TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng và ẩm, có nhiều yếu tố thuận lợi về điều kiện tự nhiên nên mang đến cho nước ta nguồn tài nguyên thực vật phong phú và đa dạng. Tính đến năm 2017 đã ghi nhận 5.117 loài thực vật và nấm, 408 loài động vật và 75 loại khoáng vật có công dụng làm thuốc ở Việt Nam, sưu tầm được gần 1.300 bài thuốc dân gian trong cả nước, nhằm hỗ trợ cho việc nghiên cứu phát triển sản phẩm phục vụ công tác phòng chữa bệnh cho nhân dân (Viện Dược liệu, 2017). Thị trường tiêu thụ và nhu cầu sản phẩm từ dược liệu của Việt Nam là rất lớn, mỗi năm cần khoảng 60. Hệ thống khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền phát triển rộng khắp từ trung ương đến địa phương, 226 cơ sở sản xuất dược liệu, thuốc cổ truyền, trong đó có 131 cơ sở sản xuất quy mô công nghiệp, 1440 cơ sở sản xuất thực phẩm chức năng.
Tuy nhiên, dược liệu trong nước mới chủ động được 25% nhu cầu, còn lại phải phụ thuộc vào nhập khẩu (Trần Bình Nguyên, 2020). Bên cạnh đó, nguồn tài nguyên dược liệu tự nhiên đang ngày một cạn kiệt (trên cả nước hiện chỉ còn khoảng 206 loài cây dược liệu có giá trị có thể khai thác tự nhiên), nhiều loài cây dược liệu quý hiếm đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng, cây dược liệu nuôi trồng đang có nguy cơ thu hẹp (Viện dược liệu, 2017). Bởi vậy, việc khai thác, bảo vệ, tái sinh, phát triển tài nguyên sinh vật nói chung và nguồn cây dược liệu nói riêng đang là vấn đề cấp bách được đặt lên hàng đầu. Nguyên Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đánh giá: “…y học cổ truyền là một kho báu và ngành dược liệu Việt Nam có tiềm năng phát triển rất to lớn.
Đây là thế mạnh của tất cả các địa phương, kể cả Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh,… có thể phát triển dược liệu ở mọi miền của Tổ quốc” (Bộ Y tế, 2017). Rau đắng đất [Glinus oppositifolius (L.] là cây thân thảo, thân và cành mảnh, mọc tỏa sát mặt đất. Theo Đông y, rau đắng đất có vị đắng, tính mát, có tác dụng lợi tiểu, nhuận gan, hạ nhiệt… trong nhân dân được dùng làm thuốc hạ sốt, dị ứng, mẩn ngứa, chữa bệnh về gan, vàng da… (Bộ Y tế, 2017; Đỗ Huy Bích & cs. Theo Y học hiện đại, rau đắng đất giúp chống oxy hóa, giảm đau dạ dày, đau bụng (Sheu & cs., 2014), kháng viêm và 1 tăng cường khả năng miễn dịch (Chakraborty & cs.
Hiện nay, một số hãng dược trong nước đã nghiên cứu sử dụng rau đắng đất làm nguyên liệu chính trong các sản phẩm dược như viên nang mềm Boganic của Traphaco, viên nén bao đường Bar của Pharmedic, Livonic của BV Pharma và chế biến một số sản phẩm nước uống đóng chai. Rau đắng đất là cây có nhiều giá trị và công dụng làm thuốc nên thời gian gần đây được người dân thu hái từ tự nhiên hoặc trồng quy mô nhỏ ở một số tỉnh phía Nam (Long An, Tây Ninh…), miền Trung (Phú Yên, Thanh Hóa…), Miền Bắc (Nam Định, Thái Bình…) cung cấp cho các cơ sở thu mua nguyên liệu. Tuy nhiên, biện pháp nhân giống rau đắng đất hiện nay hoàn toàn phụ thuộc vào tự nhiên, cây tái sinh chủ yếu từ hạt nhưng thời gian sống của hạt ngắn (Sulakshana & cs., 2018), tỷ lệ mọc mầm kém, thời gian mọc kéo dài và đặc biệt rau đắng đất ra hoa đậu quả thành từng đợt nên hạt chín rải rác, dẫn đến năng suất thu hạt thấp (Ninh Thị Phíp & cs. Bên cạnh công tác giống, các nghiên cứu về kỹ thuật canh tác cây rau đắng đất cũng còn nhiều hạn chế, do tình trạng khai thác chủ yếu từ tự nhiên hoặc nhiều nơi trồng tự phát với quy mô nhỏ, biện pháp kỹ thuật trồng, chăm sóc dựa vào kinh nghiệm, sử dụng giống, phân bón tùy tiện, thu hái dược liệu không tuân thủ theo mùa vụ và tuổi của cây… dẫn đến sản lượng bấp bênh, chất lượng không đảm bảo và giá cả biến động.
Hiện nay, có một số nghiên cứu khoa học về cây rau đắng đất, tuy nhiên những nghiên cứu chủ yếu tập trung vào thành phần hoạt chất và công dụng của cây mà chưa quan tâm tới các nghiên cứu hoặc nghiên cứu chưa đầy đủ về giống và biện pháp kỹ thuật canh tác. Để phát triển tạo nguồn nguyên liệu chất lượng cao, việc đẩy mạnh công tác nghiên cứu về giống, đa dạng các phương pháp nhân nuôi, hoàn thiện quy trình kỹ thuật canh tác là con đường tất yếu. Xuất phát từ những lý do trên, đề tài “Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhân giống và trồng rau đắng đất [Glinus oppositifolius (L.] tại Đồng bằng sông Hồng” đã được triển khai. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.
Mục tiêu tổng quát Xác định giống và quy trình kỹ thuật nhân, trồng cây rau đắng đất [Glinus oppositifolius (L.] góp phần phát triển vùng sản xuất nguyên liệu dược tại Đồng bằng sông Hồng. Mục tiêu cụ thể Nghiên cứu đánh giá nhằm tuyển chọn mẫu giống tốt phục vụ phát triển vùng sản xuất nguyên liệu dược tại Đồng bằng sông Hồng; Xác định một số biện pháp kỹ thuật nhân giống rau đắng đất (nhân giống bằng hạt, giâm cành và nuôi cấy in vitro); Xác định một số biện pháp kỹ thuật trồng (thời vụ, mật độ, phân bón, che sáng và thu hái); Xây dựng mô hình trồng cây rau đắng đất tại Hà Nội và Nam Định. PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1. Đối tƣợng nghiên cứu Cây rau đắng đất [Glinus oppositifolius (L.] thu thập tại 5 điểm thuộc 5 địa phương khác nhau (Hà Nội, Nam Định, Thái Bình, Phú Yên, Tây Ninh), trồng và nhân giống tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam.
Thời gian nghiên cứu Thời gian thực hiện đề tài: từ tháng 6 năm 2016 đến tháng 10 năm 2021. Thời gian theo dõi chu kỳ sinh trưởng của cây: 06 tháng/vụ. Địa điểm nghiên cứu - Các thí nghiệm trong phòng và ngoài đồng ruộng được thực hiện tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam (Khoa Nông học và các Viện, Trung tâm thuộc Học viện Nông nghiệp Việt Nam); - Kết quả phân tích mẫu đất thực hiện tại Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, kết quả phân tích chất lượng dược liệu thực hiện tại Khoa Công nghệ thực phẩm, Học viện Nông nghiệp Việt Nam và Trung tâm Ứng dụng Khoa học công nghệ Dược liệu, Viện Dược liệu. - Mô hình thực nghiệm tại huyện Gia Lâm, TP.
Hà Nội và huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN - Tuyển chọn mẫu giống RĐ3 [Glinus oppositifolius (L.] thu thập tại Nam Định có đặc điểm hình thái thân non màu lục nhạt, cây trưởng thành màu vàng lục, phiến lá màu xanh nhạt và kích thước lá lớn nhất (dài 2,33 cm; rộng 0,86 cm), cây sinh trưởng phát triển tốt, năng suất cao (2,45 tấn/ha), chất lượng đảm bảo (hoạt chất saponin tổng số đạt 2,67%, flavonoid tổng số là 3 1,85%), phù hợp sản xuất nguyên liệu dược tại Đồng bằng sông Hồng. - Xác định được một số biện pháp kỹ thuật nhân giống rau đắng đất bằng hạt cho tỷ lệ mọc mầm cao (90,1%) khi sử dụng hạt tươi, hạt mới thu hoạch. Đồng thời, xây dựng thành công quy trình nhân giống vô tính bằng biện pháp giâm cành (sử dụng cành bánh tẻ kết hợp chất điều tiết sinh trường trên nền giá thể ½ trấu hun + ½ mụn xơ dừa) và quy trình nuôi cấy in vitro (khử trùng mẫu bằng dung dịch Johnson 1% trong 10 phút, bổ sung 0,5 mg/l BA giai đoạn tạo đa chồi, kết hợp 0,5 mg/l BA + 0,5 mg/l α-NAA/IAA cho nhân nhanh, bổ sung 0,5 mg/l α-NAA ở giai đoạn tạo cây hoàn chỉnh và ra cây trên nền giá thể 100% mụn xơ dừa).
- Hoàn thiện quy trình kỹ thuật trồng cây rau đắng đất đạt hiệu quả kinh tế cao tại Đồng bằng sông Hồng. Xác định được thời vụ gieo trồng tốt nhất là vụ Xuân (14/2-28/2), mật độ trồng 15 cây/m2, trên nền phân bón 2 tấn phân vi sinh Sông Gianh + 90 kg N + 90 kg P 2O5 + 60 kg K2O/ha; Trồng vụ Hè Thu, thời vụ gieo trồng từ 15/7-30/7, kết hợp che sáng 25% trên nền phân bón: 2 tấn phân vi sinh Sông Gianh + 60 kg N + 90 kg P 2O5 + 60 kg K2O/ha, mật độ trồng 35 cây/m2. Sau 120 - 150 ngày gieo vào vụ Xuân tiến hành thu hoạch bộ phận trên mặt đất (loại bỏ rễ). Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.
Ý nghĩa khoa học - Kết quả nghiên cứu của đề tài là những dẫn liệu khoa học về xác định loài, giống rau đắng đất, xác định một số biện pháp kỹ thuật nhân giống, trồng rau đắng đất góp phần cải tiến quy trình trồng rau đắng đất cho năng suất và chất lượng cao. - Luận án là tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác giảng dạy, nghiên cứu về cây dược liệu nói chung và cây rau đắng đất nói riêng. Ý nghĩa thực tiễn Việc đánh giá một số đặc điểm nông sinh học, xác định được mẫu giống rau đắng đất tiềm năng, một số phương pháp nhân giống và biện pháp kỹ thuật canh tác cơ bản phù hợp cho cây rau đắng đất sinh trưởng phát triển tốt, năng suất, chất lượng cao trong điều kiện khí hậu vùng Đồng bằng sông Hồng sẽ góp phần vào việc hoàn thiện quy trình canh tác, mở rộng diện tích trồng rau đắng đất phục vụ sản xuất dược liệu chất lượng. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
GIỚI THIỆU VỀ CÂY RAU ĐẮNG ĐẤT 2. Vị trí phân loại Rau đắng đất có tên khoa học Glinus oppositifolius (L., hay còn được gọi là Mollugo oppositifolia (L.), thuộc chi Glinus, họ rau đắng (Molluginaceae), bộ cẩm chướng (Caryophyllales), Lớp ngọc lan (Magnoliopsida) (Võ Văn Chi, 2004). Đặc điểm thực vật và phân bố 2. Đặc điểm thực vật và phân bố chi Glinus Cây trong chi Glinus thường là cây hàng năm hoặc cây lâu năm, thường rạp xuống, lá không có lông hoặc lông xồm.
Lá có cuống ngắn, mọc đối hay mọc vòng, hình bầu dục, thuôn, hình trái xoan hoặc dạng bay, thường nguyên. Cụm hoa ở nách lá, thành bó ít hoa, có cuống. Các mảnh bao hoa thường không bằng nhau, có mép dạng vẩy, mặt ngoài màu xanh lục và mặt bụng màu trắng, hồng hoặc vàng. Nhị 3 - 30, rời hoặc hợp thành bó ở loài có nhiều nhị.
Bầu thượng, hình trái xoan hay thuôn, có 3 - 5 ô nhiều noãn. Đầu nhụy thẳng hay cong. Quả nang mở với 3 - 5 ô. Hạt nhỏ, nhiều, có mồng kéo dài quấn lấy hạt (Võ Văn Chi, 2004; Sukhorukov & cs.