Đặt vấn đề Dưa lê (Cucumis melo L.) thuộc họ bầu bí (Cucurbitaceae), là rau ăn quả có thời gian sinh trưởng ngắn, có thể trồng nhiều vụ trong năm và cho năng suất cao. Dưa lê có nguồn gốc từ Châu Phi, sau đó được trồng ở Ai Cập, Trung Quốc, Ấn Độ và ngày nay dưa lê được trồng ở nhiều nơi trên thế giới (Milne và milne1975). Dưa lê là loại quả có thể dùng để ăn tươi, làm salad, làm nước ép hoa quả., chất lượng quả, màu sắc, hình thái đa dạng. Trong quả dưa có chứa nhiều hàm lượng vitamin A, B, C và chất khoáng.
Khi chín trong quả có thành phần dinh dưỡng cao gồm nước chiếm 95%, đạm chiếm 0,6%, chất béo 0,11%, tinh bột 3,72%, chất xơ 0,33%, vitamin A (25000-30000 đơn vị), vitamin B 0,03 mg, vitamin C 1,5-2 mg và nhiều khoáng chất (P 30 mg, Ca 20 mg, Fe 0,4 mg) (theo Trần Khắc Thi và cs)[15]. Tuy nhiên, hiện nay người nông dân canh tác dưa lê gặp phải rất nhiều khó khăn mà lớn nhất là bệnh héo rũ do nấm Fusarium oxysporum mà chưa có biện pháp nào hữu hiệu nhất để phòng trị bệnh này. Nấm bệnh lưu tồn lâu trong đất dưới dạng bào tử nên có thể gây hại qua nhiều vụ (Phạm Văn Kim, 2000) [10]. Bệnh thường gây chết cây lúc vừa cho trái do đó gây tổn thất lớn cho sản xuất của nông dân (Tô Ngọc Dung, 2007) và rất khó phòng trị bằng thuốc hóa học (Burgess và ctv, 2009).
Ở nước ta trong những năm gần đây, vấn đề nghiên cứu và ứng dụng gốc ghép trong sản xuất rau phát triển khá mạnh mẽ đồng thời đã đạt được nhiều thành công khi đưa dưa hấu và cà chua ghép vào thực tế sản xuất. Tuy nhiên kết quả nghiên cứu về gốc ghép trên dưa Luan van 2 lê ở nước ta thì còn mới mẻ, đặc biệt trong điều kiện thời tiết biến đổi như hiện nay, bệnh đang gây thiệt hại nặng nề trên các vùng chuyên canh dưa lê. Việc sản xuất cây ghép đầu tiên bắt đầu ở Nhật Bản và Hàn Quốc vào cuối những năm 1920 trên cây dưa hấu (Citrullus lanatus Matsum. Et Nakai) được ghép vào gốc ghép bầu (Lee, 1994).
Ghép là một biện pháp làm tăng khả năng kháng bệnh héo rũ, nếu chọn được tổ hợp ghép phù hợp thì cây ghép sinh trưởng mạnh, cho năng suất và phẩm chất cao. Theo Lee (2003) [19] trồng rau ghép là một kĩ thuật tiên tiến ở nhiều nước Châu Á và Châu Âu. Hiện nay tỷ lệ trồng dưa lê ghép tại Hàn Quốc là trên 90 %, tại Nhật Bản là trên 80%. Để giải quyết những thực trạng như trên, chúng tôi tiến hành đề tài “Ảnh hưởng của gốc ghép đến sự sinh trưởng, năng suất và chất lượng dưa lê vụ Xuân - Hè năm 2020” được tiến hành nhằm mục đích xác định gốc ghép có khả năng sinh trưởng mạnh, cho năng suất cao và phẩm chất tốt.
Mục đích và yêu cầu 1.1 Mục đích: Lựa chọn được gốc ghép thích hợp nhất cho dưa lê sinh trưởng khỏe, phát triển tốt cho năng suất và chất lượng cao.2 Yêu cầu: - Nghiên cứu ảnh hưởng của gốc ghép đến sự sinh trưởng, phát triển của dưa lê vụ Xuân Hè năm 2020 tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. - Nghiên cứu ảnh hưởng của gốc ghép đến năng suất của dưa lê vụ Xuân Hè năm 2020 tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. - Đánh giá ảnh hưởng của sâu bệnh hại đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng dưa lê vụ Xuân Hè năm 2020 tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. - Đánh giá sơ bộ chất lượng dưa Lê Hàn quốc trên các công thức thí nghiệm.
Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài Luan van 3 1. Ý nghĩa khoa học - Đánh giá được ảnh hưởng của gốc ghép đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng dưa lê vụ Xuân Hè năm 2020 tại Thái Nguyên. Ý nghĩa thực tiễn - Nghiên cứu đánh giá được ảnh hưởng của gốc ghép đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng của dưa lê. - Lựa chọn được gốc ghép phù hợp cho dưa lê sinh trưởng, phát triển tốt cho năng suất cao.
Luan van 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học 2. Mối tương quan giữa gốc ghép và ngọn ghép Theo Phạm Văn Côn (2007) thông thường sức tiếp hợp giữa gốc ghép và ngọn ghép được đánh giá bằng tỷ số tiếp hợp (T): Là tỷ số của đường kính gốc ghép trên đường kính ngọn ghép. T=1: Cây ghép sinh trưởng, phát triển bình thường là do thế sinh trưởng của ngọn ghép tương đương thế sinh trưởng của gốc ghép, vị trí ghép cân đối, màu sắc và độ nứt của vỏ ngọn ghép và gốc ghép tương đương nhau, nhiều khi không nhận rõ vị trí giáp ranh giữa ngọn ghép và gốc ghép. T>1: Người ta thường gọi là hiện tượng chân voi, cây ghép vẫn sinh trưởng bình thường.
Tuy nhiên T càng gần 1 thì càng tốt hơn T xa 1. Thế sinh trưởng của ngọn ghép yếu hơn của gốc ghép, biểu hiện cây ghép hơi cằn cõi, chậm lớn, lá hơi vàng, phần gốc ghép vỏ nứt nhiều hơn phần cành ghép. T<1: Người ta thường gọi là hiện tượng chân nhang (gốc nhỏ hơn thân). Thế sinh trưởng của ngọn ghép mạnh hơn gốc ghép.
Phần ngọn ghép bị nứt vỏ nhiều và phình to hơn so với gốc ghép. Cây ghép thường sinh trưởng kém dần, tuổi thọ ngắn. Theo Lâm Ngọc Phương (2006) thì gốc ghép và ngọn ghép có thể ảnh hưởng với nhau theo nhiều cách, gốc ghép ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của thân ghép, sự ra hoa kết trái của các cây ghép, khả năng chống chịu trước những điều kiện bất lợi của môi trường (hạn hán, ngập úng, bệnh hại trong đất). Ngược lại ngọn ghép cũng ảnh hưởng đến gốc ghép, ngọn ghép cung cấp dinh dưỡng cho sự phát triển của bộ rễ của gốc ghép.
Vì vậy mức độ sinh trưởng của ngọn ghép có mối tương quan thuận đến sự phát triển của bộ rễ gốc ghép. Tuy nhiên ảnh hưởng của ngọn ghép đến gốc ghép ít được thể hiện Luan van 5 rõ rệt. Cây ghép có đường kính gốc lớn hơn, hệ thống rễ lớn hơn sẽ cho năng suất cao hơn so với các cây không ghép (Nina Kacjan Marsic và cộng sự, 2010). Tầm quan trọng của việc ghép dưa lê Ghép là một trong những phương pháp nhân giống vô tính được thực hiện bằng cách đem gắn một bộ phận của cây giống sang một gốc cây khác để tạo nên một cây mới mà vẫn giữ được đặc tính của giống ban đầu (Trịnh Thị Thu Hương, 2001) [6].
Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2003), ghép cành trên cây ăn trái là một phương pháp đem cành hay mầm nhánh cây mẹ có nhiều ưu điểm như phẩm chất tốt, năng suất cao… gắn sang một gốc cây khác để tạo thành một cá thể mới. Theo Osaka (1999) mục đích chính của việc ghép rau là tránh bệnh trong đất như Fusarium oxysporum trên họ bầu bí dưa và héo vi khuẩn ở họ cà. Gốc ghép càng khỏe, càng thích nghi với điều kiện khí hậu đất đai của địa phương thì cây ghép sinh trưởng càng tốt, sản lượng càng cao (Hồ Phương Quyên, 2008) [13]. Ưu điểm: Theo Trần Thị Ba và ctv.
(1999) trồng cây ghép sẽ ít bị bệnh héo rũ, đối với cây dưa có thể trồng liên tục nhiều năm trên một nền đất, sử dụng gốc ghép bầu có thể chống chịu được với tuyến trùng. Ghép dưa leo là biện pháp hữu hiệu và kinh tế nhất để có thể trồng dưa liên tục mỗi năm mà cây con không bị chết héo do nấm Fusarium tấn công (Phạm Hồng Cúc, 2002). Theo Marsic and Osvald (2004) trường hợp trồng dưa leo trong nhà kính, cây ghép cho số trái trên cây nhiều hơn so với cây không ghép. Theo Lee và cộng sự.
(2010) lợi ích của việc sử dụng gốc ghép dưa bầu bí: - Tăng cường sức sống cho cây trồng. Luan van 6 - Tăng năng suất trong điều kiện có sự hiện diện của các tác nhân gây bệnh trong đất. - Tăng khả năng chống chịu trước một số điều kiện bất lợi của môi trường. - Giúp cây trồng kháng lại các tác tác nhân gây bệnh trong đất.
Nhược điểm: Chủ yếu của ghép là cây tốn nhiều thời gian và công lao động, khó áp dụng rộng rãi (Trần Thị Ba và ctv. Dụng cụ ghép phải sạch, thao tác ghép phải nhanh gọn. Khi chăm sóc phải chú ý đến độ sâu khi trồng, chồi nách của gốc ghép,… nên việc canh tác phức tạp và tốn công nhiều hơn cây không ghép (Nguyễn Anh Vinh, 2008) [4]. Nguồn gốc, phân loại , đặc điểm thực vật học cây dưa lê 2.
Nguồn gốc của cây dưa lê Dưa lê (Cucumis melo) có nguồn gốc ở Châu Phi, nơi các giống hoang dã tìm thấy, tuy nhiên sự phân bố chính xác của các giống hoang dã không rõ ràng. Dưa lê được thuần dưỡng ở miền đông Địa Trung Hải, Trung Đông và Tây Á hơn 4000 năm trước. Tên dưa lê đã xuất hiện trong ngôn ngữ văn chương của nhiều dân tộc trên thế giới như: Ả Rập, tiếng Phạm, tiếng Tây Ban Nha. Theo nghiên cứu đa hình phân tử cho thấy các giống dưa lê Hàn Quốc có nguồn gốc từ hạt giống dưa hấu nhỏ ở Đông Ấn Độ (Kato và cộng sự, 2002), được du nhập vào Trung Quốc từ phía Tây của con đường tơ lụa nổi tiếng (Kitamura 1950).
Người ta cũng cho rằng các giống này có nguồn gốc từ dưa hoang dã ở Trung Quốc (Walters, 1989). Sau đó bắt đầu được trồng phổ biến ở Hàn Quốc và Nhật Bản, Triều Tiên (theo Lim T. Dưa lê được đưa đến Ấn Độ, Trung Quốc, Afganistan và phổ biến ở Tây Ban Nha vào thế kỉ thứ 15. Dưa lê được trồng ở Anh vào thế kỷ 17 và đến thế kỷ 18 được trồng ở Châu Mỹ.
Theo Kerje và Grum năm 2000 và nhiều nhà nghiên cứu khác cho rằng dưa lê là cây trồng nhiệt đới. Những đoàn khách lữ Luan van 7 hành đã mang dưa đến các vùng ấm áp của Châu Phi. Các thương gia Châu Phi đã mang hạt dưa đến bán ở nhiều vùng của Châu Mỹ. Ở nước ta lịch sử trồng dưa đã có từ rất lâu và được trồng rộng rãi cho đến ngày nay.
Phân loại dưa lê Dưa lê (Cucumis melo) thuộc: Bộ (Cucurbitales), họ (Cucurbitaceae), chi (Cucumis), loài (Cucumis melo L. Đã có rất nhiều tác giả tiến hành phân loại dưa lê trên nhiều quan điểm khác nhau. Theo Munger và Robinson (1991) sử dụng mô tả của Naudin (1959), Grebenscikove (1953), Pangalo (1929), Hammer và cộng sự (1986) nghiên cứu và sắp xếp các mẫu nguồn gen dưa lê vào 7 nhóm như sau [22]: 1.