MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đậu tương hay đỗ tương, đậu nành (tên khoa học Glycine max(L) Merril) là loại cây họ Đậu (Fabaceae), có tác dụng nhiều mặt trong đời sống xã hội như cung cấp thực phẩm cho con người, làm thức ăn cho gia súc, cải tạo đất và đem lại giá trị kinh tế cao. Hạt đậu tương là loại thực phẩm duy nhất mà giá trị của nó được đánh giá đồng thời cả prôtit và lipit. Hàm lượng prôtein trong hạt đậu tương cao hơn cả hàm lượng prôtein có trong cá, thịt và cao gấp 2 lần so với các loại đậu đỗ khác[17].
Trong hạt đậu tương có khá nhiều loại vitamin, đặc biệt là hàm lượng vitamin B1 và B2 ngoài ra còn có các loại vitamin PP, A, E, K, D, C,vv. Đặc biệt trong hạt đậu tương đang nảy mầm hàm lượng vitamin tăng lên nhiều, đặc biệt là vitamin C. Chính vì thành phần dinh dưỡng cao như vậy nên đậu tương có khả năng cung cấp năng lượng khá cao khoảng 4700 cal/kg (Nguyễn Danh Đông, 1982)[9]. Đậu tương là cây trồng dễ tính, có khả năng thích ứng rộng, không kén đất, bộ rễ có vi khuẩn cộng sinh có khả năng cố định đạm, tạo ra lượng đạm sinh học cung cấp cho cây và tăng độ phì đất.
Cây đậu tương là cây trồng dễ dàng tham gia vào các công thức luân canh như trồng xen, trồng gối, luân canh. Võ Nhai là một huyện miền núi phía đông bắc tỉnh Thái Nguyên, nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm, đất đai khá thuận lợi cho việc phát triến nông nghiệp. Đậu tương được huyện Võ Nhai đưa vào cơ cấu cây trồng xong hiệu quả chưa cao mà nguyên nhân được kể đến là việc hiểu biết áp dụng các biện pháp kĩ thuật của người dân còn nhiều hạn chế. Trong đó việc xác định Luan van 2 mật độ thích hợp là vấn đề khó, mà đây lại là yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển, năng suất và khả năng chống chịu của cây.
Giống đậu tương ĐT51 do Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Đậu đỗ- Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm chọn lọc từ tổ hợp lai giữa LS17 x DT2001. Giống được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận, cho sản xuất thử ở các tỉnh phía Bắc, theo quyết định số 218/QĐ-TT-CCN ngày 15 tháng 6 năm 2012. Theo đánh giá, ĐT51 có nhiều ưu điểm vượt trội như năng suất cao, có thể trồng được 3 vụ/năm, tỷ lệ quả 3 hạt đạt trên 30%, khả năng tổng hợp được lượng đạm từ khí trời cao hơn do hệ rễ có khối lượng nốt sần hữu hiệu cao hơn, khi thu hoạch mà thân, lá vẫn còn xanh nên hàm lượng chất hữu cơ nhiều hơn, khả năng bảo vệ và cải tạo đất tốt hơn. Vụ Hè Thu có thời gian chiếu sáng ngày dài, hoa đậu tương sẽ nở muộn, thời gian sinh trưởng kéo dài, cuối vụ mưa nhiều gây khó khăn gây khó khăn cho công tác phơi hạt, dễ bị mốc, cây cũng dễ đổ ngã, ảnh hưởng đến phẩm chất hạt (Lê Thiện Tùng, 2007) [6].
Xuất phát từ những lý do trên chúng ta tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng và năng suất giống đậu tương ĐT51 vụ Hè Thu năm 2017 tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên”. Mục đích Xác định được mật độ trồng thích hợp cho giống đâu tương ĐT51 sinh trưởng tốt, cho năng suất cao trong điều kiện canh tác vụ hè thu tại Thái Nguyên. Mục tiêu - Đánh giá một số đặc điểm nông sinh học của giống đậu tương ĐT51 ở các mật độ trồng khác nhau. - Đánh giá một số chỉ tiêu sinh lý của giống đậu tương ĐT51 ở các mật độ trồng khác nhau.
- Đánh giá mức độ nhiễm sâu bệnh hại và khả năng chống đổ của giống đậu tương ĐT51 ở các mật độ trồng khác nhau. - Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống đậu tương ĐT51 ở các mật độ trồng khác nhau. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Xác định cơ sở khoa học về mật độ trồng hợp lý cho giống đậu tương ĐT51 vụ hè thu tại huyện Võ Nhai- Thái Nguyên.
- Nghiên cứu trong đề tài là cơ sở cho nghiên cứu tiếp theo, là tài liệu tham khảo cho những người quan tâm đến đậu tương. Ý nghĩa thực tiễn - Bổ sung bộ giống mới cho canh tác đậu tương vụ hè thu tại Thái Nguyên - Kết quả nghiên cứu góp phần hoàn thiện thâm canh đậu tương nói chung và đất chuyên màu Võ Nhai- Thái Nguyên nói riêng. Luan van 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài.
Cơ sở khoa học của đề tài. Trong sản xuất nông nghiệp, mật độ có vai trò quan trọng góp phần nâng cao năng suất và sản lượng cây trồng. Khi tăng mật độ trồng cây thì khả năng sinh trưởng và năng suất của cây trồng tăng, đến một mức mật độ nào đó thì thì năng suất bắt đầu giảm dần. Muốn phát huy hiệu quả tối đa của mật độ giống cây trồng, cần tiến hành nghiên cứu đánh giá các mật độ để đưa ra mật độ mới thích hợp trước khi đưa ra sản suất đại trà.
Ngày nay sản xuất đậu tương muốn phát triển theo hướng hàng hóa với sản lượng cao, quy mô lớn nhằm phục vụ nhu cầu thị trường, cần có các biện pháp kỹ thuật hữu hiệu để nâng cao năng suất giống cây trồng và đảm bảo được khả năng chống chịu cao với điệu kiện ngoại cảnh và sâu bệnh. Đặc biệt với một số vùng thì việc sử dụng biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất sẽ góp phần phát huy hiệu quả kinh tế của giống, đồng thời góp phần xóa đói giảm nghèo. Mật độ trồng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng phát triển của cây đậu tương. Mật độ trồng đậu tương được xác định căn cứ vào giống, hệ thống luân canh, xen canh, điều kiện ngoại cảnh, đặc biệt là nhiệt độ, ánh sáng.
Bố trí mật độ trồng thích hợp, tạo điều kiện cho cây thích nghi với các yếu tố khí hậu thời tiết bên ngoài phù hợp để thúc đẩy quá trình sinh trưởng phát triển của cây đậu tương ở từng thời kỳ mới đảm bảo cho đậu tương được năng suất cao. Đề tài nghiên cứ ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng và phát triển của giống đậu tương ĐT51 tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên nhằm đánh giá một cách khách quan, kịp thời, có cơ sở khoa học về khả năng thích ứng, Luan van 5 khả năng sinh trưởng phát triển, khả năng chống chịu sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận cũng như tiềm năng cho năng suất của giống đậu tương. Cơ sở thực tiễn. Hiện nay nước ta vẫn là một nước nông nghiệp, chính vì vậy các loại cây trồng đóng vai trò đặc biệt quan trọng, trong đó cây đậu tương có những đóng góp rất lớn.
Miền Bắc nói chung và tỉnh Thái Nguyên nói riêng, diện tích trồng đậu tương còn ít trong khi diện tích bỏ hoang và trồng cây không có thu nhập kinh tế còn nhiều, năng suất đậu tương còn thấp do việc hiểu biết áp dụng các biện pháp kỹ thuật vào sản xuất của người dân còn nhiều hạn chế. Trong đó việc xác định mật độ gieo trồng trên mỗi chân đất với mỗi loại giống là vân đề khó, đây là yêu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển, năng suất và khả năng chống chịu của cây. Để đáp ứng nhu cầu đậu tương của thị trường và phát triển kinh tế địa phương việc đưa cây đậu tương và các biện pháp kỹ thuật canh tác để nâng cao năng suất vào sản xuất ở các vùng này là rất cần thiết. Tình hình sản xuất và tiêu thụ đậu tương trên thế giới và trong nước 2.
Tình hình sản xuất và tiêu thụ đậu tương trên thế giới Loài đậu nành hoang (Glycine ussuriensis/ Glycine soja) là tổ tiên hoang dại của Glycine max và được tìm thấy ở Triều Tiên, Taiwan, Nhật bản, thung lũng Yangtze của miền Trung Trung Quốc, các tỉnh miền Đông Bắc Trung Quốc, và các khu vực giáp giới nước Nga. Loài đậu nành (Glycine max) có nguồn gốc ở Trung Quốc, từ đó lan sang nhiều nước khác ở Châu Á như: Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên, Đông Nam Á, Ấn Độ. Đậu nành được trồng đầu tiên ở nửa phần phía đông của miền bắc Trung Quốc vào thế kỷ 11 trước công nguyên. Đậu tương là cây trồng ngắn ngày, có khả năng thích ứng rộng đồng thời có giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao nên trên thế giới có nhiều nước sản xuất Luan van 6 đậu tương.
Điển hình như : Mỹ, Argentina, Trung Quốc, Brazin, Ấn Độ. Sản lượng đậu tương của các nước này chiếm 90-95% tổng sản lượng trên thế giới. Cây đậu tương chiếm vị trí quan trọng hàng đầu trong 8 cây lấy dầu quan trọng của thế giới: đậu tương, bông, lạc, hướng dương, cải dầu, lanh, dừa và cọ dầu. Do vậy đậu tương được trồng phổ biển ở khắp nơi trên thế giới, nhưng tập trung nhiều nhất ở các nước châu Mỹ chiếm tới 73,0%, tiếp đó là các nước thuộc khu vực châu Á ( Trung Quốc, Ấn Độ) chiếm 23,15% [5].
Trong những năm 70, diện tích trồng đậu tương trên thế giới tăng ít nhất 2 lần so với nhưng cây lấy dầu khác. Trong các cây lấy dầu của thế giới sản lượng đậu tương tăng từ 32% năm 1965 tới 50% vào năm 1960. Ngược lại, sản lượng lạc giảm từ 18% xuống còn 11% trong cùng thời kỳ (Ngô Thế Dân và cs, 1999) [8]. Theo tổ chức nông lương thế giới FAO, tình hình sản xuất đậu tương năm 2016 tăng so với các năm trước được thể hiện qua bảng 2.1: Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu ha) (tạ/ ha) (triệu tấn) 2005 92,565 23,179 214,559 2010 102,846 25,763 264,959 2013 111,161 24,980 277,679 2014 117,549 26,076 306,519 2015 120,792 26,757 323,205 2016 121,532 27,556 334,894 (Nguồn: FAO statistic database,2018)[24] Luan van 7 Qua số liệu bảng 2.1 cho thấy: - Về diện tích: Những năm gần đây diện tích trồng đậu tương tăng không ngừng.
Năm 2005 thế giới trồng 92,565 triệu ha thì diện tích trồng đậu tương thế giới năm 2015 đã tăng lên 120,792 triệu ha, tăng 1,3 lần. Đến năm 2016 diện tích trồng đậu tương là 121,532 triệu ha. - Về năng suất: Năm 2005 năng suất đậu tương thế giới là 23,179 tạ/ha thì năng suất đậu tương thế giới năm 2015 đã tăng lên 26,757 tạ/ha, tăng 1,15 lần. Đến năm 2016 năng suất đậu tương là 27,556 tạ/ha.