CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC NỢ PHẢI TRẢ NGƯỜI BÁN TRONG KIỂM TOÁN BCTC 1. Những vấn đề lưu ý về kiểm toán BCTC 1. Khái niệm, phân loại về kiểm toán BCTC - Khái niệm: + Hiện nay định nghĩa được sử dụng rộng rãi được trích từ Arens và Cộng sự (2012) như sau: “Kiểm toán là quá trình thu thập và đánh giá bằng chứng về những thông tin được kiểm tra nhằm xác định và báo cáo về mức độ phù hợp giữa những thông tin đó với các chuẩn mực đã được thiếp lập. Quá trình kiểm toán phải được thực hiện bởi các kiểm toán viên đủ năng lực và độc lập.” + Theo Khoản 9 Điều 5, Luật kiểm toán độc lập thì có khái niệm như sau: “Kiểm toán báo cáo tài chính là việc kiểm toán viên hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa ra ý kiến về tính trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu của báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán theo quy định của chuẩn mực kiểm toán.” - Phân loại: tùy vào yêu cầu khác nhau đối với thông tin được kiểm toán mà được phân loại theo theo mục đích kiểm toán hay phân loại theo chủ thể kiểm toán.
Tuy nhiên để phù hợp với đề tài nghiên cứu tôi sẽ trình bày phân loại theo mục đích kiểm toán. Theo đó kiểm toán có ba loại, đó là: kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ, kiểm toán BCTC. Trong đó, kiểm toán BCTC là hoạt động chủ yếu, đặc trưng của hoạt động kiểm toán. SVTH: Trầ n Thị Anh Thư 5 Khóa luậ n tố t nghiệ p GVHD: TS.
Hồ Thị Thúy Nga 1. Mục tiêu của kiểm toán BCTC Theo Đoạn 03, VSA 200: “Mục đích của kiểm toán báo cáo tài chính là làm tăng độ tin cậy của người sử dụng đối với báo cáo tài chính, thông qua việc kiểm toán viên đưa ra ý kiến về việc liệu báo cáo tài chính có được lập, trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng hay không. Đối với hầu hết các khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính cho mục đích chung, kiểm toán viên phải đưa ra ý kiến về việc liệu báo cáo tài chính có được lập và trình bày trung thực và hợp lý, trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng hay không.” Có thể hiểu rằng mục tiêu đầu tiên của kiểm toán BCTC là để có thể đưa ra ý kiến trên BCKT, KTV cần thực hiện các thủ tục kiểm toán để đảm bảo một cách hợp lý rằng BCTC không còn chứa đựng các sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn gây ra. Mục tiêu thứ hai là việc KTV phải cung cấp thông tin các phát hiện của mình cho Ban giám đốc, Ban quản trị của đơn vị được kiểm toán.
Lưu ý KTV chỉ chịu trách nhiệm phát hiện sai sót trọng yếu chứ không chịu trách nhiệm phát hiện mọi sai sót trong BCTC. Phương pháp kiểm toán BCTC - Dựa vào quan hệ với đối tượng kiểm toán chia thành hai phương pháp: + Phương pháp kiểm toán chứng từ: là phương pháp kiểm toán dựa trên tài liệu áp dụng khi đối tượng kiểm toán là thực trạng tài chính đã được phản ánh trong tài liệu kế toán. Phương pháp kiểm toán chứng từ có thể là kiểm tra cân đối, đối chiếu trực tiếp, đối chiếu logic. + Phương pháp kiểm toán ngoài chứng từ: áp dụng khi đối tượng kiểm toán chưa được phản ánh hoặc phản ánh không trung thực trong tài liệu kế toán như kiểm kê, điều tra, thực nghiệm.
- Dựa vào hay không dựa vào hệ thống KSNB chia ra hai phương pháp kiểm toán: SVTH: Trầ n Thị Anh Thư 6 Khóa luậ n tố t nghiệ p GVHD: TS. Hồ Thị Thúy Nga + Phương pháp kiểm toán cơ bản: áp dụng trong trường hợp rủi ro kiểm soát cao hoặc việc thực hiện các thử nghiệm kiểm soát tốn nhiều chi phí. Phương pháp này sử dụng thủ tục phân tích thử nghiệm chi tiết. + Phương pháp kiểm toán tuân thủ: áp dụng trong trường hợp rủi ro kiểm soát thấp.
Phương pháp này sử dụng cả thử nghiệm kiểm soát và thử nghiệm cơ bản. Khái quát chung về khoản mục nợ phải trả người bán trong kiểm toán BCTC 1. Khái niệm khoản mục nợ phải trả người bán Theo Thông tư 200/2014/TT-BTC: “Phải trả người bán bao gồm các khoản phải trả mang tính chất thương mại phát sinh từ giao dịch mua hàng hóa, dịch vụ, tài sản và người bán (là đơn vị độc lập với người mua, gồm cả các khoản phải trả giữa công ty mẹ và công ty con, công ty liên doanh, liên kết). Khoản phải trả này gồm các khoản phải trả khi nhập khẩu thông qua người nhận ủy thác (trong giao dịch nhập khẩu ủy thác).
KSNB đối với khoản mục nợ phải trả người bán KSNB về nợ phải trả người bán cần được nghiên cứu trong mối quan hệ với các thủ tục kiểm soát khác trong chu trình mua hàng, phải trả và trả tiền. Căn cứ các sai phạm có thể xảy ra trong chu trình mà có thủ tục kiểm soát tương ứng. Đề nghị mua hàng Đối với HTK - Người yêu cầu: Thủ kho xem xét số dư HTK để viết phiếu yêu cầu mua hàng - Chương trình quản lý về HTK thường được sử dụng để tự động phát hành Phiếu yêu cầu mua hàng đạt đến mức đặt hàng tại thời điểm xác định - Trong hệ thống thủ công, Thủ kho có thể kiểm tra Sổ kho với định mức HTK để xác định yêu cầu mua hàng và viết Phiếu yêu cầu mua hàng cho chủng loại HTK đó - Việc mua HTK là nghiệp vụ thường xuyên xảy ra trong doanh nghiệp nên chỉ cần sự phê duyệt chung SVTH: Trầ n Thị Anh Thư 7 Khóa luậ n tố t nghiệ p GVHD: TS. Hồ Thị Thúy Nga Đối với yêu cầu mua sắm khác - Người yêu cầu: các bộ phận có nhu cầu viết Phiếu yêu cầu mua hàng và gửi chho cấp có thẩm quyền phê duyệt - Việc phê duyệt này thường là giới hạn bởi giá trị và chủng loại hàng hóa, dịch vụ, và được phê duyệt bởi những cấp chức năng khác nhau và mức phê chuẩn khác nhau + Phiếu yêu cầu mua hàng phải được đánh số thứ tự trước cho mỗi bộ phận yêu cầu mua hàng + Phiếu mua hàng thể hiện bằng chứng từ bắt đầu cho một chu trình mua hàng.
Lập đơn đặt hàng - Đơn đặt hàng phải được lập căn cứ trên Phiếu yêu cầu mua hàng đã được phê duyệt - Có chính sách lựa chọn nhà cung cấp rõ ràng và luôn hướng đến tiêu chí lựa chọn nhà cung cấp tốt nhất - Phân biệt chức năng yêu cầu mua hàng với chức năng lập Đơn đặt hàng - Đơn đặt hàng phải nêu rõ số lượng, chủng loại, quy cách hàng hóa, giá cả, phương thức vận chuyển, tên, địa chỉ nhà cung cấp,… - Đơn đặt hàng phải được đánh số thứ tự trước và được phê duyệt bởi người có thẩm quyền - Đơn đặt hàng phải được lập làm nhiều liên. Số lượng liên được lập tùy thuộc vào yêu cầu quản lý của đơn vị 1. Nhận hàng hóa - Bộ phận nhận hàng phải so sánh, đối chiếu hàng nhận được với Đơn đặt hàng về số lượng, chất lượng, quy cách hàng mua để kiểm nhận hàng - Bộ phận nhận hàng phải độc lập với bộ phận đặt hàng - Một liên của Phiếu nhận hàng phải gửi cho bộ phận kế toán để xác nhận và đối chiếu hàng nhận được làm căn cứ ghi sổ. SVTH: Trầ n Thị Anh Thư 8 Khóa luậ n tố t nghiệ p GVHD: TS.
Hồ Thị Thúy Nga - Có sự kiểm tra độc lập của một nhân viên về tính liên tục của Phiếu nhận hàng đê xác nhận hàng đã về và từ đó làm căn cứ ghi sổ các hóa đơn bán hàng của nhà cung cấp. Công việc này này thường giao cho kế toán công nợ hay kế toán HTK thực hiện. Lưu kho - Khi chuyển hàng vào kho, bộ phận giao hàng phải yêu cầu các bên ký vào Phiếu nhận hàng để giải trình hàng hóa nhận được - Trường hợp nhập kho, Thủ kho/ Bộ phận nhận hàng có thể lập PNK cho từng nghiệp vụ 1. Phê chuẩn hóa đơn của nhà cung cấp - Đánh số thứ tự các hóa đơn mua hàng để kiểm tra việc ghi sổ đầy đủ các hóa đơn - Kiểm tra sự khớp đúng giữa hóa đơn mua hàng và các chứng từ chứng minh như Đơn đặt hàng, PNK, Biên bản giao nhận hàng hóa, báo cáo nhận hàng - Xác định sự chính xác số học của hóa đơn mua hàng - Phê duyệt hóa đơn mua hàng để làm căn cứ thanh toán cho nhà cung cấp - Hàng ngày chuẩn bị danh sách các hóa đơn mua hàng được phê duyệt cho thanh toán 1.
Ghi sổ khoản phải trả - Tách biệt trách nhiệm ghi sổ chi tiết phải trả người bán với sổ Nhật ký - Có sự kiểm tra độc lập về sự khớp đúng giữa bảng kê khoản phải trả người bán với số đã ghi trên Nhật ký - Định kỳ đếm lại những báo cáo, phiếu nhận hàng và đơn đặt hàng đã đánh số thứ tự trước - Định kỳ nhà quản lý rà soát để so sánh số dư tài sản, phải trả và chi phí trên báo cáo với kế hoạch nhằm đảm bảo không xuất hiện trường hợp mua hàng khống. Nghiệp vụ thanh toán a. Thanh toán các khoản nợ người bán SVTH: Trầ n Thị Anh Thư 9 Khóa luậ n tố t nghiệ p GVHD: TS. Hồ Thị Thúy Nga - Phải có một người độc lập (Giám đốc, Kế toán trưởng, người có thẩm quyền) chịu trách nhiệm ký suyệt các tấm Séc (Phiếu chi, Uỷ nhiệm chi) và kiểm soát việc gửi Séc, chuyển khoản để tránh biển thủ hoặc sửa chữa - Trước khi ký duyệt phải kiểm tra sự khớp đúng giữa hóa đơn mua hàng đã được phê duyệt đúng đắn (số tiền, chi tiết người được thanh toán,…) - Hóa đơn mua hàng và các chứng từ khác phải được đóng dấu đã thanh toán để tránh thanh toán trùng lặp - Không nên phát hành Séc để trống - Đối chiếu các chứng từ với Bảng cân đối tiền hàng do nhà cung cấp gửi đến (nếu có) b.