Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Tiết kiệm năng lượng và Hệ thống quản lý năng lượng Chương 3: Giới thiệu Tiêu chuẩn ISO 50001 Chương 4: Xây dựng và triển khai hệ thống quản lý năng lượng theo tiêu chuẩn ISO 50001:2011 Chương 5:Kết luận Tài liệu tham khảo Chương 2: TIẾT KIỆM NĂNG LƯỢNG VÀ HỆ THỐNG QUẢN LÝ NĂNG LƯỢNG 2.1 Tiết kiệm năng lượng 2.1 Tại sao phải tiết kiệm năng lượng Năng lượng là nguồn động lực cho mọi hoạt động sản xuất, là nhu cầu thiết yếu trong sinh hoạt đời sống của con người, là yếu tố đảm bào phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia. Mặc dù vậy, việc thiếu hụt năng lượng vẫn đang xảy ra, vẫn là hiện tượng phổ biến khắp các nơi trên thế giới. Các quốc gia đã và đang đi tìm các giải pháp để có thể cung ứng năng lượng một cách tốt nhất và đáp ứng nhu cầu phát triển xã hội. Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là một trong những giải pháp mà xu hướng các quốc gia trên thế giới ngay nay tính đến.
Tiết kiệm năng lượng (Energy Saving), bảo tồn năng lượng (Energy Conservation) hay hiệu quả năng lượng (Energy Efficiency) là thuật ngữ thường được dung trong các tài liệu hiện nay, tuy có cách gọi khác nhau nhưng đều có chung ý nghĩa là sử dụng năng lượng hiệu quả. Cuộc khủng hoảng năng lượng đang trở nên hết sức cấp bách, không chỉ đe dọa đến tăng trưởng kinh tế thế giới, mà còn đe dọa trực tiếp hoà bình, an ninh quốc tế. Nguồn năng lượng hoá thạch, món quà cực kỳ quý báu của thiên nhiên ban tặng con người đang cạn kiệt. Các số liệu tìm kiếm, thăm dò và nhận định về trữ lượng dầu toàn cầu của Văn phòng Tổ chức kiểm soát năng lượng Anh (EWG) tại Đức cho biết, dưới lòng đất chỉ còn có khoảng 1.255 tỉ thùng, đủ để cho con người sử dụng trong 42 năm tới.
Với tốc độ khai thác như hiện nay, trong vòng 30 năm nữa nguồn dầu lửa dưới lòng đất không còn nhiều và 50 - 60 năm nữa sẽ hoàn toàn cạn kiệt. Theo đó, thế giới sẽ chỉ sản xuất được 39 triệu thùng dầu/ngày vào năm 2030 so với con số 81 triệu thùng/ngày như hiện nay. Trong khi đó, theo Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA), nhu cầu dầu lửa thế giới sẽ tăng đến 116 triệu thùng/ ngày vào năm 2030 so với 86 triệu thùng/ngày như hiện nay. Tức là vào thời điểm đó, thế giới chỉ được cung cấp chưa đến 1/3 nhu cầu dầu lửa.
Than đá và khí đốt cũng ở tình trạng tương tự. Theo ước tính của các chuyên gia, trữ lượng than đá và khí đốt tự nhiên chỉ còn khoảng 909 tỉ tấn và sẽ cạn kiệt trong 155 năm. Năng lượng chỉ có hạn, con người càng ngày càng sinh ra nhiều, nhu cầu năng lượng ngày càng lớn, nếu ko sử dụng tiết kiệm và nghiên cứu các giải pháp năng lượng mới, thì khủng hoảng năng lượng sẽ xảy ra.2 Tiết kiệm năng lượng là gì? Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là việc áp dụng các biện phá quản lý và kỹ thuật nhằm giảm tổn thất, giảm mứctiêu thụ năng lượng của phương tiện, thiết bị mà vẫn bảo đảm nhu cầu, mục tiêu đặt ra đối với quá trình sản xuất và đời sống 2.3 Tình hình sử dụng năng lượng Tổng quan về tình hình sử dụng năng lượng trên thế giới (cung – cầu): Thế giới đầu những năm của thế kỉ 21 đang đứng trước nhiều vấn đề cần phải đối mặt. Trong đó, vấn đề được xem là nóng bỏng nhất và thu hut sự quan tâm của các nhà khoa học cũng như chính phủ các quốc gia la sự ấm lên của trai đất và khủng hoảng năng lượng.
Theo dự báo cơ quan thông tin về năng lượng (EIA) vào năm 2004, trong vòng 24 năm kể từ năm 2001 đến 2025, mức tiêu thụ năng lượng trên toàn thế giới có thể tăng thêm 54%, ước tinh khoảng 404 nghìn triệu Btu(đơn vị nhiệt lượng) 2001 tới 623 năm 2025, mà nhu cầu chủ yếu rơi vào các quốc gia có nền kinh tế đang phát triển mạnh mẽ ví dụ như trung quốc hay ấn độ ở châu á. (n guồn IEA) Hiện nay, nhiều quốc gia đã và đang tìm cách sử dụng nhiên liệu hiệu quả hơn và tìm kiếm nhiều nguồn năng lượng thay thế, do vậy cường độ sử dụng năng lượng (energy intensity) dự kiến sẽ suy giảm với tốc độ nhanh, trong đó cường độ sử dụng dầu sẽ giảm nhanh hơn so với các nguồn năng lượng khác. Dự báo dài hạn của PFC Energy, trong vòng một thập kỷ tới, thế giới sẽ đạt sản lượng khai thác dầu cực đại vào khoảng 100 triệu thùng/ngày do những giới hạn tự nhiên về trữ lượng dầu khí. Trong bối cảnh đó, phần nhu cầu dầu mỏ tăng sẽ chủ yếu do năng lực sản xuất dự trữ của OPEC (hiện vào khoảng 4-5 triệu thùng/ngày) và Nga bù đắp.
Các phương án gia tăng sản lượng cho khối này hiện nay là phải gia tăng sản lượng các vùng nước sâu, dầu nặng, khí thiên nhiên lỏng (NGL) và nhiên liệu sinh học ở mức cao hơn độ suy giảm của sản lượng dầu truyền thống. Đây là những thách thức không nhỏ cả về công nghệ lẫn nguồn vốn đối với những nước như Việt Nam. Do khủng khoảng kinh tế chi phí tìm kiếm thăm dò bị cắt giảm, nhiều dự án bị đẩy lùi tiến độ do tính kinh tế và khó khăn trong tiếp cận vốn, nguồn cung có thể sẽ thiếu hụt nhẹ trong tương lai gần và kéo dài trong một thời gian. Thị trường khí hiện tại và trong tương lai, sẽ không có đủ nguồn cung đáp ứng nhu cầu năng lượng của châu Á – Thái Bình Dương.
Các thị trường khí phát triển nhanh là Trung Quốc, Ấn Độ, bên cạnh các nước nhập khẩu lớn là Nhật Bản và Hàn Quốc. Đến 2015, Việt Nam, Pakistan, New Zealand sẽ tham gia vào nhóm các nước nhập khẩu khí. Sau đó đến lượt Bangladesh, Philippines. Các nước xuất khẩu chính là Australia, Indonesia và Malaysia.
Chỉ có Papua New Guinea sẽ tham gia vào nhóm các nước xuất khẩu vào năm 2015, nhưng khả năng tiếp tục xuất khẩu đến 2030 (kể cả Malaysia) vẫn là một dấu hỏi. Trong khi đó trên quy mô toàn cầu nhu cầu khí trong nước của chính các nước xuất khẩu khí cũng đang tăng mạnh. Điều này sẽ làm giảm khả năng tăng nguồn cung trên quy mô toàn cầu. Như vậy thị trường nhập khẩu khí rất cạnh tranh và sẽ có tác động mạnh tới giá khí trong tương lai.
Liên quan tới lĩnh vực hạ nguồn, cùng với sự tăng trưởng của kinh tế, nhiều số liệu cho thấy nhu cầu sản phẩm dầu của khu vực châu Á – Thái Bình Dương có xu hướng tăng cao hơn các khu vực còn lại (châu Á đang chiếm tới 20% nhu cầu thế giới và dự kiến sẽ tăng lên 24% trong vòng 10 năm tới). Trong khi đó, năng lực lọc dầu của các công ty dầu khí quốc tế lại hạn chế ở khu vực này do những chính sách chưa hợp lý của các Quốc gia đang phát triển. Bên cạnh cơ hội này là thách thức do tính cạnh tranh trong khu vực rất gay gắt và rủi ro, do lợi nhuận bên trong lĩnh vực này thấp và nguy cơ bị thuế CO2 do xu hướng cộng đồng thế giới ngày càng quan tâm đến vấn đề biến đổi khí hậu. Theo tính toán của các nhà khoa học, ngày nay nhìn chung toàn cầu mới chỉ có khoảng 37% tổng mức cung cấp năng lượng sơ cấp được chuyển hóa thành năng lượng hữu ích.
2/3 năng lượng bị mất mát trong quá trình chuyển hóa, sử dụng. Khoảng 12 tỳ toe (tấn dầu tương đương) năng lượng sơ cấp được khai thác vào năm 2010 (hình 1), cung cấp cho thế giới khoảng 8 tỷ toe năng lượng tinh sơ cấp, trong đó chỉ có 4,5 tỷ (37%) trở thành năng lượng hữu ích sau quá trình chuyển hóa ở các thiết bị sử dụng năng lượng cuối cùng. Như vậy, khoảng 7,5 tỷ toe (tương đương 314*1012 GJ) bị mất đi hang năm, dưới dạng nhiệt năng ở nhiệt độ thấp và trung bình. [1] Nếu như tốc độ kinh tế toàn cầu sớm hồi phục và giữ mức 2,7%/năm, tốc độ tang trưởng nhu cầu năng lượng trung bình sẽ tang 1,7-1,9%/năm.
Điều đó có nghĩa là vào năm 2020, nhu cầu năng lượng sẽ tang so với những năm cuối thế kỷ 20 là từ 45-51% ( World Energy Assessment – IEA 2001). Với mức độ khai thác như hiện nay, các nguồn năng lượng hóa thạch có khả năng sẽ cạn kiệt trong khoảng 100 năm tới, trong đó nguồn dầu chỉ còn dung trong 40 năm, khí đốt còn khoảng 60 năm (bảng 1.1 Tình hình khai thác năng lượng hóa thạch trên thế giới Dầu Khí tự nhiên Than đá Uranium Trữ lượng đã chứng 1.020 tỷ m3 826 tỷ tấn 5,47 triệu minh thùng tấn Khai thác hàng năm 29,9 tỷ thùng 3,070 tỷ m3 7,08 tỷ tấn 44.000 tấn Thời gian còn khai thác 41,4 năm 60,3 năm 117 năm 132 năm được (Nguồn: BP Statistics- 2009; ECCJ – Energy Conservation Handbook 2009) Tiêu thụ năng lượng đóng góp từ 25-30% tổng phát thải khí CO2 trong hoạt động liênq liên quan đến năng lượng nói chung, chiếm 19-22% tổng phát thải CO2 do hoạt động của con người và 10-12% góp vào tổng lượng khí nhà kính làm biến đổi khí hậu của trái đất (Wiel 1998). Người ta hy vọng khoảng 15 năm tới, hiệu suất năng lượng có thể tang them 25-35% ở các nước phát triển và 40% ở các nước đang phát triển (World Energy Assessment 2001).3 Tổng cung cấp năng lượng toàn cầu 1971 – 2020 Tình hình sử dụng năng lượng ở trong nước: Theo tính toán quy hoạch phát triển năng lượng quốc gia, trong giai đoạn 2010- 2020 nước ta sẽ mất cân đối giữa khả năng cung cấp và nhu cầu sử dụng nguồn điện năng. Từ một nước xuất khẩu thành nước nhập khẩu năng lượng.4 Lượng tiêu thụ năng lượng của Việt Nam năm 2008 Trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, xây dựng dân dụng và giao thông vận tải tình trạng lãng phí điện là rất lớn.
Năng lượng tiêu hao cho một đơn vị sản phẩm ở nhiều ngành công nghiệp của Việt Nam cao hơn Thái Lan và Malaysia khoảng 1,5- 1,7 lần. Chỉ tính riêng các khu công nghiệp- khu chế xuất (KCN- KCX) ở thành phố Hồ Chí Minh thì lượng điện tiêu thụ chiếm gần 20% sản lượng điện tiêu thụ toàn thành phố. Có thể nói, lượng tiêu thụ điện ở KCN- KCX là khá lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến lượng điện năng của thành phố. Nguyên nhân chủ yếu là do trang thiết bị của các doanh nghiệp cũ kỹ làm tiêu hao năng lượng trong quá trình sản xuất.