Đặt vấn đề Trong những năm gần đây, chăn nuôi lợn giữ một vị trí quan trọng trong ngành nông nghiệp của Việt Nam. Con lợn được xếp hàng đầu trong số các vật nuôi cung cấp một lượng lớn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, mang lại thu nhập cho người chăn nuôi, góp phần vào ổn định đời sống người dân. Cùng với xu hướng phát triển của xã hội thì chăn nuôi lợn đang chuyển dần từ loại hình chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ sang chăn nuôi tập trung trang trại, từ đó góp phần cho ngành chăn nuôi lợn đạt được bước phát triển không ngừng cả về số lượng và chất lượng. Trong năm 2019, ngành chăn nuôi lợn đã phải đối mặt với bệnh dịch tả lợn Châu Phi xuất hiện và lan rộng.
Sau khi ổ dịch đầu tiên được phát hiện tại miền Bắc từ tháng 2 đến tháng 9 dịch bệnh đã lan rộng khắp 63 tỉnh, thành phố. Theo tổng cục thống kê, tổng đàn lợn cả nước đang sụt giảm mạnh, do đó sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng trong năm 2019 cũng giảm sâu so với năm 2018. Tại thời điểm tháng 12/2019, tổng đàn lợn của cả nước là 24.202 con, giảm 11,5%, trong đó đàn nái là trên 2.7 triệu con, giảm so với năm 2018 là 31,8%. Tại thời điểm 01/10/2018, tổng đàn nái cụ kỵ, ông bà của cả nước là 129.642 con, hiện nay (12/2019) tổng đàn nái cụ kỵ, ông bà của cả nước là 109.826 con, giảm 9,6% so với năm 2018.
Với số lượng đàn nái như trên sẽ hoàn toàn chủ động được nguồn cung con giống cho việc tái đàn lợn. Sản lượng thịt lợn trong quý IV/2019 giảm nhiều do tháng 5 và tháng 6/2019 là tháng cao điểm của bệnh dịch tả lợn Châu Phi, lợn bị tiêu hủy nhiều (nhất là tháng 5 đã có trên 1,2 triệu con bị tiêu hủy), thay thế đàn lợn rất ít dẫn đến nguồn cung cấp các tháng cuối quý IV thiếu hụt cùng với diễn m 2 biến thị trường quốc tế phức tạp đã khiến giá thịt lợn tăng cao và nhanh trong những tháng cuối của quý IV/2019. Dự kiến sản lượng thịt lợn năm 2019 đạt gần 3,3 triệu tấn giảm 13,8%. Tình hình chăn nuôi lợn của nước ta 9 tháng đầu năm 2020.
Dịch tả lợn châu Phi cơ bản được kiểm soát, đàn lợn đang dần khôi phục nhưng việc tái đàn vẫn còn chậm, giá lợn giống liên tục ở mức cao kể từ đầu năm (khoảng 2,5 - 3,0 triệu đồng/con) nên việc tái đàn chủ yếu tập trung ở các cơ sở chăn nuôi lớn. Ước tính tổng số lợn của cả nước tháng 9/2020 tăng khoảng 3,6% so với cùng thời điểm năm 2019, sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng 9 tháng ước tính đạt 2.483,1 nghìn tấn, giảm 3,2% so với cùng kỳ năm 2019 đạt 846,2 nghìn tấn, tăng 9,7%. Trước xu thế đó, phát triển chăn nuôi lợn nái là một trong những khâu quan trọng góp phần quyết định đến sự thành công của chăn nuôi lợn. Đặc biệt là trong việc chăn nuôi lợn nái để có đàn con nuôi thịt sinh trưởng và phát triển tốt, cho tỷ lệ nạc cao, đảm bảo an toàn dịch bệnh.
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y - Trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên, cùng với sự giúp đỡ của giảng viên hướng dẫn và cơ sở thực tập, em thực hiện chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trang trại công ty Ngôi Sao Hy Vọng. Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 1.1 Mục đích - Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại lợn công ty Ngôi Sao Hy Vọng Thị trấn Ba Hàng Thị xã Phổ Yên Tỉnh Thái Nguyên. - Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn con nuôi tại trại. m 3 - Xác định tình hình nhiễm bệnh, cách phòng trị bệnh cho lợn con nuôi tại trại.2 Yêu cầu - Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại trại lợn công ty Ngôi Sao Hy Vọng Thị trấn Ba Hàng Thị xã Phổ Yên Tỉnh Thái Nguyên - Áp dụng được các quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn con nuôi tại trại đạt hiệu quả cao.
- Xác định được tình hình nhiễm bệnh, biết cách phòng trị bệnh cho lợn con nuôi tại trại. Chăm chỉ, chịu khó học hỏi để nâng cao kiến thức tay nghề của bản thân. m 4 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2.
Điều kiện tự nhiên 2. Vị trí địa lý Công ty Ngôi Sao Hy Vọng tổ dân phố đầu cầu, phường Ba Hàng, thị xã Phổ Yên, Thái Nguyên. Phường Ba Hàng nằm trên quốc lộ 3, cách 26 km về phía nam thành phố Thái Nguyên và cách 56 km về phía bắc thủ đô Hà Nội, có vị trí địa lý: - Phía đông giáp với huyện Phú Bình - Phía tây giáp với Thành phố Thái Nguyên - Phía bắc giáp với Thành phố Sông Công Phường Ba Hàng có diện tích 4,45 km2, dân số năm 2014 là 10.139 người, mật độ dân số đạt 2.278 người/km2. Ngoài quốc lộ 3, phường Ba Hàng cũng nằm gần các tỉnh lộ và huyện lộ nối thị xã với huyện Phú Bình.
Phường Ba Hàng trước đây vốn là thị trấn Ba Hàng, thị trấn huyện lỵ huyện Phổ Yên, được thành lập vào ngày 9 tháng 9 năm 1972 Ngày 15 tháng 5 năm 2015, Ủy ban Thường vụ quốc hội thông qua nghị quyết về việc thành lập thị xã Phổ Yên thuộc tỉnh Thái Nguyên. Theo đó, thành lập phường Ba Hàng thuộc thị xã Phổ Yên trên cơ sở toàn bộ 183,15 ha và 7.661 người của thị trấn Ba Hàng; 261,38 ha và 2.478 người của xã Đồng Tiến. Phường Ba Hàng có 444,53 ha diện tích tự nhiên và 10. Với diện tích đất rộng,và đây cũng là dịa điểm thuận lợi để giao lưu buôn bán với các xã, huyện bên cạnh.
Điều kiện khí hậu Khí hậu là một yếu tố rất quan trọng nó quyết định đến sự phát triển trong ngành nông nghiệp nói chung và ngành chăn nuôi nói riêng. Nhiệt độ không khí của khu vực có nét đặc trưng sau: cực đại trung bình năm đạt 20,5oC, cực tiểu đạt 3,2oC. Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có nét đặc trưng nóng ẩm mưa nhiều về mùa hè, hanh khô kéo dài và lạnh về mùa đông. - Nhiệt độ trung bình 23 - 240C, lượng mưa trung bình 1.
Nhiệt lượng bức xạ mặt trời khá lớn khoảng 1.765 giờ nắng một năm 2. Cơ cấu tổ chức tại trại Cơ cấu của trại được tổ chức như sau: - 01 quản lý. - 01 kỹ thuật trại - 01 công nhân - 02 sinh viên thực tập. Mỗi một khâu trong quy trình chăn nuôi, đều được phân công và dưới sự hướng dẫn của kỹ thuật trại.
Cơ sở vật chất tại trại Trại có tổng diện tích là: 2,5 ha Trại nằm trong khuôn viên của công ty khi đi vào trại phải qua 2 phòng thay đồ và thay ủng.Trước cửa phòng có máy phun sát trùng tự động. Và qua phải đi qua 3 hố vôi. - Đất trồng cây ăn quả. - Ao, hồ chứa nước và nuôi cá.
- Đất xây dựng hệ thống xử lí nước thải. m 6 - Đất xây dựng khu nhà điều hành, khu nhà ở cho công nhân, bếp ăn, các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại. Kho để đồ phế liệu. Khu chăn nuôi xung quanh có hàng rào bao bọc và có cổng vào.
Chuồng trại được quy hoạch bố trí xây dựng phù hợp với hướng chăn nuôi công nghiệp, hệ thống chuồng nuôi lồng, nền sàn bê tông cho lợn nái, lợn đực, sàn nhựa cho lợn con cùng với hệ thống vòi nước tự động và máng ăn. Chuồng nuôi được xây dựng đảm bảo đủ cho 250 nái, 1 khu nái chửa (4 dãy có 150 ô, 3 dãy nái nuôi con, 4 ô lợn đực), 1 chuồng cách ly cùng một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như: Kho thức ăn, phòng sát trùng, phòng pha tinh,. + Dãy nái bầu Có sức chứa tối đa là 100 con. Các ô trong chuồng đều có vòi uống nước tự động cao 50 - 55cm.
Chuồng có hệ thống ống dẫn nước dọc hai bên dãy chuồng để thuận tiện phục vụ cho công việc vệ sinh, rửa máng, xịt gầm. + Dãy nái hậu bị Có sức chứa tối đa là 100 con. Các ô trong chuồng đều có vòi uống nước tự động cao 50-55cm. Chuồng có hệ thống ống dẫn nước dọc hai bên dãy chuồng để thuận tiện phục vụ cho công việc vệ sinh, rửa máng, xịt gầm.
+ Dãy nái nuôi con Có sức chứa tối đa là 20 con. Đầu chuồng có hệ thống dàn mát và 6 quạt ở cuối chuồng. Sàn cho lợn mẹ là sàn bê tông còn toàn bộ sàn cho lợn con là sàn nhựa, sàn cao hơn so với nền chuồng. Mỗi ô đều có vòi uống tự động cho cả lợn mẹ và lợn con, có hệ thống máng tập ăn cho lợn con được lắp vào lúc 5 ngày tuổi.
Có hệ thống ống dẫn nước dọc hành lang hai bên để phục vụ cho công việc vệ sinh, xịt gầm. m 7 + Dãy chuồng đực gồm 4 ô ở đầu chuồng. Mỗi ô chuồng có hệ thống nước tự động và máng ăn.Có hệ thống dẫn nước dọc hai bên để phục vụ cho công việc tắm lợn vệ sinh. Trại gồm 4 khu chính: Khu nhà ăn, ở cho công nhân; khu nhà để cám và kho thuốc; khu để dụng cụ chăn nuôi; khu chăn nuôi còn lại là vườn và ao hồ bao quanh trại.
Trại có quy mô đàn là 130 đầu nái, 2 lợn đực. Được phân ra thành các khu khác nhau cho mỗi loại lợn khác nhau, trang trại được xây dựng với 3 khu chuồng nối liền nhau. Khu chuồng nái chửa là nơi chăm sóc nuôi dưỡng những lợn nái đang mang thai, khu chuồng đẻ là nơi chứa lợn sắp đẻ từ chuồng nái chửa chuyển xuống là nơi mà lợn nái thực hiện quá trình đẻ, khu còn lại là khu vực chuồng dành cho lợn hậu bị mới nhập về và lợn nái loại thải. Khu chuồng nái chửa gồm 4 dãy dành cho lợn nái mang thai và là chuồng có diện tích lớn nhất, cách sắp xếp lợn trong chuồng đối với những lợn nái mang thai ở các giai đoạn khác nhau được xếp vào những dãy khác nhau, lợn đực phục vụ việc lấy tinh phối giống được xếp ở dãy trong cùng gần khu vực lấy tinh, lợn nái cai sữa về được đưa về nơi chờ phối trong chuồng bầu nhằm thuận tiện cho việc kiểm tra lên giống.