Đặt vấn đề Thái Nguyên là một trong số các tỉnh có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sự phát triển của nhiều loại cây dược liệu bản địa có giá trị cao trong y học nói chung và cây Ba kích nói riêng. Tỉnh Thái Nguyên đã có định hướng quy hoạch phát triển vùng dược liệu nguyên liệu gắn liền với chế biến một cách hiệu quả trong giai đoạn tới, ưu tiên và tập trung vào bảo tồn và phát triển một số loài cây dược liệu quí bản địa và dần hình thành các vùng sản xuất với quy mô công nghiệp. Ba kích là loại cây dược liệu đem lại giá trị kinh tế cao cho người sản xuất. Do đó, diện tích trồng Ba kích của tỉnh đã tăng lên nhanh chóng trong thời gian vừa qua chủ yếu tại các huyện Đại Từ, Định Hóa, Phú Lương và Võ Nhai với tổng diện tích khoảng trên 200 ha.
Trong vài năm gần đây, khi cây Ba kích được trồng trên diện rộng với mức đầu tư thâm canh cao, đã xuất hiện một số loại sâu, bệnh hại. Trong đó, bệnh vàng lá thối rễ bắt đầu xuất hiện từ 2014 đã làm cho cây Ba kích từ 1 - 3 tuổi chết hàng loạt, gây khuyết mật độ, ảnh hưởng đến năng suất và thu nhập của người dân, cho đến nay vẫn chưa có chiều hướng giảm. Tính đến thời điểm hiện nay, diện tích Ba kích của cả tỉnh Thái Nguyên ước tính chỉ còn khoảng 91,5 ha (Theo Báo cáo của Viện Nghiên cứu Phát triển Nông Lâm nghiệp Miền núi, 2017). Diện tích bị nhiễm bệnh nặng đã phải thay thế bằng cây trồng khác.
Thực tế sản xuất đang gặp phải nhiều trở ngại về giống, kỹ thuật canh tác, đặc biệt là kỹ thuật bảo vệ thực vật. Việc nghiên cứu và xác định nguyên nhân gây bệnh vàng lá thối rễ Ba kích tại Thái Nguyên là cần thiết và cấp bách làm cơ sở khoa học để nghiên cứu và khuyến cáo được các giải pháp bước đầu trong quản lý tổng hợp sâu, bệnh hại Ba kích tại Thái Nguyên. Việt Nam là nước nằm trong khu vực Châu Á, thuộc khu vực nhiệt đới nóng ẩm mưa nhiều là điều kiện thuận lợi cho sâu bệnh phát triển mạnh mẽ. Áp dụng các biện pháp kỹ thuật trên đồng ruộng có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của bệnh Luan van 2 thối rễ trên cây Ba kích, nhất là các biện pháp về mật độ và lượng phân bón.
Việc xác định được, thời vụ, mật độ trồng và công thức phân bón hợp lý là điều kiện để cây Ba Kích sinh trưởng phát triển tốt, nâng cao năng suất và chống chịu sâu bệnh hại. Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và phân bón đến sinh trưởng và bệnh vàng lá thối rễ cây Ba kích tại Thái Nguyên”. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1. Mục tiêu nghiên cứu Xác định được mật độ trồng và lượng phân bón phù hợp tạo điều kiện cho cây Ba Kích sinh trưởng tốt, từ đó hạn chế tối đa mức độ gây hại của bệnh vàng lá thối rễ trên cây Ba Kích tại Thái Nguyên.
Yêu cầu nghiên cứu - Nghiên cứu mức độ gây hại của bệnh vàng lá, thối rễ Ba Kích trồng ở các mật độ và sử dụng phân bón khác nhau. - Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng của cây Ba Kích. - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng của cây Ba Kích. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa trong thực tiễn - Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở để xác định ảnh hưởng của mật độ và phân bón đến bệnh vàng lá, thối rễ trên cây Ba Kích. Từ đó đưa ra biện pháp phòng trừ bệnh vàng lá, thối rễ có hiệu quả. - Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo trong nghiên cứu cây Ba Kích. Ý nghĩa trong khoa học - Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học để xác định ảnh hưởng của mật độ và phân bón đến bệnh vàng thối rễ trên cây Ba kích.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo trong nghiên cứu cây Ba kích. Luan van 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học Biện pháp kỹ thuật trong canh tác cây trồng là yếu tố không thể thiếu để giúp cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt, chống chịu sâu bệnh hại và điều kiện ngoại cảnh bất thuận và cho năng suất cao. Sự sinh trưởng và phát triển của bất cứ cây trồng nào cũng không thể tách rời các điều kiện bên ngoài như nhiệt độ, nước, ánh sáng … Song cây trồng khác nhau thì tính thích ứng với điều kiện ngoại cảnh cũng khác nhau.
Vì vậy, thời vụ trồng thích hợp với từng vùng sinh thái, với từng loại cây trồng giúp cây có tỷ lệ nảy mầm cao, khả năng sống sót, sinh trưởng và phát triển tốt, tăng khả năng chống chịu sâu bệnh hoặc tránh được thời điểm dễ phát sinh sâu bệnh hại trong điều kiện khí hậu vùng đó. Mật độ trồng ảnh hưởng tới khoảng không gian mà cây trồng có thể sinh trưởng và phát triển; Với mỗi loại cây trồng khác nhau thì mật độ khác nhau. Mật độ trồng hợp lý thì cây có thể tận dụng tốt ánh sáng, dinh dưỡng để phát triển, chống chịu sâu bệnh mà vẫn đảm bảo cho năng suất cao. Bón phân cho cây là biện pháp cung cấp dinh dưỡng cho cây để cây phát triển, vì dinh dưỡng trong đất vốn có thường không đủ cho cây.
Bón đủ dinh dưỡng giúp cây phát triển cân đối và khỏe mạnh, bón thừa hoặc thiếu có thể làm cây phát triển kém hoặc quá tốt nhưng lại ảnh hưởng đến khả năng chống chịu và năng suất của cây. Vì vậy, xác định lượng phân bón phù hợp rất quan trọng. Cây trồng nói chung và cây Ba kích nói riêng sâu bệnh có thể phá hại tới tất cả các bộ phận của cây trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển, làm giảm năng suất, phẩm chất, thậm chí không cho thu hoạch. Việt Nam là nước nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa ẩm với kiểu khí hậu đặc trưng là nóng ẩm, mưa nhiều tạo điều kiện thuận lợi cho sâu, bệnh hại phát sinh phát triển.
Do đó, nghiên cứu về sâu bệnh hại trên cây trồng nói chung trên cây Ba kích nói riêng là vấn đề đang được rất nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu và tìm hiểu. Tình hình nghiên cứu về Ba Kích trong và ngoài nước 2. Tình hình nghiên cứu về cây ba kích trên thế giới Cây Ba kích tím (Morinda officinalis How) thuộc Chi Morinda, họ Rubiaceae. Chi Monrinda có vài chục loài khác nhau với phần lớn là những cây bụi, gỗ nhỏ hoặc dây leo, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới.
Đa số các loài thuộc chi này bắt nguồn từ Borneo, New Guinea, phía Bắc nước Úc và New Caledonia (Razafimandimbison và cộng sự, 2009) [13]. Ba kích tím có tác dụng làm tăng số lượng và chất lượng tinh trùng ở nam giới cũng như tăng cường sức dẻo dai, cải thiện hoạt động sinh dục, điều trị vô sinh cho những nam giới có trạng thái vô sinh tương đối và suy nhược thể lực (Cui và cộng sự, 2013; Li và cộng sự, 2015) [10,12]. Với những tác dụng y dược trên, Ba kích tím không chỉ được khai thác từ rừng tự nhiên mà còn được trồng ở một số tỉnh của ở Trung Quốc bằng cả phương pháp nuôi cấy mô và nhân hom giống. Ba kích là thực vật nhiệt đới, cận nhiệt đới, phân bố ở Quảng Đông, Hải Nam, phía nam Phúc Kiến, phía tây Quảng Tây…, miền Nam Việt Nam cũng có phân bố ba kích.
Thường sống ở cạnh bụi cây sườn đồi hoặc cạnh rừng ở độ cao 300 m so với mực nước biển. Nhiệt độ sống thích hợp: 20 - 25°C, lượng mưa 1.800 mm, đất phù hợp: đất đỏ thẫm và đỏ gạch. Sống rải rác trong các khu rừng mưa và rừng thường xanh gió mùa. Cây non thích hợp sống trong bóng mát, cây trưởng thành cần nhiều ánh sáng.
Chọn đất và đất trồng ba kích Đất vườn ươm thường chọn những nơi có độ dốc thoai thoải hoặc dưới sườn núi tương đối bằng phẳng. Loại bỏ cỏ dại và cây bụi, giữ lại cây rừng để giữ bóng mát, làm đất kỹ, để đất phong hóa hoàn toàn rồi mới vun thành luống Nên chọn đất dốc 20-30 độ, nên chọn đất hướng Nam hoặc Đông Nam dưới sườn núi rừng thưa nhiều ánh mặt trời, yêu cầu đất cát đỏ, vàng, tầng đất dầy màu mỡ, nhiều mùn, mới khai hoang. Không nên chọn đất mặt sườn phía Bắc, bởi vì hướng Bắc nhiệt độ khá thấp, dễ tổn thương, chết do sương giá, ảnh hưởng đến tỷ lệ sống. Mùa Đông làm đất, trừ cỏ dại và cây bụi, giữ lại cây rừng để bóng mát Luan van 5 khoảng 40-60%, làm đất sâu 40 cm, để qua Đông phong hóa hoàn toàn, mùa Xuân năm thứ hai, cày vỡ lại, làm ruộng bậc thang 0,8-1 m, đồng thời làm rãnh thoát nước.
Ở giữa ruộng bậc thang, cứ 0.5m đào một cái hố để bón phân xanh. Mật độ trồng ba kích Theo Wei Xijin và cộng sự (1992) [15] đã quan sát sự sinh trưởng và phát triển, so sánh sản lượng, hàm lượng tro và dịch chiết của ba kích ở giai đoạn 2- 4 năm tuổi và tiến hành đo sắc ký lớp mỏng. Thí nghiệm với các mật độ trồng 35 x 30 cm, 35 x 50 cm và 35 x 70 cm, kết quả cho thấy với khoảng cách 40 x 50cm, mật độ 2500 - 3500 cây/mẫu, sản lượng trên mỗi đơn vị diện tích tương đối thấp. Khoảng cách thích hợp nhất để trồng ba kích là 35 x 30 cm, hốc sâu 20 cm, mật độ 4000- 5000 cây/mẫu, không những không ảnh hưởng đến sinh trưởng và sản lượng của cây, mà còn tăng sản lượng trên mỗi đơn vị diện tích [15].
Nghiên cứu này đã thông qua giám định kỹ thuật quốc gia, góp phần tăng sản lượng ba kích khô từ 2-3 lần lên 268-354 kg trên mỗi mẫu [16]. Kết quả nghiên cứu của Lan Zikang về Kỹ thuật trồng ba kích cao sản (2010) [17], đánh luống ruộng bậc thang theo đường thủy bình, độ rộng khoảng 1m [17, 18]. Giữa luống cách 25-30 cm đào một hốc, sâu rộng khoảng 20 cm, nếu trồng trên đất bằng, khoảng cách giữa các hốc là 50 cm [17, 18]. Trong một vài nghiên cứu khác, cách 30-50 cm [19, 20], 70 x 50 cm [21] đào một hốc, mỗi hốc trồng 1-2 cây, nếu cây giống nhiều có thể trồng mỗi hốc 2 cây, tăng tỷ lệ cây sống.