Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUYỀN CỦA TRẺ EM KHUYẾT TẬT 1. Trẻ em khuyết tật 1. Khái niệm trẻ em Trong xã hội, trẻ em là hạnh phúc của gia đình, là tương lai của đất nước. Việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em trong điều kiện tốt nhất là nhiệm vụ của toàn xã hội và là một trong những chính sách ưu tiên hàng đầu của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong việc bảo đảm an sinh xã hội, vì mục tiêu phát triển ổn định và lâu dài của đất nước.
Hơn nữa trẻ em là một trong những đối tượng yếu thế nhất cần phải được quan tâm đầu tư. Do đó việc xác định đối tượng nào được gọi là trẻ em là cơ sở để thực hiện và phát huy sự quan tâm đó. Trong các văn bản quốc tế và các chương trình của Liên Hợp quốc sử dụng đồng thời cả hai khái niệm trẻ em và người chưa thành niên. Điều 1 Công ước của Liên Hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989 (Convention on the Rights of the Child – CRC) - văn kiện quốc tế cơ bản, toàn diện nhất về trẻ em tính đến thời điểm này quy định: “Trẻ em có nghĩa là mọi người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật có thể được áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn”.
Tại Điều 2 trong Công ước số 182 – Công ước nghiêm cấm và hành động khẩn cấp xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất, năm 1999 có quy định: “Trong Công ước này, thuật ngữ “trẻ em” sẽ được áp dụng cho tất cả những người dưới 18 tuổi. Như vậy có thể khẳng định Công ước đã căn cứ vào độ tuổi để đưa ra khái niệm trẻ em. Tuy nhiên quy định này của Công ước là quy định mang tính mềm dẻo, tức là quy định về độ tuổi này không phải áp dụng bắt buộc cho tất cả các quốc gia thành viên mà tùy vào điều kiện, hoàn cảnh và đặc điểm của mỗi nước sẽ có những quy định khác nhau về khái niệm trẻ em (quy định độ tuổi trẻ em sớm hơn). 7 Và để làm rõ khái niệm trẻ em, ngay trong lời nói đầu của Công ước đã nêu rõ “trẻ em, do còn non nớt về thể chất và trí tuệ, cần phải được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời”.
Theo đó, trẻ em là những người có đầy đủ các điều kiện sau: Một là, trẻ em phải là người còn non nớt về thể chất và trí tuệ; Hai là, trẻ em cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt (kể cả về mặt pháp lý) Ba là, trẻ em là người dưới 18 tuổi. Việt Nam là nước chính thức đầu tiên ở Châu Á và là nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước quốc tế về Quyền trẻ em. Trên cơ sở quy định của Công ước, Việt Nam đã tiến hành nội luật hóa các quy định của Công ước về quyền trẻ em trong các văn bản pháp luật quốc gia về quyền trẻ em, trong đó có khái niệm về trẻ em. Theo quy định tại Điều 1 Luật trẻ em năm 2017 quy định: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi”.
Như vậy, quy định về độ tuổi được coi là trẻ em trong pháp luật nước ta thấp hơn 2 tuổi so với quy định trong Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em. Tuy nhiên, đây không bị coi là trái với CRC vì Điều 1 Công ước này cho phép các quốc gia thành viên quy định độ tuổi được coi là trẻ em thấp hơn 18 tuổi. Ngoài ra, liên quan đến trẻ em, theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015: “Người từ đủ 18 tuổi trở lên là người thành niên. Người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên”.
Với quy định này có thể hiểu rằng, người chưa đủ 18 tuổi là người chưa trưởng thành và cũng có nghĩa là người chưa đủ 18 tuổi vẫn là trẻ em. Liên quan đến vấn đề này, Bộ luật Lao động năm 2012 quy định: “Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động”. Theo quy định trên thì người lao động có thể là người chưa thành niên, nói cách khác có thể vẫn còn là trẻ em. Như vậy, pháp luật Việt Nam hiện nay vẫn chưa có khái niệm đầy đủ về trẻ em cũng như chưa có điều khoản quy định thống nhất về độ tuổi của trẻ 8 em.
Tuy nhiên trẻ em là đối tượng được hưởng mọi quyền được quy định tại Công ước về quyền trẻ em mà không bị bất cứ một sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hoặc quan điểm khác, địa vị, nguồn gốc dân tộc và xã hội, tài sản, dòng dõi hoặc mối tương quan khác. Nhưng trẻ em lại là người chưa trưởng thành nên có quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ và bày tỏ quan điểm, chính kiến của mình về mọi vấn đề liên quan đến bản thân mình. Bên cạnh đó, có thể ngầm hiểu rằng khái niệm trẻ em trong pháp luật Việt Nam hẹp hơn khái niệm người chưa thành niên, bởi người chưa thành niên bao gồm cả trẻ em và những người từ đủ 16tuổi đến dưới 18 tuổi. Khái niệm trẻ em khuyết tật Công ước nhân quyền đầu tiên của thế kỷ thứ 21, Công ước về Quyền của Người khuyết tật (CRPD), đã được Liên hợp quốc thông qua vào ngày 13 tháng 12 năm 2006 và có hiệu lực từ ngày 4 tháng 5 năm 2008.
Từ đó đến nay, công ước đã được mau chóng công nhận khắp nơi trên thế giới. Đến thời điểm ngày 1 tháng 12 năm 2009, đã có 143 quốc gia ký vào CRPD và 74 quốc gia đã phê chuẩn thực hiện. Khi một nước “phê chuẩn” hay “tham gia vào” công ước, nước đó đã chấp nhận công ước là luật ràng buộc. Ký kết vào công ước là bước đầu tiên tiến đến phê chuẩn, việc đó thể hiện một cam kết chính trị là quốc gia sẽ không hành động trái ngược và có hại tới tới “đối tượng và mục đích” của công ước.
Để chuẩn bị cho việc phê chuẩn, Cao ủy Liên hợp quốc kiến nghị cần phải rà soát cả luật pháp và cả chính sách xem có tuân thủ với CRPD hay không. Trong cố gắng đó, Cao ủy Liên hợp quốc kiến nghị rằng các chính phủ nên bàn thảo với xã hội dân sự, kể cả các tổ chức đại diện cho người khuyết tật. Trên cơ sở phê duyệt CRPD, các cơ quan nhà nước không chỉ có nghĩa vụ chấm dứt những cách làm có tính chất phân biệt đối xử người khuyết tật, mà còn khẳng định chắc chắn nghĩa vụ cung cấp dịch vụ cần 9 thiết cho người khuyết tật để họ tham gia và xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người không bị khuyết tật. Công ước CRPD rút ra nhiều kinh nghiệm quốc tế để khuyến khích áp dụng những các thực hiện hay và hỗ trợ các quốc gia thành viên chú trọng đến các bước họ cần thực hiện để bảo đảm bảo vệ nhân quyền và để người khuyết tật được tham gia đầy đủ vào xã hội.
CRPD cũng đòi hỏi các chính phủ không chỉ chuyển đổi luật pháp, chính sách và cách làm mà còn phải tăng cường thực hiện. CRPD công nhận rằng các quốc gia có quyền “thực hiện liên tục dần” những quyền con người đó sau một thời gian. Luật pháp về nhân quyền quốc tế, tuy thế, đòi hỏi rằng các quốc gia thành viên áp dụng các chính sách ngay lập tức để đặt quốc gia lên con đường tiến lên thực hiện đầy đủ những quyền đó. Bản thân văn bản CRPD không có định nghĩa khuyết tật, nhưng đó là để áp dụng cho “những người khiếm khuyết lâu ngày về thể chất, thần kinh, trí tuệ hoặc các giác quan mà khi tác động tương hỗ với những rào cản khác nhau có thể gây cản trở cho việc tham gia hiệu quả và đầy đủ vào xã hội, trên cơ sở bình đẳng với những người khác.” CRPD đặc biệt loại ra mô hình y tế về khuyết tật coi một người khuyết tật là một bệnh nhân cần điều trị hoặc cần từ thiện.
Thay vào đó, CRPD công nhận “mô hình xã hội” của khuyết tật. Theo mô hình xã hội này, khuyết tật là một phần của trải nghiệm nhân loại; khuyết tật tự nó không giảm bớt quyền của trẻ em và người lớn được lựa chọn và kiểm soát cuộc đời mình, được sống và được dịch vụ trong một môi trường hòa nhập, được tham gia đầy đủ và đóng góp cho cộng đồng của mình thông qua kết nhập và hòa nhập đầy đủ vào dòng chảy cuộc sống về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa và giáo dục. Hơn thế nữa, mô hình xã hội, như CRPD thừa nhận, đặt trách nhiệm lên toàn xã hội (chứ không phải lên cá nhân người khuyết tật) phải tháo dỡ những rào cản thái độ đang “làm khuyết tật” những 10 con người có chút khiếm khuyết và cản trở họ thực hiện quyền của họ, cản trở họ hòa nhập đầy đủ vào xã hội. Bằng việc ký kết CRPD, Chính phủ Việt Nam đã khẳng định cam kết của mình là đưa luật pháp và tập quán quốc gia phù hợp với Công ước quốc tế về người trong công tác chuẩn bị đệ trình CRPD cho Quốc hội để phê chuẩn.
Như vậy, Việt Nam đã bắt đầu soạn thảo luật để đưa quốc gia mình vào tuân thủ với CRPD. Luật Người khuyết tật được ban hành là một trong những minh chứng cho nỗ lực thực hiện cam kết của Việt Nam. Tại khoản 1, Điều 2, Luật Người khuyết tật 2010 khẳng định khái niệm người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn. Như vậy, trên cơ sở khái niệm về người khuyết tật nói chung thì có thể thấy trẻ em khuyết tật cũng được coi là người khuyết tật nhưng hẹp hơn khái niệm về người khuyết tật vì bị giới hạn ở độ tuổi dưới 16 và được coi là đối tượng thiệt thòi nhất.
Từ đó có thể đưa ra khái niệm trẻ em khuyết tật là những người từ 0 đến 16 tuổi bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng khuyết tật ở trẻ 1.