PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài: Điều độ sản xuất là công tác cuối cùng trong quá trình lập kế hoạch trƣớc khi chính thức tiến hành sản xuất. Đây cũng là khâu đảm bảo đạt đƣợc tỷ lệ giao hàng đúng hạn mà doanh nghiệp đã đặt ra. Đối với một doanh nghiệp vừa và nhỏ tƣơng tự công ty cổ phần nội thất Đồng Minh thì công tác điều độ càng quan trọng hơn bao giờ hết.
Thứ nhất, công ty vừa đƣợc thành lập nên chƣa có một hệ thống dữ liệu thông tin doanh số bán hàng ổn định để phục vụ cho công tác hoạch định kế hoạch sản xuất, vì thế, điều độ cần đƣợc quan tâm nhằm đảm bảo thời gian giao hàng. Thứ hai, các đơn hàng của công ty thƣờng nhỏ lẻ, thời gian giao hàng gấp khiến cho việc điều độ gặp nhiều khó khăn. Thứ ba, nhà máy công ty vừa đƣợc thành lập nên hoạt động sản xuất chƣa đi vào ổn định và chƣa có hệ thống quy trình điều độ cũng nhƣ lập kế hoạch hoàn thiện dẫn tới các thông số cần cho công tác lập kế hoạch và điều độ dao động lớn, vì vậy công ty cần, hơn bao giờ hết, một quy trình điều độ thống nhất để đảm bảo tính tin cậy của các thông số cần thiết. Nhằm giải quyết vấn đề này, em tiến hành nghiên cứu để đề ra một quy trình điều độ phù hợp với doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua đề tài: “Xây dựng quy trình điều độ sản xuất sofa tại công ty cổ phần nội thất Đồng Minh”.
Mục tiêu nghiên cứu: Từ việc tìm hiểu thực tế điều độ đơn hàng của doanh nghiệp kết hợp với tìm hiểu các nghiên cứu học thuật để đề ra quy trình điều độ phù hợp cho doanh nghiệp. Phạm vi nghiên cứu: Số liệu sử dụng đƣợc thu thập trong giai đoạn 11/2016 – 4/2017 tại xƣởng mẫu Bình Dƣơng của công ty cổ phần nội thất Đồng Minh. Phƣơng pháp nghiên cứu: - Phƣơng pháp thu thập số liệu: Tiếp cận thực tế thu thập thông tin thông qua trao đổi trực tiếp với quản lý và công nhân sản xuất, nghiên cứu tài liệu huấn 1 do an luyện của công ty và các tài liệu liên quan. Sau đó, tiến hành nghiên cứu thời gian (time study) để thu thập số liệu thực tế tại phân xƣởng.
- Phân tích số liệu: Số liệu đƣợc phân loại và nhập vào phần mềm excel để tiến hành phân tích. Cấu trúc đề tài: Đề tài đƣợc phân tích qua các chƣơng sau: – Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết – Chƣơng 2: Giới thiệu doanh nghiệp – Chƣơng 3: Quy trình điều độ – Chƣơng 4: Kết luận. 2 do an PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Định nghĩa về quy trình Quy trình sản xuất là việc chia nhỏ hoạt động sản xuất thành những hoạt động riêng biệt, khác nhau.
Đó là quy trình biến vật tƣ thành sản phẩm thông qua một loạt các công đọan. Hay nói cách khác, quy trình sản xuất bao gồm nhiều công đọan khác nhau để tạo thành sản phẩm cuối cùng (Nguyễn Thị Thu Hằng và Đƣờng Võ Hùng, 2005) Quy trình ứng dụng trong hầu hết các hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong luận văn này, thể hiện một ứng dụng khác của quy trình là quy trình về hoạt động chức năng trong doanh nghiệp – quy trình điều độ sản xuất. Định nghĩa về điều độ Điều độ là việc xác định cụ thể thời điểm lao động, máy móc thiết bị và cơ sở vật chất cần để tiến hành sản xuất hoặc cung cấp dịch vụ (Russell và Taylor, 2011).
Điều độ sản xuất là toàn bộ các hoạt động xây dựng lịch trình sản xuất, điều phối, phân công lao động cho từng ngƣời,nhóm ngƣời lao động, cũng nhƣ từng máy móc thiết bị và sắp xếp thứ tự công việc ở mỗi nơi làm việc nhằm đảm bảo hoàn thành đúng tiến độ đã xác định trong lịch trình sản xuất (Trần Đức Lộc và Trần Văn Phùng, 2008). Từ các định nghĩa trên, ta có thể rút ra định nghĩa điều độ sản xuất (còn gọi là lập lịch trình sản xuất) là công tác xác định thời điểm và khối lƣợng của các nguồn lực cần thiết để sản xuất sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ để đáp ứng nhu cầu đã đặt ra. Vấn đề chủ yếu ở đây là khi có nhiều công việc khác nhau cần đƣợc gia công trong cùng một quá trình thì trên thực hiện công việc nào trƣớc mà vẫn đảm bảo thời gian giao hàng. Trong quá trình sản xuất cần tiến hành nhiều công việc khác nhau nên cần đòi hỏi sự điều hành, sắp xếp sao cho khoa học, hợp lí, chặt chẽ vào những lúc cao điểm và ngay cả những lúc rảnh rỗi.
Điều độ sản xuất có nhiều dạng mục tiêu khác nhau nhƣng nhằm mục tiêu đảm bảo các công việc đƣợc thực hiện với hiệu quả cao nhất, cụ thể là thời gian thực hiện nhanh nhất, ít tốn kém nhất, mang lợi nhuận cao nhất đồng thời giữ đƣợc mức độ phục vụ khách hàng tốt nhất. 3 do an Nhƣ vậy, điều độ sản xuất không chỉ ứng dụng trong ngành sản xuất mà còn trong cả các ngành dịch vụ. Điều độ đƣợc nhắc đến trong luận văn này đƣợc hiểu là điều độ trong sản xuất sản phẩm công nghiệp. Các bƣớc điều độ: Theo Russell và Taylor (2011), công tác điều độ sẽ bao gồm các hoạt động sau: 1.
Loading(Điều độ và đặt lộ trình) Là công tác kiểm tra sự sẵn sàng của nguyên vật liệu, máy móc, và nhân lực, bao gồm các công việc chủ yếu là xác định số lƣợng và khối lƣợng công việc, tổng thời gian phải hoàn thành tất cả các công việc, thời điểm bắt đầu và kết thúc của từng công việc, cũng nhƣ thứ tự thực hiện các công việc. Dự tính số lƣợng máy móc thiết bị, nguyên liệu và lao động cần thiết để hoàn thành khối lƣợng sản phẩm hoặc các công việc đã đƣa ra trong lịch trình sản xuất. Sequencing (Phát lệnh sản xuất) Là việc phát lệnh sản xuất đến các trạm và thứ tự sản xuất cho từng máy.Điều phối, phân giao công việc và thời gian phải hoàn thành trong những khoảng thời gian nhất định cho từng bộ phận, từng ngƣời từng máy. Sắp xếp thứ tự các công việc trên các máy và nơi làm việc nhằm giảm thiểu thời gian ngừng máy và chờ đợi trong quá trình chế biến sản phẩm.
Monitoring (Kiểm tra và xúc tiến) Là việc theo dõi, phát hiện những biến động ngoài dự kiến có nguy cơ dẫn đến không hoànthành lịch trình sản xuất hoặc những hoạt động lãng phí làm tăng chi phí, đẩy giá thành sảnphẩm lên cao, từ đó đề xuất những biện pháp điều chỉnh kịp thời. Các nguyên tắc điều độ: Theo Trần Đức Lộc và Trần Văn Phùng (2008), chúng ta có các nguyên tắc điều độ cơ bản sau: 1. Nguyên tắc điều độ trên một máy (một dây chuyền) Các nguyên tắc phổ biến nhƣ: - Đến trƣớc làm trƣớc (FCFS – First Come First Served); - Bố trí theo thời hạn hoàn thành sớm nhất (EDD - Earliest Due Date); 4 do an - Công việc có thời gian thực hiện ngắn nhất làm trƣớc (SPT – Shortest Processing Time); - Công việc có thời gian thực hiện dài nhất làm trƣớc (LPT – Longest Processing Time) Ngoài ra còn có các nguyên tắc khác nhƣ: Đến cuối làm trƣớc (LCFS – Last Come First Served); Khách hàng ƣu tiên (CUSTPR – highest customer priority); Thiết lập tƣơng đồng (SETUP – similar setup);. và các nguyên tắc này hoàn toàn có thể đƣợc sử dụng phối hợp với nhau.
Nguyên tắc điều độ Johnson - Điều độ trên 2 máy: Khi có n công việc đƣợc thực hiện trên hai máy, trong đó mỗi công việc đều phải thựchiện trên máy 1 trƣớc rồi mới chuyển sang máy 2 thì việc bố trí thứ tự thực hiện các công việccó ý nghĩa rất lớn đối với việc giảm thời gian ngừng máy trong quá trình sử dụng.Mục tiêu của bố trí thứ tự thực hiện công việc trên hai máy là phải làm sao cho tổngthời gian thực hiện các công việc đó là nhỏ nhất. Để xác định đƣợc phƣơng án tối ƣu ngƣời ta dùng phƣơng pháp Johnson. Phƣơng pháp này đƣợc tiến hành qua các bƣớc sau: Bƣớc 1: Liệt kê thời gian cần thiết thực hiện từng công việc trên từng máy; Bƣớc 2: Tìm công việc có thời gian thực hiện nhỏ nhất; Bƣớc 3: Sắp xếp công việc: nếu công việc vừa tìm đƣợc nằm trên máy 1 thì sắp xếp trƣớc, nếu công việc này nằm trên máy 2 thì đƣợc sắp xếp cuối cùng. Khi một công việc đã đƣợc sắp xếp rồi thì ta loại trừ nó đi, chỉ xét những công việc còn lại.
Bƣớc 4: Lặp lại bƣớc 2 và 3 cho đến khi tất cả các công việc đƣợc sắp xếp hết. - Điều độ trên 3 máy Sắp xếp thứ tự n công việc cho 3 máy có thể sử dụng nguyên tắc Johnson nếu có đủhai điều kiện sau: Thời gian ngắn nhất trên máy 1 phải lớn hơn hoặc bằng thời gian dài nhất trên máy 2; Thời gian ngắn nhất trên máy 3 phải lớn hơn hoặc bằng thời gian dài nhất trên máy 2.Và thực hiện điều độ nhƣ điều độ trên 2 máy. Phƣơng pháp tính toán định mức thời gian: 5 do an Theo Russell và Taylor (2011), các phƣơng tiện truyền thống để xác định ƣớc tính thời gian để thực hiện công việc là nghiên cứu thời gian (time study), trong đó ta sử dụng đồng hồ bấm giờ (stopwatch) để tính thời gian các yếu tố độc lập của một công việc. Những thứ yếu tố sau đó đƣợc tổng lại để có đƣợc thời gian ƣớc tính cho một công việc và sau đó điều chỉnh bởi đánh giá hiệu suất (performance rating) của ngƣời lao động và một dung sai cho sự chậm trễ không thể tránh khỏi, dẫn đến một thời gian chuẩn (standard time).
Các thời gian chuẩn là thời gian mà một công nhân "trung bình" yêu cầu thực hiện công việc một lần dƣới điều kiện và hoàn cảnh bình thƣờng.Đo lƣờng công việc (work measurement) và nghiên cứu thời gian đã đƣợc giới thiệu bởi Frederick W. Taylor vào cuốinhững năm 1880 và 1890. Một trong những mục tiêu của ông là xác định một phƣơng pháp đánh giá hiệu suất và tính toán tiền lƣơng công bằng, mà lúc đó thƣờng là vấn đề tranh cãi giữa quản lý và lao động. Hình thức thanh toán tiền lƣơng cơ bản là một hệ thống trả theo sản phẩm, trongđó ngƣời lao động đƣợc trả một mức lƣơng cho mỗi đơn vị sản phẩm tạo ra thay vì một mức lƣơng cố định theo giờ; công nhân sản xuất đƣợc nhiều hơn, thì họ kiếm đƣợc nhiều tiền hơn.
Vấn đề với hệ thống này vào thời điểm đó là không có cách nào để xác định tỷ lệ sản lƣợng "bình thƣờng" hay "công bằng".