Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC GIÁO DỤC HOÀ NHẬP CHO GIÁO VIÊN Ở TRƯỜNG MẦM NON 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Nghiên cứu về bồi dưỡng năng lực giáo dục hoà nhập cho giáo viên mầm non Thời gian qua đã có khá nhiều công trình NC về BD NL GDHN cho GVMN, cụ thể: Trong báo cáo tổng kết đề tài “NC thực trạng và giải pháp GD hòa nhập cho TKT tuổi mẫu giáo” (2004) tác giả Phan Thị Ngọc Anh đã đề cập đến vấn đề BD NL GDHN cho GVMN. Theo đó tác giả kiến nghị những giải pháp như tăng cường ngân sách, tăng cường các lớp tập huấn đề BD cho các GVMN NL hòa nhập để ứng dụng vào việc nuôi dạy trẻ MN [1].
Tác giả Nguyễn Kim Hương (2015) trong NC “Biện pháp GD hòa nhập cho trẻ tự kỉ tuổi MN thành phố Thái Nguyên” đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về GDHN cho trẻ tự kỉ tuổi MN. Trong NC cũng đã đưa ra những giải pháp về BDNL GDHN cho GVMN [12]. Tác giả Lý Thị Anh Thư (2015) trong bài viết “GD hòa nhập cho trẻ tự kỉ theo mô hình kết hợp giữa trung tâm GD TKT và trường MN” đã chỉ rõ việc BDNL GDHN cho GV là điều cần thiết và có vai trò to lớn trong GD trẻ MN. Theo đó, vừa có thể giúp trẻ khắc phục những khó khăn do KT vừa có môi trường hòa nhập nhiều hơn với môi trường MN với các trẻ bình thường [17].
Tác giả Lê Thị Thúy Hằng (2016) với NC “Phát triển NL GDHN cho GV trong chương trình đào tạo” cũng hệ thống hóa cơ sở lý luận thế nào là NL GDHN cho GV, đồng thời đưa ra thực trạng và giải pháp nâng cao NL này cho GV trong chương trình đào tạo [11]. Trong NC “Biện pháp thực hiện GDHN cho trẻ rối loạn phổ tự kỉ 5-6 tuổi tại một số trường MN trên địa bàn thành phố Thái Nguyên” tác giả Bùi Thị Lan 6 (2017) đã chỉ ra GDHN là một trong những hình thức GD tối ưu giúp trẻ rối loạn phổ tự kỉ có thể tham gia vào các HĐ tương tác, là điều kiện để trẻ có thể hòa nhập cộng đồng một cách tốt nhất. Vì vậy, hầu hết các trường MN tại Thái Nguyên đã thực hiện chương trình GDHN; tuy nhiên, với các GV tham gia vào quá trình GDHN thì không phải ai cũng có đầy đủ hiểu biết và KN để GD trẻ. Tác giả cũng đã đề xuất BD NL GDHN cho GVMN.
Tác giả Nguyễn Thị Ngà và Vũ Thị Thu Hằng (2019) với công trình: “Hướng dẫn BD NL cho GVMN trong TC các HĐ GD phát triển nhận thức cho trẻ MN phù hợp với bối cảnh địa phương” đã cung cấp một tài liệu đầy đủ, dễ hiểu để tập huấn cho các GVMN về nâng cao NL hòa nhập. Có thể thấy, đã có nhiều tác giả với những công trình NC về BD NL GDHN cho GV nói chung và cho GVMN nói riêng. Các NC cũng đã chỉ ra được những khó khăn GV gặp phải trong thực hiện GDHN và đề xuất một số biện pháp giải quyết khó khăn đó. Tác giả kế thừa những NC đó làm nền tảng cho NC BD NL GDHN cho GVMN ở địa phương.
Các nghiên cứu về quản lý bồi dưỡng năng lực giáo dục hoà nhập cho giáo viên mầm non Bên cạnh những NC về BD NL GDHN cho GV, thời gian qua cũng có nhiều NC về QL BDNL GDHN cho GVMN, các ND của các bài NC có thể đề cập trực tiếp hoặc một khía cạnh về vấn đề này. Điển hình như: Trong “Giáo trình quản lí GD hòa nhập” (2010), tác giả Nguyễn Xuân Hải đã cung cấp những kiến thức cơ bản, là tài liệu tham khảo giúp người đọc có những hình dung về quản lí GDHN. Tác giả cũng đã thể hiện sự kế thừa khi thiết kế giáo trình gồm 3 phần: Phần 1: GDHN; Phần 2: Quản lí GDHN; Phần 3: Hỗ trợ quản lí GDHN [10]. Trong quản lý GDHN ở phần 2, tác giả có đề cập tới một nội dung về giáo viên mầm non trong GDHN, một trong những biện pháp đảm bảo đội ngũ giáo viên mầm non là phải tăng cường bồi dưỡng GDHN cho họ.
7 Tác giả Nguyễn Xuân Việt (2016) trong NC “Biện pháp QL GDHN TKT tại các trường MN trên địa bàn huyện Hòa Vang - thành phố Đà Nẵng” tại Trường Đại học Đà Nẵng. NC cho thấy GDHN là xu thế, là sự tất yếu. Huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng là một trong những địa phương có tỉ lệ người KT khá cao. Công tác GDHN cho TKT của huyện mặc dù trong những năm gần đây đã nhận được nhiều sự quan tâm của các lực lượng Bên cạnh những thành tựu đạt được, việc GDHN TKT ở các trường MN huyện Hoà Vang còn gặp rất nhiều khó khăn do thiếu cơ sở vật chất, đội ngũ GV có chuyên môn….
Luận văn cũng đã đề xuất các BP QL GDHN TKT tại các trường MN trên địa bàn huyện Hòa Vang - thành phố Đà Nẵng trong đó nhấn mạnh QL BDNL GVMN. Trong đó, giải pháp tăng cường bồi dưỡng nâng cao trình độ cho giáo viên mầm non về GDHN là một trong những biện pháp quan trọng được đề cập tới. Hai tác giả Nguyễn Hữu Chung và Nguyễn Trung Kiên (2020) cũng có bài NC về “Mô hình quản lí GDHN và kinh nghiệm ở Việt Nam”. Trong bối cảnh hội nhập GD quốc tế và toàn cầu hóa hiện nay, GDHN không thể tách riêng mà cũng phải hội nhập bắt buộc theo xu thế đó.
Vì vậy các rào cản ảnh hưởng đối với GDHN cần được loại bỏ. GDHN cho phép tất cả trẻ em được quyền đi học, đó là quyền của con người. Bài viết đưa ra mô hình quản lí GDHN ở Tây Ban Nha và đề xuất bài học kinh nghiệm ở Việt Nam. Quản lí GD đối với trẻ em đặc biệt cần dựa trên các điều kiện nguồn lực: cơ sở vật chất, nhân lực.
Do đó, kinh nghiệm của các nước trên thế giới đều đề cập tới việc tăng cường bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho giáo viên mầm non về GDHN là một trong những biện pháp quan trọng không thể thiếu. Tác giả Nguyễn Thị Như Quỳnh (2022) với NC “QL BDNL GDHN TKT cho GV trường MN” đã chỉ ra QL BD NL GDHN TKT cho GV trường MN là một trong những nhiệm vụ quan trọng nâng cao chất lượng chăm sóc GD trẻ của mỗi nhà trường nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới GD MN hiện nay. Cụ thể: Nhà QL cần có KH chỉ đạo, triển khai HĐ QL BD NL GDHN TKT cho GVMN một cách thường xuyên, liên tục; Quan tâm, tạo điều kiện cho giáo tự BD NL GDHN 8 TKT; Khuyến khích GV tích cực NC khoa học và sáng tạo, đặc biệt là việc đổi mới biện pháp GDHN TKT; Có chế độ khen thưởng, động viên kịp thời những GV thực hiện tốt. Như vậy, các tác giả cũng đã có những cái nhìn tổng quát về bồi dưỡng năng lực giáo dục hoà nhập cho giáo viên mầm non.
các NC đều cho rằng QL bồi dưỡng năng lực giáo dục hoà nhập cho giáo viên mầm non là công việc rất quan trọng của nhà QL trong công tác nâng cao chất lượng chăm sóc, GD trẻ, đồng thời nâng cao chất lượng của trường mầm non. Tác giả kế thừa những kết quả NC của những tác giả đi trước làm cơ sở cho vấn đề NC về QL bồi dưỡng năng lực giáo dục hoà nhập cho giáo viên mầm non. Một số khái niệm cơ bản 1. Giáo dục hoà nhập GDHN là phương thức GD cho mọi trẻ em, trong đó có trẻ có nhu cầu đặc biệt trong lớp học bình thường của trường phổ thông.
Hòa nhập không có nghĩa là xếp chỗ cho trẻ có nhu cầu đặc biệt vào lớp học bình thường trong trường lớp phổ thông và không phải tất cả mọi trẻ phải đạt trình độ hoàn toàn như nhau trong mục tiêu GD. GDHN đòi hỏi sự hỗ trợ cần thiết để mỗi trẻ phát triển hết khả năng của mình. Sự cần thiết được thể hiện trong việc điều chỉnh chương trình, các đồ dùng DH, dụng cụ hỗ trợ đặc biệt, các kỹ năng giảng dạy đặc thù. GDHN dựa trên quan điểm tích cực, ĐG đúng trẻ có nhu cầu đặc biệt và trẻ có nhu cầu đặc biệt được nhìn nhận như mọi trẻ em khác.
Theo quan điểm này thì mọi trẻ có nhu cầu đặc biệt đều có những NL nhất định. Chính từ sự nhìn nhận này mà trẻ có nhu cầu đặc biệt được coi là chủ thể chứ không phải là đối tượng thụ động của các tác động GD. Từ đó, người ta tập trung quan tâm, tìm kiếm những cái mà trẻ có nhu cầu đặc biệt có thể làm được. Trẻ em sẽ làm tốt khi những việc đó phù hợp với nhu cầu và NL của mình.
Trong GD, gia đình, xã hội và cộng đồng cần tạo ra sự hợp tác và hòa nhập với trẻ em trong mọi HĐ. Vì thế, trẻ em phải được học ở trường học gần nhà nhất, nơi trẻ em sinh ra và lớn lên. Trẻ em phải luôn được gần gũi gia đình, luôn được sưởi ấm bằng tình yêu 9 của cha mẹ, anh, chị và được cả cộng đồng đùm bọc, giúp đỡ. Trẻ có nhu cầu đặc biệt sẽ được học cùng một chương trình, cùng lớp, cùng trường với trẻ bình thường.
Và như mọi trẻ khác, trẻ có nhu cầu đặc biệt là trung tâm của quá trình GD. Các em được tham gia đầy đủ và bình đẳng trong mọi HĐ trong nhà trường và cộng đồng để thực hiện lý tưởng: “Trường học cho mọi trẻ em, trong một xã hội cho mọi người”. Chính lí tưởng đó đã tạo cho trẻ có nhu cầu đặc biệt niềm tin, tự trọng, ý chí vươn lên để đạt đến mức cao nhất mà NL của mình cho phép. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, chúng tôi sử dụng khái niệm GDHN theo quy định tại Luật Giáo dục 2019: “Giáo dục hòa nhập là phương thức giáo dục nhằm đáp ứng nhu cầu và khả năng khác nhau của người học; bảo đảm quyền học tập bình đẳng, chất lượng giáo dục, phù hợp với nhu cầu, đặc điểm và khả năng của người học; tôn trọng sự đa dạng, khác biệt của người học và không phân biệt đối xử” 1.
Năng lực giáo dục hoà nhập cho giáo viên mầm non - Bồi dưỡng BD là quá trình GD có KH nhằm tăng giá trị con người, làm biến đổi thái độ, kiến thức, kỹ năng thông qua việc thu thập, xử lý thông tin thực tế trong một HĐ hoặc chuỗi nhu cầu hành động nhằm nâng cao giá trị nhân cách, nâng cao năng suất và hiệu quả công việc.