết tật trong Hiến pháp 2013. Hoàn thiện pháp luật về người khuyết tật để phù hợp với Công ước CRPD

3.5. Về thuật ngữ “người khuyết tật”

3.6. Cần đưa “tự kỷ” vào Luật người khuyết tật Việt Nam

3.7. Bổ sung quan điểm của nhà nước trong việc bảo đảm quyền của phụ nữ khuyết tật và trẻ em khuyết tật vào Luật Người Khuyết tật

3.8. Hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền bình đẳng và chống phân biệt đối xử với người khuyết tật trên một số lĩnh vực

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Người Khuyết Tật Định Nghĩa và Phân Loại

Liên quan đến khái niệm người khuyết tật, có nhiều quan niệm khác nhau theo thời gian và không gian. Tuy nhiên, có thể khái quát thành hai nhóm quan điểm chính. Nhóm thứ nhất cho rằng vấn đề khuyết tật nằm ở chính bản thân người đó, ít chú trọng đến các yếu tố môi trường xã hội và vật thể xung quanh. Theo mô hình này, người bị suy giảm khả năng vận động sẽ bị coi là khuyết tật do sự suy giảm chức năng cá nhân. Người này có thể cố gắng vượt qua các hạn chế bằng cách điều trị y khoa hoặc sử dụng các dụng cụ hỗ trợ. Quan điểm này tập trung vào sự khiếm khuyết về thể trạng, tinh thần, thính giác, thị giác, sức khỏe tâm thần, và cho rằng người khuyết tật cần được hỗ trợ, chăm sóc vì họ không đủ khả năng tự lo cho cuộc sống. Quan điểm này được gọi là mô hình khuyết tật cá nhân hay mô hình khuyết tật dưới góc độ y tế. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đưa ra 3 thuật ngữ về khuyết tật đều theo quan điểm khuyết tật cá nhân: “khiếm khuyết”, “giảm khả năng” và “tàn tật”. Khiếm khuyết là tình trạng bị mất hoặc bất thường một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng tâm sinh lý. Khiếm khuyết có thể là hậu quả của bệnh tật, tai nạn, các nhân tố môi trường hoặc bẩm sinh.

1.1. Định Nghĩa Người Khuyết Tật Theo Mô Hình Y Tế

Mô hình y tế tập trung vào các khiếm khuyết về thể chất và tinh thần của người khuyết tật. Theo đó, khuyết tật được xem là một vấn đề cá nhân, cần được giải quyết thông qua các biện pháp y tế như điều trị, phục hồi chức năng. Mô hình này thường bỏ qua các yếu tố xã hội và môi trường có thể ảnh hưởng đến khả năng hòa nhập của người khuyết tật. WHO định nghĩa khuyết tật dựa trên ba khái niệm: khiếm khuyết, giảm khả năng và tàn tật, tất cả đều tập trung vào cá nhân.

1.2. Phân Loại Người Khuyết Tật Theo Mức Độ và Dạng Tật

Việc phân loại người khuyết tật giúp xác định nhu cầu hỗ trợ và can thiệp phù hợp. Có nhiều cách phân loại khác nhau, dựa trên mức độ khuyết tật (nhẹ, vừa, nặng, đặc biệt nặng) và dạng khuyết tật (vận động, nghe, nhìn, trí tuệ, tâm thần, ngôn ngữ). Mỗi dạng khuyết tật đòi hỏi các biện pháp hỗ trợ và tiếp cận khác nhau để đảm bảo quyền của người khuyết tật được thực hiện đầy đủ.

II. Phân Biệt Đối Xử Với Người Khuyết Tật Thực Trạng và Hậu Quả

Thực tế cho thấy, người khuyết tật thường xuyên phải đối mặt với tình trạng phân biệt đối xử trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, từ giáo dục, việc làm đến tiếp cận các dịch vụ công cộng. Tình trạng này xuất phát từ những định kiến xã hộirào cản xã hội tồn tại lâu đời. Hậu quả của phân biệt đối xửngười khuyết tật bị hạn chế cơ hội phát triển, hòa nhập cộng đồng và thực hiện đầy đủ các quyền con người của mình. Việc tuyên truyền nâng cao nhận thức về quyền của người khuyết tậtcơ hội bình đẳng là vô cùng quan trọng để thay đổi định kiến xã hội và tạo điều kiện cho người khuyết tật tham gia một cách bình đẳng vào mọi hoạt động của xã hội.

2.1. Các Hình Thức Phân Biệt Đối Xử Với Người Khuyết Tật

Phân biệt đối xử với người khuyết tật có thể biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, bao gồm từ chối tiếp cận dịch vụ, kỳ thị, cô lập, và hạn chế cơ hội việc làm. Các hình thức này có thể là trực tiếp (ví dụ: từ chối tuyển dụng) hoặc gián tiếp (ví dụ: yêu cầu công việc không phù hợp với khả năng của người khuyết tật). Việc nhận diện và loại bỏ các hình thức phân biệt đối xử là cần thiết để đảm bảo bình đẳng cho người khuyết tật.

2.2. Tác Động Của Phân Biệt Đối Xử Đến Hòa Nhập Xã Hội

Phân biệt đối xử tạo ra những rào cản xã hội lớn đối với người khuyết tật, gây khó khăn trong việc tiếp cận giáo dục, việc làm, và các dịch vụ công cộng. Điều này dẫn đến sự cô lập, giảm tự tin và hạn chế khả năng hòa nhập xã hội của người khuyết tật. Để khắc phục tình trạng này, cần có các biện pháp hỗ trợ tư phápvận động chính sách mạnh mẽ để bảo vệ quyền của người khuyết tật.

III. Bình Đẳng Cho Người Khuyết Tật Tiếp Cận Công Bằng và Hòa Nhập

Nguyên tắc bình đẳng đòi hỏi việc tạo ra cơ hội bình đẳng cho người khuyết tật, đảm bảo họ có thể tham gia đầy đủ vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Điều này không chỉ là việc đối xử giống nhau mà còn là việc tạo ra các điều kiện và biện pháp hỗ trợ đặc biệt để người khuyết tật có thể vượt qua những rào cản và phát huy tối đa khả năng của mình. Tiếp cận công bằng các dịch vụ, thông tin và môi trường vật chất là yếu tố then chốt để đảm bảo hòa nhập xã hội cho người khuyết tật. Nhà nước và xã hội cần có trách nhiệm tạo ra một môi trường thân thiện và hỗ trợ, nơi người khuyết tật được tôn trọng và được tạo điều kiện để phát triển.

3.1. Tiếp Cận Công Bằng Yếu Tố Quan Trọng Để Đảm Bảo Bình Đẳng

Tiếp cận công bằng bao gồm việc đảm bảo người khuyết tật có thể tiếp cận các dịch vụ, thông tin, giao thông, xây dựng và công nghệ thông tin một cách dễ dàng và thuận tiện. Điều này đòi hỏi việc loại bỏ các rào cản vật chất và phi vật chất, đồng thời áp dụng các tiêu chuẩn thiết kế phù hợp để đáp ứng nhu cầu của người khuyết tật. Tiếp cận công bằng là nền tảng để người khuyết tật có thể thực hiện đầy đủ các quyền của mình.

3.2. Hòa Nhập Xã Hội Mục Tiêu Của Chính Sách Hỗ Trợ Người Khuyết Tật

Hòa nhập xã hội là quá trình người khuyết tật tham gia một cách bình đẳng vào mọi hoạt động của xã hội, từ giáo dục, việc làm đến văn hóa, thể thao và giải trí. Để đạt được mục tiêu này, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà nước, xã hội và gia đình trong việc cung cấp các dịch vụ hỗ trợ, tạo điều kiện và loại bỏ các rào cản. Hòa nhập xã hội giúp người khuyết tật phát huy tối đa tiềm năng và đóng góp vào sự phát triển của cộng đồng.

IV. Luật Người Khuyết Tật Việt Nam Nội Dung và Mức Độ Tương Thích

Luật Người khuyết tật Việt Nam (có hiệu lực từ 01/01/2011) là văn bản pháp lý quan trọng, quy định về quyền của người khuyết tật, trách nhiệm của nhà nước, xã hội và gia đình trong việc bảo đảm quyền này. Luật đã có những tác động tích cực đến đời sống của người khuyết tật, tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế và bất cập cần được khắc phục. Việc đánh giá mức độ tương thích của Luật Người khuyết tật Việt Nam với Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền của Người Khuyết tật (CRPD) là cần thiết để đảm bảo pháp luật Việt Nam phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế và bảo vệ tốt hơn quyền của người khuyết tật.

4.1. Nội Dung Cơ Bản Của Luật Người Khuyết Tật Việt Nam

Luật Người khuyết tật Việt Nam quy định về các quyền của người khuyết tật trong các lĩnh vực như giáo dục, việc làm, y tế, giao thông, văn hóa, thể thao và bảo trợ xã hội. Luật cũng quy định về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và gia đình trong việc thực hiện các quyền này. Ngoài ra, Luật cũng quy định về các biện pháp phòng ngừa và giảm thiểu khuyết tật.

4.2. Đánh Giá Mức Độ Tương Thích Với Công Ước CRPD

Việc đánh giá mức độ tương thích của Luật Người khuyết tật Việt Nam với Công ước CRPD cho thấy một số quy định của Luật đã phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế, tuy nhiên, vẫn còn một số điểm cần được điều chỉnh và bổ sung để đảm bảo quyền của người khuyết tật được bảo vệ một cách toàn diện. Ví dụ, cần làm rõ hơn về khái niệm phân biệt đối xử và các biện pháp hỗ trợ phù hợp với từng dạng khuyết tật.

V. Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Quyền Của Người Khuyết Tật

Để pháp luật về quyền của người khuyết tật thực sự hiệu quả, cần có những giải pháp đồng bộ và toàn diện, từ việc hoàn thiện các quy định pháp luật đến việc nâng cao nhận thức và thay đổi thái độ của xã hội. Cần tập trung vào việc cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp 2013 về quyền con người, quyền công dân, đồng thời đảm bảo sự phù hợp với Công ước CRPD. Bên cạnh đó, cần tăng cường công tác giám sát thực thi pháp luật và có các biện pháp xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm quyền của người khuyết tật.

5.1. Hoàn Thiện Quy Định Về Người Khuyết Tật Trong Hiến Pháp 2013

Hiến pháp 2013 là văn bản pháp lý cao nhất, khẳng định các quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền của người khuyết tật. Cần cụ thể hóa các quy định này trong các văn bản pháp luật chuyên ngành, đồng thời đảm bảo sự thống nhất và đồng bộ giữa các quy định pháp luật.

5.2. Bổ Sung Các Quy Định Về Tự Kỷ Vào Luật Người Khuyết Tật

Hiện nay, Luật Người khuyết tật Việt Nam chưa có quy định cụ thể về tự kỷ, gây khó khăn trong việc xác định đối tượng và cung cấp các dịch vụ hỗ trợ phù hợp. Việc bổ sung các quy định về tự kỷ vào Luật Người khuyết tật là cần thiết để đảm bảo quyền của người tự kỷ được bảo vệ và thực hiện đầy đủ.

08/06/2025
Luận văn thạc sĩ bình đẳng và chống phân biệt đối xử với người khuyết tật trong pháp luật quốc tế và pháp luật việt nam phân tích và so sánh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Những vấn đề chung về NKT, bình đẳng và chống phân biệt đối xử với người khuyết tật. Chương 2: Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về bình đẳng và chống phân biệt đối xử với người khuyết tật. Chương 3: Quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về bình đẳng và chống phân biệt đối xử với người khuyết tật tại Việt Nam. 7 z Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGƢỜI KHUYẾT TẬT, BÌNH ĐẲNG VÀ CHỐNG PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ VỚI NGƢỜI KHUYẾT TẬT 1.

Tổng quan một số vấn đề lý luận về ngƣời khuyết tật 1. Khái niệm Liên quan đến khái niệm “người khuyết tật”, có nhiều quan niệm, cách hiểu khác nhau ở cả khía cạnh không gian và thời gian, tuy nhiên, có thể khái quát thành hai nhóm quan điểm lớn đó là: Nhóm quan điểm thứ nhất cho rằng vấn đề khuyết tật là ở tại chính con người đó, vì thế chú trọng rất ít hoặc không để ý gì đến các yếu tố về môi trường xã hội và môi trường vật thể xung quanh người đó. Theo mô hình này, một người bị suy giảm khả năng vận động sẽ bị rơi vào hoàn cảnh khuyết tật do sự suy giảm chức năng của riêng cá nhân đó. Người ấy có thể cố gắng vượt qua các hạn chế về chức năng do tình trạng khuyết tật gây ra bằng cách điều trị y khoa và/hoặc sử dụng các dụng cụ trợ giúp y tế, ví dụ như xe lăn hoặc nạng.

Quan điểm này tập trung vào sự khiếm khuyết về thể trạng, tinh thần, thính giác, thị giác, sức khỏe tâm thần…, và NKT cần được hỗ trợ, chăm sóc, họ không thể và không đủ khả năng chăm lo cho cuộc sống của mình. Quan điểm này được gọi là quan điểm mô hình khuyết tật cá nhân hay mô hình khuyết tật dưới góc độ y tế. Tổ chức Y tế thế giới đưa ra 3 thuật ngữ về khuyết tật đều theo quan điểm khuyết tật cá nhân, đó là “khiếm khuyết”, “giảm khả năng” và “tàn tật”. Khiếm khuyết là tình trạng bị mất hoặc tình trạng bất bình thường một hay các bộ phận cơ thể hoặc chức năng tâm sinh lý.

Khiếm khuyết có thể là hậu quả của bệnh tật, tai nạn, các nhân tố môi trường hoặc bẩm sinh (thuật ngữ này hàm ý nói ở cấp độ bộ phận cơ thể). Giảm khả năng là tình trạng giảm hoặc mất khả năng hoạt động do khiếm khuyết gây ra, hạn chế hoặc mất chức năng vận động, nói, nghe, nhìn hoặc giao tiếp (thuật ngữ này hàm ý nói ở cấp độ bộ phận cơ thể). Tàn tật là những thiệt thòi mà một người phải chịu do bị khuyết tật (thuật ngữ này hàm ý nói ở cấp độ xã hội). Luật thành văn của các nước sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau để mô tả 8 z NKT như "tàn phế", "tật nguyền", hoặc "chậm phát triển".

Ví dụ, Điều 2 Luật của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về bảo vệ NKT ban hành năm 1990 quy định: “Người khuyết tật là một trong những người bị bất thường, mất mát một cơ quan nhất định hoặc chức năng, tâm lý hay sinh lý, hoặc trong cấu trúc giải phẫu và những người đã mất toàn bộ hoặc một phần khả năng tham gia vào các hoạt động một cách bình thường. “Người khuyết tật” là những người có thính giác, thị giác, lời nói hoặc khuyết tật về thể chất, chậm phát triển tâm thần, rối loạn tâm thần, khuyết tật nhiều và/hoặc khuyết tật khác”. Luật về người khuyết tật ban hành năm 1995 của Ấn Độ (về cơ hội bình đẳng, bảo vệ quyền và đảm bảo cho NKT tham gia mọi hoạt động xã hội) định nghĩa khuyết tật bao gồm những tình trạng bị mù, nghe kém, lành bệnh phong; thị lực kém; suy giảm khả năng vận động; chậm phát triển trí óc và mắc bệnh về tâm thần. Trong khi đó, NKT lại được định nghĩa là “một người bị bất kỳ một khuyết tật nào không dưới 40% theo xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền”.

Theo đạo luật số 7277 của Phillipines năm 1991 thì “Người khuyết tật – là người có sự khác biệt về khả năng và hạn chế do khiếm khuyết về giác quan, vận động và tâm thần để thực hiện một hoạt động được coi là bình thường”. Nhược điểm của các quan điểm nêu trên là nhìn nhận NKT là một vấn đề của xã hội và cần có giải pháp để làm người đó “bình thường” [5, tr10], vì vậy dễ làm NKT cảm thấy bị xúc phạm. Luật pháp cần sử dụng thuật ngữ một cách nhất quán và phải thể hiện sự tôn trọng nhân phẩm con NKT. Nhóm quan điểm thứ hai cho rằng khuyết tật là một sản phẩm của xã hội.

Vấn đề khuyết tật bắt nguồn từ việc môi trường vật thể và môi trường xã hội không đáp ứng được những nhu cầu của từng cá nhân hoặc các nhóm đối tượng cụ thể. Theo mô hình xã hội về khuyết tật, sự suy giảm khả năng đi lại cần được xem xét trong bối cảnh xã hội và môi trường xung quanh. Xóa bỏ những rào cản xã hội và đảm bảo sự tiếp cận với môi trường vật thể có ý nghĩa tích cực trong việc giảm bớt hoặc vượt qua được những hạn chế giúp NKT hoạt động và tham gia vào mọi mặt cuộc sống [13]. 9 z Khái niệm này mang ý nghĩa bao quát hơn khái niệm mô hình khuyết tật cá nhân, và có ý nghĩa bảo vệ những NKT khỏi bị phân biệt đối xử.

Khái niệm có đối tượng bảo vệ rộng hơn, bao gồm cả những người có khuyết tật nhẹ, những người sống chung với NKT, những người bị gán cho danh nghĩa khuyết tật cũng có thể bị ảnh hưởng bởi sự phân biệt đối xử. Có một số văn kiện pháp lý quốc tế định nghĩa về NKT theo quan niệm này, chẳng hạn như: Công ước số 159 của ILO về phục hồi chức năng lao động và việc làm của người khuyết tật (năm 1983) quy định: “Người khuyết tật dùng để chỉ một cá nhân mà khả năng có một việc làm phù hợp, trụ lâu dài với công việc đó và thăng tiến với nó bị giảm sút đáng kể do hậu quả của một khiếm khuyết về thể chất và tâm thần được thừa nhận” (khoản 1, Điều 1); Công ước về Quyền của người khuyết tật của Liên hợp quốc (năm 2006) quy định: “Người khuyết tật bao gồm những người bị suy giảm về thể chất, thần kinh, trí tuệ hay giác quan trong một thời gian dài, có ảnh hưởng qua lại với hàng loạt những rào cản có thể cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của người khuyết tật vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác” (Điều 1). Kế thừa quan điểm này trong pháp luật quốc tế, pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới cũng nhìn nhận vấn đề khuyết tật dưới góc độ xã hội. Ở Cộng hòa Liên bang Đức, Bộ luật xã hội định nghĩa: “Người khuyết tật là người có các chức năng về thể lực, trí lực hoặc tâm lý tiến triển không bình thường so với người có cùng độ tuổi trong thời gian trên 6 tháng và sự không bình thường này là nguyên nhân dẫn đến việc họ bị hạn chế tham gia vào cuộc sống xã hội”.

Luật bình đẳng về việc làm của Nam Phi định nghĩa người khuyết tật là “người bị suy giảm khả năng về thể lực hoặc trí lực trong một thời gian dài hoặc tiếp diễn nhiều lần, khiến người đó bị hạn chế đáng kể về khả năng tham gia hoặc phát triển nghề nghiệp”. Đạo luật về người khuyết tật của Hoa Kỳ năm 1990 (ADA-Americans with Disabilities Act of 1990) định nghĩa “người khuyết tật là người có sự suy yếu về thể chất hay tinh thần gây ảnh hưởng đáng kể đến một hay nhiều hoạt động quan trọng trong cuộc sống”. Hay Bộ Luật chống phân biệt đối xử với người khuyết tật của Vương Quốc Anh năm 1995 điều chỉnh đối tượng là người có tiền sử hoặc hiện đang mang tật về trí não 10 z hay thể lực khiến cho khả năng thực hiện các công việc thường ngày bị ảnh hưởng đáng kể và lâu dài. Khi được sửa đổi mới đây, Bộ luật được mở rộng phạm vi điều chỉnh đối với người dị dạng mức độ nặng và những người nhiễm HIV/AIDS.

Bản thân CRPD không có định nghĩa khuyết tật, nhưng thuật ngữ đó được hiểu là “những người khiếm khuyết lâu ngày về thể chất, thần kinh, trí tuệ hoặc các giác quan mà khi tác động tương hỗ với những rào cản khác nhau có thể gây cản trở cho việc tham gia hiệu quả và đầy đủ vào xã hội, trên cơ sở bình đẳng với những người khác”. CRPD đặc biệt loại ra mô hình y tế mà coi một người khuyết tật là một bệnh nhân cần điều trị hoặc cần từ thiện. Thay vào đó, CRPD công nhận “mô hình xã hội” của khuyết tật. Theo mô hình xã hội này, khuyết tật là một phần của trải nghiệm nhân loại; khuyết tật tự nó không giảm bớt quyền của trẻ em và người lớn được lựa chọn và kiểm soát cuộc đời mình, được sống trong một môi trường hòa nhập, được tham gia đầy đủ và đóng góp cho cộng đồng của mình thông qua kết nhập và hòa nhập đầy đủ vào dòng chảy cuộc sống về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa và giáo dục.

Hơn thế nữa, mô hình xã hội, như CRPD thừa nhận, đặt trách nhiệm lên toàn xã hội (chứ không phải lên cá nhân NKT) phải tháo gỡ những rào cản lý tính và thái độ đang “làm khuyết tật” những con người có chút khiếm khuyết và cản trở họ thực hiện quyền của họ, cản trở họ hòa nhập đầy đủ vào xã hội. Như vậy, khái niệm người khuyết tật phụ thuộc rất nhiều vào mục tiêu mà luật hoặc các chính sách cụ thể đó theo đuổi. Do vậy, không có một khái niệm chung nào về khuyết tật có thể được áp dụng cho tất cả các văn bản pháp luật. Mỗi quốc gia phải xem xét kỹ lưỡng các yếu tố kinh tế, văn hóa, lịch sử, chính sách của quốc gia mình để đưa khái niệm phù hợp.

Tuy nhiên, cũng cần khẳng định rằng định nghĩa về NKT, dù tiếp cận dưới bất cứ góc độ nào, nhất thiết phải phản ánh một thực tế là NKT có thể gặp các rào cản do yếu tố xã hội, môi trường hoặc con người khi tham gia vào mọi hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Và họ phải được đảm bảo rằng, họ có quyền và trách nhiệm tham gia vào mọi hoạt động của đời sống như bất cứ công dân nào với tư cách là các quyền của con người [5].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Bình Đẳng và Chống Phân Biệt Đối Xử với Người Khuyết Tật trong Pháp Luật Quốc Tế và Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các quy định pháp lý liên quan đến quyền lợi của người khuyết tật, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bình đẳng và chống phân biệt đối xử. Tài liệu này không chỉ phân tích các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, mà còn chỉ ra những thách thức và cơ hội trong việc thực thi các quyền này trong bối cảnh pháp luật Việt Nam. Độc giả sẽ nhận được những thông tin quý giá về cách thức mà pháp luật có thể bảo vệ và thúc đẩy quyền lợi của người khuyết tật, từ đó nâng cao nhận thức và khuyến khích hành động tích cực trong xã hội.

Để mở rộng thêm kiến thức về quyền làm việc của người khuyết tật tại Việt Nam, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ vnu ls quyền làm việc của người khuyết tật tại việt nam luận văn ths luật. Tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các quyền lợi và chính sách hỗ trợ cho người khuyết tật trong lĩnh vực lao động, từ đó tạo ra một cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề này.