MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Rừng là nguồn tài nguyên có giá trị to lớn không chỉ về mặt kinh tế mà còn về xã hội, khoa học, môi trường, quốc phòng an ninh,… Thế nhưng, trong giai đoạn từ năm 2000 trở về trước tài nguyên rừng của nước ta suy giảm đáng kể cả về số lượng và chất lượng. Do việc tăng lên về dân số và sự phát triển nhanh chóng của nền công nghiệp đã dẫn tới việc phá rừng, lạm dụng tài nguyên rừng một cách trầm trọng. Gây ra những hậu quả nghiêm trọng như: xói mòn, rửa trôi, cạn kiệt nguồn nước, phá hủy môi trường sống của động vật, mất đa dạng sinh học, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường,.
hàng loạt những hậu quả xấu diễn ra khi diện tích rừng bị giảm. Vai trò của việc trồng cây rừng ngày càng được quan tâm chú trọng, nhằm đáp ứng nhu cầu về gỗ, lâm sản ngoài gỗ và chức năng phòng hộ, cảnh quan điều hòa khí hậu,. Để tăng tỷ lệ che phủ đất trống đồi núi trọc, tạo thêm công ăn việc làm cho người dân sống ở miền núi, đặc biệt là đồng bào sống trong và gần rừng đồng thời đáp ứng được nhu cầu về gỗ cho ngành công nghiệp chế biến gỗ, thì việc trồng rừng bằng các loài cây có giá trị kinh tế cao và thời gian sinh trưởng nhanh là yêu cầu cấp bách hiện nay. Những năm gần đây đã được nhà nước quan tâm đến và cũng có chính sách hợp lý để đẩy mạnh công tác trồng rừng nhằm tăng diện tích và nâng cao các chức năng của rừng.
Diện tích rừng được trồng hiện nay chủ yếu là rừng sản xuất với mục đích kinh tế và những cây trồng chính là những cây có thời gian sinh trưởng ngắn như: Keo, Mỡ, Bạch đàn, Bồ đề,. Bên cạnh đó những cây đặc sản đa tác dụng như: Trám trắng, Trám đen, Trám ba cạnh, Dẻ, Quế,. được quan tâm chú trọng vì cho năng suất tốt, khả năng phòng hộ cao, nâng cao được chất lượng cuộc sống của người dân gần rừng 2 Với những đặc điểm như vậy, một trong những loài cây đáp ứng được mục tiêu của trồng rừng sản xuất của nước ta trong giai đoạn trước mắt cũng như lâu dài là cây Quế. Cây Quế là loại cây thân gỗ, sống lâu năm lá rộng, thường xanh.
Cây Quế thường mọc tự nhiên thành rừng và cũng được người dân gây trồng nhiều nơi ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta để lấy vỏ, và chế biến. Để có thể thực hiện được tốt việc đó thì việc đảm bảo nguồn giống phục vụ cho việc trồng rừng là hết sức cần thiết. Xuất phát từ thực tế trên tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Theo dõi quy trình gieo ươm và chăm sóc cây Quế (Cinnamomum Cassia) tại Vườn ươm Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên”. Mục tiêu, yêu cầu thực hiện 1.
Mục tiêu - Thực hiện và theo dõi quy trình gieo ươm cây Quế tại vườm ươm - Chăm sóc cây Quế tại vườn ươm - Góp phần nâng cao chất lượng giống cây Quế phục vụ trồng rừng.2 Yêu cầu thực hiện - Hệ thống lại kiến thức đã học và vận dụng vào thực tiễn sản xuất. - Làm quen với một số phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu đề tài cụ thể. - Học tập và tìm hiểu thêm kinh nghiệm về kĩ thuật được áp dụng trong thực tiễn tại địa bàn nghiên cứu - Rèn luyện kĩ năng làm việc, kỹ năng viết đề tài tốt nghiệp cho người thực hiện. - Xác định nguồn gốc hạt giống - Nắm bắt được các kĩ thuật gieo ươm cây Quế giai đoạn vườn ươm.
3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của cây Quế Quế (Cinnamomum Cassia), là vỏ của một loại cây xanh nhỏ thuộc gia đình Lauracées (giống như nguyệt quế/laurier), có nguồn gốc từ Tích Lan (Ceylan)- Sri Lanka hiện nay. Được biết đến từ thời cổ đại, có nghĩa là đã vào từ những ngày xưa xưa lắm… Quế được trồng đầu tiên ở Trung Quốc, và sau đó quế được “xâm nhập” vào châu âu theo “con đường tơ lụa”, và thời gian đó cây Quế được xem là một dược liệu hữu ích và được sử dụng chủ yếu để trong việc chế biến thuốc thang cũng như được dùng trong một số nghi thức tôn giáo. Quế vào thời gian đó có thể nói chỉ dành riêng cho những người giàu, rất giàu, vì giá thành quá mắc và kéo dài cho đến thời phục hưng mới được dân chủ hóa … sau đó chính thức có mặt trong các món ăn Pháp ở thế kỷ XVI.
- Đặc điểm hình thái Quế có lá đơn mọc cách hay gần đối lá có 3 gân gốc kéo dài đến tận đầu lá và nổi rõ ở mặt dưới của lá, các gân bên gần như song song, mặt trên của lá xanh bóng, mặt dưới lá xanh đậm, lá trưởng thành dài khoảng 18 – 20 cm, rộng khoảng 6 – 8 cm, cuống lá dài khoảng 1 cm. Quế có tán lá hình trứng, thường xanh quanh năm, thân cây tròn đều, vỏ ngoài màu xám, hơi nứt rạn theo chiều dọc.Trong các bộ phận của cây quế như vỏ, lá, hoa, gỗ, rễ đều có chứa tinh dầu, đặc biệt trong vỏ có hàm lượng tinh dầu cao nhất, có khi đạt đến 4 – 5%. Cây Quế khoảng 8 đến 10 tuổi thì bắt đầu ra hoa, hoa Quế mọc ở nách lá đầu cành, hoa tự chùm, nhỏ chỉ bằng nửa hạt gạo, vươn lên phía trên của lá, màu trắng hay phớt vàng. 4 Quế ra hoa vào tháng 4,5 và quả chín vào tháng 1,2 năm sau.
Quả Quế khi chưa chín có màu xanh, khi chín chuyển sang màu tím than, quả mọng trong chứa một hạt, quả dài 1 đến 1,2 cm, hạt hình bầu dục, 1 kg hạt quế có khoảng 2500 – 3000 hạt. Hạt quế có dầu nên khi gặp điều kiện nhiệt độ, ẩm độ cao hạt sẽ bị chảy dầu mất sức nảy mầm.Bộ rễ quế phát triển mạnh, rễ cọc cắm sâu vào lòng đất, rễ bàng lan rộng, đan chéo nhau vì vậy quế có khả năng sinh sống tốt trên các vùng đồi núi dốc Trịnh Xuân Vũ (1975) [11]. - Đặc điểm sinh thái Quế phân bố rộng, có thể sinh trưởng tốt cả ở miền Nam và miền Bắc Việt Nam. Tùy theo ở phía Nam hay phía Bắc mà quế có thể phân bố từ độ cao 200m (ở phía Bắc) cho đến 600 – 800m (ở phía Nam), nơi có khí hậu ôn hòa nhiệt độ từ 20 –290 C , độ ẩm không khí cao > 85% và chỉ số khô hạn thấp (< 0.3) và có lượng mưa hàng năm cao (2.
Cây Quế lúc nhỏ cần có bóng che thích hợp, ở 1 – 2 năm đầu cần độ tàn che 40 – 60% ánh sáng trực xạ. Khi lớn lên, mức độ chịu bóng giảm dần và mức độ ưa sáng ngày một tăng, đến năm thứ 3 – 4 thì cây quế hoàn toàn ưa sáng. Quế là cây rất mẫn cảm với nhiệt độ, ở tuổi vườn ươm quế chỉ chịu được nhiệt độ 40 – 450C, cây trên rừng khả năng chịu nhiệt của lá quế có khá hơn 45 – 480 C. Đặc điểm kém chịu nóng này có thể là nguyên nhân giới hạn vùng phân bố của quế.
Lượng tinh dầu của quế tập trung nhiều nhất ở vỏ. Vỏ quế ở Việt Nam có hàm lượng tinh dầu từ 2- 4% cao hơn quế trồng ở Trung Quốc, Srilanka và nhiều nước khác trên thế giới. Gỗ quế sử dụng để dùng đồ gia dụng và làm gỗ xây dựng. Vỏ quế còn được dùng làm dược liệu và gia vị.
Rừng quế sau 8-10 năm tuổi có thể cho 6000kg vỏ lấy từ thân và cành. Lá quế cũng có thể dùng để trưng cất tinh dầu cung cấp cho thị trường địa phương và xuất khẩu. Cây 5 quế cần đất tốt giàu mùn, đạm và kali. Đất có thành phần cơ giới giàu hạt sét, ít đá lẫn tầng dầy thấm nước nhanh, thoát nước tốt.
Cây quế sinh trưởng với tốc độ trung bình ở thời gian từ 1-5 tuổi và sinh trưởng nhanh từ 10-20 tuổi sau đó sinh trưởng chậm lại. 3 Ở giai đoạn non từ 1- 4 tuổi, cây quế cần độ tán che 0,5 - 0,7; nhưng nếu độ tán che quá lớn cũng ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng của cây. Từ 5-7 tuổi, yêu cầu ánh sáng của cây tăng lên và trở thành cây ưa sáng, nên nếu bị che bóng sẽ làm cho cây phát triển kém. Trong điều kiện tự nhiên, Quế thường tái sinh dưới tán rừng gỗ và mọc hỗn hợp với nhiều loài cây gỗ khác như mỡ, ràng ràng.
- Ưu điểm Cây con được Bộ NN & PTNT cho phép các nguồn giống ươm từ hạt được thông qua hình thức cải thiện và chọn lọc về giống có chất lượng về di truyền tốt nhất từ các vườn giống, rừng giống… Trong các loài cây lâm sản ngoài gỗ của rừng nhiệt đới nước ta cây quế có thể tổ chức sản xuất thành nguồn hàng lớn, ổn định lâu dài và có giá trị, nhất là giá trị xuất khẩu. Cây Quế là nguồn lợi kinh tế lớn và gắn liền với đời sống của nhân dân các dân tộc ít người nước ta như Dao (Yên Bái), Thái, Mường (Nghệ An, Thanh Hoá) Cà tu, Cà toong (Quảng Nam, Quảng Ngãi) Sản phẩm chính của cây quế là vỏ quế và tinh dầu quế được sử dụng nhiều trong công nghiệp y dược, công nghiệp chế biến thực phẩm, hương liệu và chăn nuôi. Xu hướng sử dụng các loại tinh dầu thực vật thay thế các hoá chất có ảnh hưởng đến sức khoẻ con người ngày một tăng rất có lợi cho người sản xuất quế, các địa phương có quế và xuất khẩu Quế. Ngoài lợi ích về mặt kinh tế, cây quế còn đóng góp vào bảo vệ môi trường sinh thái, làm tăng độ che phủ rừng, giữ đất, giữ nước ở các vùng đất đồi núi dốc, bảo tồn và phát triển sự đa dạng các nguồn gen quý cây bản địa.
6 Cây Quế còn đóng góp vào định canh định cư xoá đói giảm nghèo tạo thêm công ăn việc làm cho nông dân miền núi nước ta. Tiêu chuẩn đối với cây giống đạt chất lượng “có thể đưa ra trồng rừng” Hạt giống cây Quế phải được thu hái từ các cây mẹ trong các rừng giống hoặc rừng giống chuyển hóa đã được công nhận. Là nhóm loài cây có hệ số nhân giống cao, có thể tạo giống bằng gieo hạt nhưng dùng phương pháp nhân giống sinh dưỡng cho kết quả còn hạn chế Cây 2 tuổi có thể ra hoa kết quả, tuy nhiên để đảm bảo có được nguồn giống tốt cho trồng rừng chỉ thu hạt của những cây mẹ từ 6 tuổi trở lên ở rừng giống hoặc rừng giống chuyển hóa đã được công nhận.