Chương 1 LÝ LUẬN QUYỀN CON NGƢỜI VỀ MÔI TRƢỜNG 1. Khái niệm quyền con ngƣời về môi trƣờng 1. Lịch sử hình thành và phát triển của quyền con người Từ thời cổ đại, các nhà tư tưởng, các nhà chính trị đã đề cập rất nhiều đến việc bảo vệ các giá trị, nhân phẩm của con người. Chúng ta có thể dễ dàng tìm thấy tư tưởng này trong các văn bản pháp luật thời cổ đại thông qua các quy định nhằm bảo vệ các quyền của thần dân, chống lại và trừng phạt những hành vi xâm phạm đến quyền sống, quyền tự do thân thể, quyền sở hữu của con người.
Ví dụ, trong Bộ luật Hammurabi (khoảng năm 1780 TCN), một trong những bộ luật cổ nhất và tiêu biểu nhất thời kỳ cổ đại quy định những hình phạt vô cùng nghiêm khắc đối với tội vu khống người khác và các tội xâm phạm quyền sở hữu. Tương tự, trong các tác phẩm của các tôn giáo lớn trên thế giới như: Luận ngữ (đạo Nho), Kinh vệ đà của đạo Hin - đu, Kinh phật, Kinh thánh, Kinh Ko-ran. đều thể hiện tấm lòng từ bi, yêu thương con người, hướng con người tới lẽ phải, lòng vị tha, yêu thương đồng loại. Tư tưởng về quyền con người đã được hình thành từ rất sớm trong lịch sử nhân loại.
Tuy nhiên, quyền con người là “quyền tự nhiên” hay “quyền pháp lý” vẫn đang là vấn đề còn nhiều quan điểm khác nhau. Những người theo học thuyết về quyền tự nhiên cho rằng con người là một thực thể tự nhiên, là một loài động vật. Và theo lẽ tự nhiên, con người có quyền bảo vệ bản thân và tài sản của mình. Các quyền này là những gì bẩm sinh, vốn có mà mọi cá nhân sinh ra đều được hưởng.
Do vậy, các quyền này tồn tại không phụ thuộc vào phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa hay ý chí của bất cứ cá nhân, giai cấp, tầng lớp hay nhà nước nào. Không một chủ thể nào, kể cả nhà nước có thể ban phát hay tước bỏ các quyền tự nhiên này. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tiêu biểu cho trường phái quan điểm này là các nhà triết học Thomas Hobbes (1588 - 1679), John Locke (1632 - 1704), Thomas Paine (1731 - 1809). Ngược lại với thuyết tự nhiên, những người theo học thuyết quyền pháp lý cho rằng quyền con người không phải là những gì bẩm sinh, vốn có mà phải được nhà nước thừa nhận và quy định trong các quy phạm pháp luật (thành văn hoặc bất thành văn) hoặc xuất phát từ truyền thống văn hóa.
Điều này có nghĩa là quyền con người có thể bị giới hạn bởi ý chí của tầng lớp thống trị và các yếu tố văn hóa, xã hội nhất định của mỗi quốc gia. Như vậy, trái với quyền tự nhiên gắn với bản thân con người từ khi sinh ra hoặc thậm chí khi còn là một bào thai trong bụng mẹ, quyền pháp lý do pháp luật tạo ra. Một quyền hợp pháp có thể được tòa án bắt buộc phải thi hành nếu bị vi phạm. Tiêu biểu cho những người ủng hộ quan điểm về quy tắc pháp lý này là Edmund Burke (1729 - 1797), Jeremy Bentbam (1748-1832).
Tư tưởng về quyền con người thực sự trở thành vấn đề mang tính chất toàn cầu và dần được thể chế hóa toàn diện, có tính hệ thống vào pháp luật và đời sống chính trị quốc tế bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX khi các tổ chức quốc tế lớn ra đời như: Hội chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế (năm 1863), Hội Quốc Liên (1919), Tổ chức lao động Quốc tế (1919). Đặc biệt, sau khi Liên Hợp Quốc ra đời năm 1945 và ban hành Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 thì vấn đề quyền con người đã trở thành mục tiêu chung của cả nhân loại, là động lực đấu tranh của tất cả nhân dân trên thế giới. Trong Lời nói đầu của Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 có nhấn mạnh: “Việc thừa nhận phẩm giá vốn có, các quyền bình đẳng và không thể tách rời của mọi thành viên trong gia đình nhân loại là cơ sở cho tự do, công bằng và hòa bình trên thế giới” [14]. Thông qua Lời nói đầu của Tuyên ngôn, quyền con người được mặc 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhiên hiểu đó là các quyền tự nhiên, vốn có và không thể chuyển nhượng được của các cá nhân.
Tuyên ngôn không đưa ra định nghĩa về quyền con người mà đi thẳng vào nội hàm của quyền con người trong đó nêu ra những quyền chính trên cơ sở sự đồng thuận của đông đảo các quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc. Ở Việt Nam, đã có những định nghĩa về quyền con người do một số cơ quan nghiên cứu và chuyên gia từng nêu ra. Những định nghĩa này cũng không hoàn toàn giống nhau, nhưng xét chung, quyền con người được hiểu là “những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế” [13, tr. Luận văn cũng đồng tình với định nghĩa trên, theo đó có thể tiếp cận quyền con người dưới góc độ là những quyền tự nhiên nhưng phải được pháp luật ghi nhận và bảo vệ.
Quyền con người được coi là những chuẩn mực được cộng đồng quốc tế thừa nhận, tuân thủ và được áp dụng cho tất cả mọi người trên thế giới. Mối quan hệ và khái niệm quyền con người về môi trường Con người và môi trường có mối quan hệ chặt chẽ, có sự tác động qua lại lẫn nhau, với những nội dung như sau: Môi trường là nguồn cung cấp các thành tố cơ bản cho hoạt động sống của con người như: dưỡng khí, nước, protein và khoáng chất, đồng thời là nơi tiếp nhận các sản phẩm từ quá trình trao đổi chất trực tiếp của con người. Môi trường tự nhiên quy định cách thức tồn tại và phát triển của con người. Môi trường cũng cung cấp các nguồn lực kinh tế như đất, tài nguyên, nước, năng lượng.
để con người thực hiện các hoạt động sản xuất phục vụ cuộc sống, đồng thời là nơi tiếp nhận các phế thải kinh tế. Môi trường là nguồn thông tin và nguồn cảm hứng vô tận cho hoạt động nhận thức và sáng tạo nghệ thuật, đồng thời cũng là đối tượng của hoạt 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com động nghiên cứu và thẩm mỹ của con người. Đúng như Ủy ban Kinh tế và Xã hội của Liên Hợp Quốc đã nhận xét: “môi trường sinh lý cung cấp hàng hóa, các nguồn tài nguyên thiên nhiên, và các dịch vụ hệ sinh thái - tiếp nhận các chất thải từ các hoạt động kinh tế và sinh hoạt của con người, và đem lại sự sáng tạo cái đẹp cho loài người” [21, tr. Con người đóng vai trò là chủ thể chính của môi trường sống, tồn tại trong môi trường, sử dụng, khai thác và sử dụng các công cụ kỹ thuật, khoa học công nghệ tác động đến môi trường.
Con người lựa chọn, tạo dựng môi trường sống cho mình từ môi trường tự nhiên. Con người tác động vào môi trường tự nhiên theo cả hướng tích cực và tiêu cực. Sự tác động tích cực của con người vào môi trường tự nhiên được thể hiện qua việc tận dụng khai thác tài nguyên thiên nhiên, môi trường nhằm phục vụ cuộc sống của mình. Con người sử dụng môi trường để tạo ra lương thực thực phẩm và sử dụng các yếu tố khác để đảm bảo sự sống.
Đồng thời, con người biết lựa chọn cho mình không gian sống thích hợp nhất, từ chỗ lệ thuộc bị động đến cải tạo chinh phục tự nhiên. Con người cũng thực hiện các biện pháp để duy trì sự ổn định của môi trường, bảo vệ và tái tạo môi trường… Tuy nhiên, việc sử dụng, khai thác của con người vào môi trường tự nhiên gây ra những tác động tiêu cực khiến cho môi trường bị tàn phá, lúc đó con người sẽ luôn phải sống trong nguy cơ thiên tai, dịch bệnh, ô nhiễm, biến đổi khí hậu… Nhận thức cộng đồng thế giới về các mối liên kết giữa quyền con người và môi trường đã mở rộng đáng kể từ khi bảo vệ môi trường trở thành một vấn đề quan tâm của các quốc gia và cộng đồng quốc tế. Khoảng hai thập kỷ sau khi quyền con người xuất hiện trên chương trình nghị sự quốc tế, cộng đồng quốc tế đã thông qua đáng kể các công cụ pháp lý, thành lập các cơ quan chuyên ngành toàn cầu và cấp khu vực để xây dựng công cụ, kiểm soát và thúc đẩy việc thực hiện quyền con người với môi trường. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong việc đánh giá mối quan hệ giữa bảo vệ môi trường và đảm bảo quyền con người tồn tại ba cách hiểu: - Bảo vệ môi trường nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của con người có cùng giá trị xã hội với đảm bảo quyền con người; - Bảo vệ môi trường và đảm bảo quyền con người dựa trên giá trị xã hội khác nhau; - Đảm bảo quyền con người và bảo vệ môi trường là đại diện cho hai hướng khác nhau nhưng chồng lấn các giá trị xã hội.
Một mặt, các giá trị xã hội của bảo vệ môi trường và đảm bảo quyền con người có thể hỗ trợ lẫn nhau, nơi các giá trị môi trường cũng là giá trị hướng tới bảo vệ nhu cầu con người. Mặt khác, mặc dù quyền con người và bảo vệ môi trường tìm cách đạt được chất lượng bền vững cao nhất cho đời sống của con người, mục tiêu của chúng có thể khác nhau. Các mối quan tâm của pháp luật quyền con người bảo vệ cá nhân và các cộng đồng hiện tại, trong khi một trong các mục tiêu pháp luật môi trường là để duy trì cuộc sống trên toàn cầu bằng cách cân bằng nhu cầu và năng lực của hiện tại và tương lai. Đối với quyền con người, vấn đề khẩn cấp của sự sống quan trọng hơn an ninh sinh thái lâu dài.
Nói cách khác, hầu hết mọi người sẽ dành ưu tiên ngay lập tức cho nhu cầu cơ bản của con người, như thực phẩm, nước uống. hơn mối quan tâm trong dài hạn về môi trường. Tuy nhiên để bảo đảm được các điều kiện đó lâu dài thì môi trường sống cũng phải được bảo vệ ở mức cao nhất. Đây cũng là mục tiêu mà bảo vệ môi trường hướng tới.
Từ đây dẫn tới quan điểm rằng quyền con người và bảo vệ môi trường phụ thuộc lẫn nhau, bổ sung và không chia cắt.