ĐẶT VẤN ĐỀ Ô đầu, Phụ tử là những vị thuốc quý, được sử dụng khá phổ biến trong y - dược học cổ truyền phương Đông, nhất là ở Trung Quốc. Những vị thuốc này được lấy từ củ mẹ (củ cái, Ô đầu) và củ con (củ nhánh, Phụ tử) của một số loài thuộc chi Aconitum L. (Xuyên ô) đã được đưa vào Dược điển Trung Quốc (2005), Dược điển Hàn Quốc (2002) và trong nhiều tài liệu khác. Ô đầu và Phụ tử đều rất độc, Ô đầu chỉ dùng ngoài, Phụ tử được y học cổ truyền dùng trong nhưng nhất thiết phải chế biến nhằm giảm độc tính.
Phụ tử chế có tác dụng bổ dương, bổ hoả để trị dương hư, hoả hư; tác dụng hồi dương cứu nghịch để trị thoát dương, vong dương. Hải Thượng Lãn Ông coi vị thuốc Phụ tử là “thánh dược để hồi sinh”. Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy phương pháp chế biến khác nhau thì tác dụng và độc tính khác nhau. Ở Việt Nam, ngay từ những năm đầu của thập kỷ 70 thế kỷ trước, cây Ô đầu đã được nhập trồng tại vùng Sa Pa, Bắc Hà (tỉnh Lào Cai), Sìn Hồ (tỉnh Lai Châu) và Quản Bạ, Đồng Văn (tỉnh Hà Giang).
Trong chiến tranh biên giới phía Bắc (1979), cây thuốc này đã bị phá hủy nhiều. Từ năm 1990 trở lại đây, Ô đầu đã được người dân ở xung quanh thị trấn Sa Pa (Lào Cai) khôi phục và phát triển trồng trở lại. Song, phần lớn dược liệu Ô đầu và Phụ tử được sử dụng ở Việt Nam hiện nay vẫn là do nhập khẩu không chính thức từ Trung Quốc, không có tiêu chuẩn chất lượng nên không đảm bảo an toàn, gây tâm lý lo ngại trong giới thầy thuốc và nhân dân. Nhân dân Sa Pa và một số vùng trồng cây Ô đầu đã thu hoạch Phụ tử để chế biến làm thuốc theo kinh nghiệm, và coi đây là một vị thuốc quý, sử dụng để bồi bổ cơ thể, tăng cường thể lực và chữa đau lưng, đau nhức xương, khớp.
Tuy nhiên, quy trình chế biến không thống nhất và không kiểm tra độc tính nên sản phẩm không đảm bảo an toàn, thực tế đã có nhiều vụ ngộ độc 6 xảy ra. Các doanh nghiệp dược cũng gặp khó khăn khi đề cập đến việc sản xuất các thuốc có Phụ tử vì chưa có những công trình nghiên cứu đầy đủ về chế biến, tác dụng sinh học và độc tính của Phụ tử chế. Hơn nữa, quy trình chế biến được nêu trong các tài liệu y dược học cổ truyền sử dụng nguyên liệu là củ tươi ngay sau thu hoạch sẽ khó thực hiện nếu sản xuất ở quy mô lớn. Vậy, từ nguồn nguyên liệu quý trong nước, nghiên cứu chế biến như thế nào để có thể áp dụng được ở quy mô công nghiệp, thu được sản phẩm an toàn, hiệu quả làm nguyên liệu bào chế thuốc nhằm ứng dụng rộng rãi trong phòng và chữa bệnh là vấn đề cấp thiết cần được giải đáp.
Từ những lý do trên, đề tài: “Nghiên cứu xây dựng quy trình chế biến Hắc phụ, Bạch phụ và bào chế cao Phụ tử ở quy mô pilot” được tiến hành nghiên cứu với 2 mục tiêu sau: - Xây dựng được quy trình chế biến Hắc phụ, Bạch phụ và bào chế cao Phụ tử ổn định ở quy mô pilot an toàn làm nguyên liệu sản xuất thuốc. - Xây dựng được tiêu chuẩn cơ sở của Hắc phụ, Bạch phụ và cao Phụ tử. Để đạt được các mục tiêu trên, đề tài đã thực hiện các nội dung sau: 1. Xây dựng quy trình chế biến Hắc phụ, Bạch phụ và bào chế cao Phụ tử an toàn.
- Nghiên cứu chế biến Hắc phụ, Bạch phụ, bào chế cao Phụ tử. - Nghiên cứu hàm lượng alcaloid trong các mẫu nghiên cứu. Nghiên cứu tác dụng sinh học: - Thử độc tính cấp, độc tính bán trường diễn của Hắc phụ, Bạch phụ và cao Phụ tử. - Nghiên cứu tác dụng trên tim cô lập của Hắc phụ, Bạch phụ và cao Phụ tử.
Xây dựng Tiêu chuẩn cơ sở của Phụ tử, Hắc phụ, Bạch phụ và cao Phụ tử. THỰC VẬT HỌC CHI ACONITUM L. VÀ NGUỒN GỐC CÂY Ô ĐẦU TRỒNG Ở SA PA 1. Phân loại chi Aconitum L.
Chi Ô đầu (Aconitum L.) là một chi cây thuốc nổi tiếng, lần đầu tiên được nhà thực vật học Carl Linnaeus xác lập năm 1753. Theo các nhà hệ thống học thực vật gần đây như Takhtajan (1987), Cronquist (1981), Young (1982), chi Aconitum L. thuộc họ Hoàng liên (Ranunculaceae), bộ Hoàng liên (Ranunculales), phân lớp Hoàng liên (Ranunculidae), lớp Mộc lan (Magnoliopsida), ngành Mộc lan (Magnoliophyta) [1], [4], [43]. Đề cập về phân loại chi Aconitum L.
trên thế giới, dường như đã đạt được sự đồng thuận trong việc sắp xếp chi này thành 3 phân chi (subgenera) [41], [81], [130], [142] như sau: - Phân chi Aconitum L.: Cây thảo, sống hai năm [41], giả một năm [81], có rễ củ [41], [81]. Đài hoa không hoặc gần như không có móc; lá đài trên hình mũ, hình thuyền hoặc cong hình lưỡi liềm, hiếm khi hình trụ. Phiến cánh hoa có mô tiết ở đỉnh hoặc rìa; môi rõ hoặc không; cựa ngắn hoặc dài, hiếm khi vắng mặt. - Phân chi Lycoctonum (de Candolle) Petermann: Cây thảo, sống lâu năm, có thân rễ [41], [81].
Đài hoa không có móc; lá đài trên hình trụ hoặc hình mũ cao, hiếm khi hình thuyền. Phiến cánh hoa có mô tiết ở đỉnh, có cựa hình túi hoặc uốn cong; môi thường thẳng hoặc rất ngắn. - Phân chi Gymnaconitum (Stapf) Rapaics: Cây thảo, sống một năm [41], [81]. Lá chia 3 phần hình chân vịt.
Đài hoa có móc, lá đài trên hình thuyền. Cánh hoa không có cựa; môi rộng, hình quạt, rìa có răng. 8 Gần đây, Kadota (2001) bổ sung thêm phân chi thứ 4 là Tangutica (W.Wang) Kadota và loài mới A. Tuy nhiên, sau đó, một số tác giả khác đã xếp phân chi này là một nhóm (series) thuộc phân chi Aconitum L.
Tính đa dạng của chi Aconitum L. là một chi lớn, những năm gần đây không ngừng được bổ sung những loài mới [73], [74], [75], [142]. Trong cuốn “Trung Quốc cao đẳng thực vật đồ giám” (1972) [146], các nhà thực vật học đã mô tả 27 loài có ở Trung Quốc; Nhưng đến năm 1979, trong “Thực vật chí Trung Quốc” đã mô tả ở Trung Quốc có tới 162 loài [140]. “Thực vật chí Đài Loan” (1996) đã đề cập chi Aconitum L.
trên toàn thế giới có khoảng 300 loài, trong đó, ở Trung Quốc có 167 loài [126]. Trong khi đó “Thực vật chí Quảng Tây” (1991) ghi trên thế giới có 350 loài, Trung Quốc có 170 loài và ở Quảng Tây chỉ có 2 loài (A. sinomontanum Nakai và A. Năm 2000, “Thực vật chí Vân Nam” lại ghi ở Trung Quốc có 208 loài, ở Vân Nam có 66 loài và trong đó cũng có loài A.
Gần đây nhất (2001), bộ “Thực vật chí Trung Quốc” đã cho biết trên thế giới có 400 loài, phân bố chủ yếu ở vùng ôn đới Bắc Bán cầu và riêng ở Trung Quốc có tới 211 loài (trong đó có 166 loài đặc hữu) [81]. Nếu kể cả những taxon dưới loài thì ở Trung Quốc có tới 365 taxon khác nhau [66] và trên thế giới có 845 taxon [67]. Song, loài đặc hữu A. Taylor ở Himalaya hiện đã trở nên hiếm gặp, có nguy cơ bị tuyệt chủng [99].
Tuy nhiên, có một vài loài có thể do tác động của điều kiện môi trường (khí hậu, thổ nhưỡng…) có đặc điểm hình thái bên ngoài hơi khác nhau, nhưng qua nghiên cứu về mặt di truyền học, các nhà khoa học đã xếp gộp lại với nhau. Fletcher & Lauener và A. Nguồn gốc cây Ô đầu trồng ở Sa Pa – Lào Cai hiện nay Cây Ô đầu trồng ở Việt Nam hiện nay có xuất xứ nhập nội từ hai nguồn: Nguồn thứ nhất do ngành y tế chính thức nhập giống từ Trung Quốc [2], được trồng đầu tiên ở Sa Pa từ những năm đầu của thập kỷ 70 của thế kỷ trước, còn được trồng ở Bắc Hà (tỉnh Lào Cai), Sìn Hồ (tỉnh Lai Châu). Nguồn thứ hai do cộng đồng người Hoa ở huyện Quản Bạ và Đồng Văn (tỉnh Hà Giang) tự động nhập giống Ô đầu từ bên kia biên giới về trồng ở vườn gia đình và nương rẫy [2].
Có tài liệu cho rằng cây Ô đầu Việt Nam mọc hoang ở vùng cao tỉnh Lào Cai, Hà Giang, Nghĩa Lộ [8], [9], [19]. Tuy nhiên, một số tác giả khác cho rằng chỉ có ở thung lũng Tà Cố Y thuộc xã Chế Cu Nha, huyện Mù Cang Chải, tỉnh Nghĩa Lộ (cũ) có cây Ô đầu mọc trong trạng thái hoang dại. Thực chất những cây này trước đó vốn được nhân dân trồng, khi người dân bỏ đi, cây trở nên hoang dại hoá [2]. Về tên khoa học của cây Ô đầu ở Việt Nam, theo một số tài liệu hiện có, cây được ghi nhận bởi hai tên là A.
Dược điển Việt Nam III nêu cả hai loài trên trong hai chuyên luận “Ô đầu” (A.) và “Phụ tử” (A. THÀNH PHẦN HOÁ HỌC CỦA CHI ACONITUM L. VÀ MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP KIỂM ĐỊNH ALCALOID CỦA CHI NÀY 1. Thành phần hoá học chi Aconitum L.
Đến nay, đã có tới hàng trăm công trình nghiên cứu về thành phần hoá học của trên 96 loài thuộc chi Aconitum L. Thành phần hoá học chính 10 trong chi Aconitum L. là alcaloid, flavonoid, polysaccharid, ngoài ra còn có một số chất thuộc nhóm glycosid, sterol, acid hữu cơ,… [41], [42], [139]. Alcaloid Các nhà nghiên cứu trên thế giới đã xác định được thành phần có hoạt tính sinh học mạnh nhưng độc tính cao thuộc nhóm alcaloid, trong đó được quan tâm nhiều nhất là các alcaloid diterpenoid.
Một số tác giả đã phân lập được một số alcaloid thuộc các nhóm khác, đặc biệt là 1-benzyl- tetrahydroisoquinolin và aporphin là những alcaloid có hoạt tính sinh học mạnh [41]. Alcaloid diterpenoid Alcaloid diterpenoid là các alcaloid có độc tính cao và đặc trưng của chi Aconitum L. Căn cứ vào cấu trúc của khung diterpenoid, nhiều tác giả đã chia các alcaloid này thành 2 khung chính: Khung C19-diterpenoid alcaloid và C20-diterpenoid alcaloid [32], [38], [41], [149]. Gần đây, một số tác giả bổ sung thêm 2 khung ít gặp hơn: Khung C18-diterpenoid alcaloid [83], [136] (gồm 2 nhóm: Lappaconin và Ranaconin [142]) và khung Bisditerpenoid alcaloid [53], [142].
Cấu trúc chung của khung C18-, C19- và C20-diterpenoid alcaloid được nêu ở Hình 1. Khung diterpenoid alcaloid Aconitum Nếu căn cứ vào số liên kết ester vào khung diterpenoid, các alcaloid này lại được chia thành 3 nhóm [32]: 11 - Nhóm diester alcaloid: Trong phân tử có 2 nhóm ester liên kết vào khung diterpenoid, nhóm này có độc tính cao và có tác dụng giảm đau mạnh (aconitin, mesaconitin,. - Nhóm monoester alcaloid: Có 1 nhóm ester liên kết vào khung diterpenoid, có độc tính thấp hơn, có tác dụng giảm đau, chống viêm và chống động kinh mạnh (benzoylaconin, benzoylmesaconin,.