Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong xu thế phát triển của ngành chăn nuôi hiện đại tại Việt Nam, mô hình chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán dần được thay thế bằng hệ thống trang trại tập trung quy mô lớn, vận hành theo quy trình khép kín nhằm nâng cao năng suất và đáp ứng nhu cầu thị trường. Việc nhập nội các giống lợn ngoại có phẩm chất di truyền cao như Yorkshire, Landrace và Duroc là giải pháp quan trọng để cải thiện năng suất đàn giống trong nước. Tuy nhiên, sự khác biệt về khí hậu, thời tiết và điều kiện dinh dưỡng khiến đàn lợn nái ngoại dễ mắc các bệnh lý truyền nhiễm và sản khoa. Trong đó, hội chứng viêm tử cung – âm đạo là một trong những nguyên nhân trực tiếp làm giảm năng suất sinh sản, dẫn đến các bệnh lý kế phát như sát nhau, viêm vú, mất sữa (hội chứng MMA), chậm sinh, vô sinh hoặc bại liệt sau đẻ, gây thiệt hại kinh tế nghiêm trọng cho cơ sở chăn nuôi.
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hoàng Thị Hương được thực hiện nhằm giải quyết các vấn đề kỹ thuật và bệnh học sinh sản phát sinh trong thực tế chăn nuôi lợn nái ngoại tại địa phương, với mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể được xác định như sau:
Mục tiêu nghiên cứu:
- Đánh giá tình hình chăn nuôi chung tại trang trại lợn nái Nguyễn Đức Binh, xã Ba Trại, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
- Áp dụng và hoàn thiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái sinh sản theo từng giai đoạn sinh lý.
- Xác định tình hình mắc bệnh sinh sản, phương thức phòng và điều trị một số bệnh lý sản khoa phổ biến trên đàn nái.
- Đánh giá hiệu lực và độ an toàn của một số phác đồ điều trị các bệnh sản khoa chính (viêm tử cung, viêm vú, bại liệt sau đẻ) nhằm giảm thiểu mầm bệnh và tổn thất kinh tế.
Yêu cầu và nhiệm vụ thực hiện:
- Điều tra, thống kê tỷ lệ lợn nái mắc các bệnh sinh sản tại cơ sở.
- Trực tiếp theo dõi, chẩn đoán lâm sàng và can thiệp điều trị kịp thời, hiệu quả các bệnh lý trên đàn lợn nái ngoại sinh sản và đàn lợn con theo mẹ.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Đàn lợn nái sinh sản (ngoại nhập) và lợn con theo mẹ.
- Phạm vi nội dung: Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng, công tác đỡ đẻ, các can thiệp ngoại khoa trên lợn con và bệnh lý đường sinh sản ở lợn nái.
- Phạm vi không gian: Trại chăn nuôi lợn của anh Nguyễn Đức Binh, xã Ba Trại, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
- Phạm vi thời gian: Từ ngày 18/11/2016 đến ngày 18/05/2017 (thời gian theo dõi số liệu trực tiếp là 6 tháng, kết hợp hồi cứu số liệu sổ sách giai đoạn 2015 – 2017).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết chuyên ngành chăn nuôi thú y, sinh lý sinh sản gia súc với quy trình thực nghiệm và theo dõi lâm sàng tại trại chăn nuôi công nghiệp.
Khung lý thuyết và kiến thức chuyên ngành
- Giải phẫu và sinh lý cơ quan sinh dục gia súc cái: Hệ thống hóa cấu tạo giải phẫu bộ phận sinh dục ngoài (âm môn, âm vật, tiền đình) và bộ phận sinh dục trong (âm đạo dài 10 – 12 cm; cổ tử cung dài 10 – 18 cm dạng hình trụ; tử cung sừng kép dài 50 – 100 cm; buồng trứng và ống dẫn trứng). Cơ chế chu kỳ tính dục 19 – 21 ngày, thời gian động dục chia làm 3 giai đoạn (trước chịu đực, chịu đực và sau chịu đực), thời gian mang thai bình quân 114 ngày (giai đoạn chửa kỳ I: 84 ngày đầu; giai đoạn chửa kỳ II: từ ngày thứ 85 đến khi sinh).
- Cơ chế bệnh học sản khoa: Cơ chế hình thành bệnh viêm tử cung qua tác động của vi khuẩn (Staphylococcus aureus, Streptococcus haemolyticus, E. coli, Proteus vulgaris, Klebsiella spp.); cơ chế phân hủy thể vàng thông qua Prostaglandin F2α (PGF2α) làm sụt giảm Progesterone dẫn tới sảy thai, thai chết lưu, hoặc ức chế Prolactin gây mất sữa; phân loại 3 thể bệnh viêm tử cung (viêm nội mạc tử cung, viêm cơ tử cung, viêm tương mạc tử cung). Nguyên nhân gây bệnh viêm vú, đẻ khó (do cơ thể mẹ hoặc do thai) và hội chứng bại liệt sau đẻ do hạ canxi huyết.
Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng kết hợp phương pháp điều tra dịch tễ học thú y và thực nghiệm lâm sàng:
- Phương pháp điều tra gián tiếp: Thu thập số liệu qua hệ thống sổ sách lưu trữ của trang trại về cơ cấu đàn, biến động số lượng và bệnh tật trong giai đoạn 3 năm (2015 – 2017).
- Phương pháp điều tra và theo dõi trực tiếp: Khảo sát trên dung lượng mẫu $n = 100$ lợn nái sinh sản và 1.203 lợn con sinh ra trong thời gian thực tập. Hàng ngày quan sát lâm sàng cá thể để phát hiện triệu chứng bất thường, đánh dấu lợn bệnh bằng sơn tròn màu đỏ trên lưng, ghi chép nhật ký thực tập về thân nhiệt, tuổi, lứa đẻ, tính biệt và các tổn thương bệnh lý.
- Phương pháp can thiệp kỹ thuật và phẫu thuật: Trực tiếp thực hiện các kỹ thuật đỡ đẻ, hồi sức sơ sinh, bấm nanh, cắt đuôi, bấm số tai, thiến lợn đực và mổ thoát vị bẹn/rốn (hecni).
- Xử lý số liệu thống kê: Các chỉ tiêu được tính toán và xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel 2010 theo các công thức sinh trắc học thông thường: Tỷ lệ mắc bệnh (%), tỷ lệ khỏi (%), tỷ lệ tiêm phòng (%), tỷ lệ phẫu thuật (%), số trung bình cộng ($\bar{X}$), độ lệch chuẩn ($S_X$) và sai số trung bình mẫu ($m_X = \frac{S_X}{\sqrt{n-1}}$).
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ quá trình chuyển dịch cơ cấu chăn nuôi sang hình thức công nghiệp tập trung khép kín. Đặt vấn đề tập trung vào các rủi ro dịch bệnh trên đàn nái ngoại nhập, đặc biệt là bệnh viêm tử cung âm đạo và các biến chứng sản khoa gây thiệt hại lớn về kinh tế. Xác định rõ ràng hệ thống mục đích, yêu cầu và nhiệm vụ khoa học cần đạt được trong thời gian thực tập tại cơ sở.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Chương này tổng hợp toàn diện các tư liệu khoa học liên quan đến đề tài:
- Điều kiện cơ sở thực tập: Địa bàn xã Ba Trại nằm ở chân núi Ba Vì, có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa (nhiệt độ trung bình 23°C, lượng mưa 2.500 mm/năm, độ ẩm 86,1%). Trang trại tư nhân Nguyễn Đức Binh có quy mô diện tích 1,2 ha, thành lập tháng 04/2015, nuôi 100 nái sinh sản ngoại (Landrace, Yorkshire) và đực giống Duroc của công ty CP Việt Nam. Hệ thống chuồng kín hoàn toàn với giàn mát, quạt thông gió, hệ thống cách nhiệt bằng bạt trần, nguồn nước uống dùng nước giếng mua ngoài, nước rửa chuồng lấy từ ao chứa lắng.
- Đặc điểm sinh học và bệnh lý sản khoa: Phân tích chi tiết giải phẫu học cơ quan sinh dục, các chỉ tiêu sinh lý sinh sản của lợn nái ngoại (tuổi phối giống lần đầu lúc 9 tháng tuổi, tuổi đẻ lứa đầu 12 tháng tuổi). Trình bày cơ chế bệnh lý, triệu chứng và hậu quả của viêm tử cung, viêm vú, đẻ khó, bại liệt sau đẻ. Phân biệt rõ các thể viêm tử cung theo triệu chứng lâm sàng:
| Tiêu chí phân biệt |
Thể viêm nội mạc tử cung |
Thể viêm cơ tử cung |
Thể viêm tương mạc tử cung |
| Thân nhiệt / Sốt |
Sốt nhẹ |
Sốt nhẹ |
Sốt cao |
| Màu sắc dịch viêm |
Trắng, trắng xám |
Hồng, nâu đỏ |
Nâu rỉ sắt |
| Mùi dịch viêm |
Mùi tanh |
Tanh thối |
Thối khắm |
| Phản ứng đau |
Đau nhẹ |
Đau rõ hơn |
Đau dữ dội, phản ứng mạnh |
| Tình trạng ăn uống |
Bỏ ăn một phần hoặc hoàn toàn |
Bỏ ăn hoàn toàn |
Bỏ ăn hoàn toàn |
- Tổng quan nghiên cứu: Khái quát các kết quả nghiên cứu trong nước (Phạm Sỹ Lăng, Trần Tiến Dũng, Nguyễn Xuân Bình...) và nước ngoài (Pierre Brouillet, Taylor D., Farouilt...) về dịch tễ vi khuẩn, phác đồ sử dụng novocain phong bế, kháng sinh và oxytocin kết hợp PGF2α trong điều trị bệnh sản khoa.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp tiến hành
Xác định đối tượng nghiên cứu là đàn lợn nái sinh sản và đàn con tại trại Nguyễn Đức Binh từ 18/11/2016 đến 18/05/2017. Thiết lập hệ thống chỉ tiêu theo dõi gồm: biến động quy mô đàn qua các năm, diễn biến đẻ, năng suất sinh sản (số con sơ sinh, số con cai sữa, tỷ lệ nuôi sống), tỷ lệ đẻ khó phải can thiệp, tỷ lệ thao tác thủ thuật trên lợn con, tỷ lệ mắc các bệnh đường sinh sản và các phác đồ thử nghiệm. Trình bày chi tiết công thức toán học thống kê áp dụng trong phân tích dữ liệu.
Phần 4: Kết quả và thảo luận
Chương kết quả phản ánh các số liệu thực tế thu thập được trong quá trình trực tiếp theo dõi và can thiệp sản xuất:
- Quy mô chăn nuôi giai đoạn 2015 – 2017: Tổng hợp biến động số lượng vật nuôi qua các năm, phân tích nguyên nhân sụt giảm đàn nái năm 2016 do sự cố mất điện ban đêm làm ngạt chết 6 nái trong chuồng kín.
- Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng nái và lợn con:
- Khẩu phần nái chửa theo giai đoạn: Tuần 1 – 12 dùng cám CP 966 (2,0 – 2,5 kg/ngày); tuần 13 – 14 dùng cám CP 966 (2,5 – 2,8 kg/ngày); từ tuần 15 trở đi dùng cám CP 567S (2,5 – 2,8 kg/ngày).
- Giai đoạn chờ đẻ (trước 7 – 10 ngày) ăn 2,5 – 3,0 kg/ngày; giảm xuống 1,5 kg/ngày trước đẻ 3 ngày; sau đẻ 2 ngày tăng dần 0,5 – 1,0 kg/ngày chia làm 3 bữa (sáng 6h, chiều 16h, tối 21h), nái nuôi nhiều con duy trì mức 5 – 6 kg/ngày.
- Chăm sóc lợn con: Cắt rốn (buộc cách cuống 2,5 cm, cắt ngoài 1,5 cm), lồng úm 33 – 35°C, bú đầu sau 30 phút; 2 – 3 ngày tuổi bấm nanh, cắt đuôi, bấm số tai, tiêm Fe - B12 - HDH; 3 – 4 ngày tuổi phòng cầu trùng; 5 ngày tuổi thiến lợn đực; 6 – 10 ngày tuổi tập ăn thức ăn CP 951; 16 – 18 ngày tuổi tiêm vắc xin Circo phòng còi cọc; cai sữa lúc 21 – 26 ngày tuổi.
- Kết quả can thiệp thủ thuật trên đàn lợn con: Tác giả trực tiếp thực hiện đỡ đẻ cho 1.110/1.203 con (đạt 92,27%); bấm nanh, số tai, cắt đuôi cho 1.171/1.185 con (98,82%); thiến 423/487 con đực (86,85%); mổ thoát vị hecni thành công 15/20 con (75,00%).
- Diễn biến sinh sản của đàn nái: Trong 100 ca đẻ theo dõi trực tiếp, có 92 ca đẻ bình thường (92,00%) và 8 ca đẻ khó phải can thiệp cơ học hoặc dùng thuốc (8,00%). Số lợn con sinh ra bình quân đạt $11,50 \pm 0,55$ con/lứa/nái; số con nuôi sống đến cai sữa đạt $10,48 \pm 0,39$ con/lứa/nái; tỷ lệ nuôi sống bình quân đạt 91,13%.
- Công tác vệ sinh phòng bệnh: Tiêu độc chuồng trại định kỳ 2 ngày/lần bằng thuốc sát trùng Omicide nồng độ 320 ml/1.000 lít nước; ngâm tấm đan chuồng đẻ sau cai sữa vào hố sát trùng chứa dung dịch xút (NaOH) 10%; rắc vôi bột lối đi định kỳ 2 ngày/lần.
Kết quả và đóng góp
Số liệu thực nghiệm chính thu thập từ văn bản
- Quy mô và biến động đàn lợn tại trại Nguyễn Đức Binh (2015 – 2017):
| Loại lợn |
Năm 2015 (con) |
Năm 2016 (con) |
Tháng 05/2017 (con) |
| Lợn đực giống |
3 |
4 |
3 |
| Lợn nái sinh sản |
125 |
116 |
100 |
| Lợn con theo mẹ / cai sữa |
1.438 |
1.334 |
1.203 |
| Lợn thương phẩm (thịt) |
1.100 |
1.250 |
1.500 |
-
Khảo sát số lượng lợn nái và lợn con trực tiếp theo dõi qua 6 tháng (12/2016 – 05/2017):
Tác giả đã trực tiếp chăm sóc 100 lượt nái chửa giai đoạn cuối (trung bình 16 – 17 nái/tháng), 100 lượt nái đẻ nuôi con, theo dõi 1.203 lợn con sinh ra và 1.196 lợn con cai sữa.
-
Kết quả can thiệp kỹ thuật và phẫu thuật ngoại khoa trên lợn con:
| STT |
Thao tác thực hiện |
Tổng số phát sinh (con) |
Số lượng trực tiếp làm (con) |
Tỷ lệ thực hiện (%) |
| 1 |
Đỡ đẻ lợn sơ sinh |
1.203 |
1.110 |
92,27 |
| 2 |
Bấm nanh, bấm số tai, cắt đuôi |
1.185 |
1.171 |
98,82 |
| 3 |
Thiến lợn đực (lúc 5 ngày tuổi) |
487 |
423 |
86,85 |
| 4 |
Mổ ngoại khoa thoát vị hecni |
20 |
15 |
75,00 |
- Tình hình sinh sản và tỷ lệ đẻ khó qua 6 tháng theo dõi:
| Tháng |
Số nái đẻ (con) |
Đẻ bình thường (con) |
Tỷ lệ đẻ thường (%) |
Đẻ khó can thiệp (con) |
Tỷ lệ đẻ khó (%) |
| 12/2016 |
17 |
15 |
88,23 |
2 |
11,76 |
| 01/2017 |
17 |
14 |
82,35 |
3 |
17,64 |
| 02/2017 |
17 |
16 |
94,12 |
1 |
5,88 |
| 03/2017 |
16 |
16 |
100,00 |
0 |
0,00 |
| 04/2017 |
16 |
16 |
100,00 |
0 |
0,00 |
| 05/2017 |
17 |
15 |
88,23 |
2 |
11,64 |
| Tổng |
100 |
92 |
92,00 |
8 |
8,00 |
- Các chỉ tiêu năng suất sinh sản chính của đàn nái:
| Tháng |
Số nái đẻ (con) |
Số con đẻ ra/lứa ($\bar{X} \pm m_X$) |
Số con sống đến cai sữa/nái ($\bar{X} \pm m_X$) |
Tỷ lệ sống sót (%) |
| 12/2016 |
17 |
$11,94 \pm 0,53$ |
$10,59 \pm 0,43$ |
88,67 |
| 01/2017 |
17 |
$11,82 \pm 0,50$ |
$10,53 \pm 0,32$ |
89,05 |
| 02/2017 |
17 |
$11,82 \pm 0,52$ |
$10,70 \pm 0,35$ |
90,55 |
| 03/2017 |
16 |
$11,56 \pm 0,55$ |
$10,69 \pm 0,34$ |
92,43 |
| 04/2017 |
16 |
$11,06 \pm 0,63$ |
$10,12 \pm 0,42$ |
91,52 |
| 05/2017 |
17 |
$10,76 \pm 0,60$ |
$10,23 \pm 0,47$ |
95,08 |
| Tính chung |
100 |
$11,50 \pm 0,55$ |
$10,48 \pm 0,39$ |
91,13 |
Giải pháp và khuyến nghị kỹ thuật của tác giả
- Kỹ thuật can thiệp đẻ khó: Cần xác định chính xác nguyên nhân (do thai to, ngôi ngược hay do mẹ kiệt sức). Tiêm Oxytocin liều 2 ml/nái khi nái đã sinh được vài con nhưng rặn yếu; trường hợp can thiệp bằng tay phải cắt ngắn móng tay, rửa sát trùng tay kỹ lưỡng và bôi trơn bằng gel để tránh gây trầy xước, rách niêm mạc tử cung. Bắt buộc tiêm 1 mũi kháng sinh dự phòng sau sinh cho toàn bộ lợn nái.
- Quy trình ngoại khoa trên lợn con: Tiến hành thiến lợn đực sớm vào ngày tuổi thứ 5 thay vì đợi đến 7 – 10 ngày tuổi như quy trình cũ để vết thương mau lành, ít chảy máu và giảm stress cho con vật; xử lý triệt để vết thắt cuống rốn tránh xuất huyết tia; đối với mổ hecni phải khâu vòng quanh cổ bao bằng chỉ chắc chắn, sát trùng nghiêm ngặt và tiêm kháng sinh amcoli hoặc amistin liều 1 ml/con.
- Quản lý dinh dưỡng và nhiệt độ: Không cho nái chửa ăn quá mức trong 2 tuần cuối trước sinh để tránh hiện tượng thai quá to gây đẻ khó; chia bữa ăn của nái sau sinh thành 3 bữa (sáng, chiều và tối lúc 21h) để tối ưu lượng cám thu nhận. Lưu ý hiện tượng số con sinh ra giảm vào mùa nóng (tháng 3 – 5 chỉ còn 10,76 – 11,56 con/lứa) do nhiệt độ chuồng nuôi tăng làm tăng tỷ lệ chết phôi, đòi hỏi phải kiểm soát hệ thống giàn mát và thông gió.
Đóng góp thực tiễn của đề tài
Khóa luận đã kiểm chứng hiệu quả thực tế của quy trình kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng và can thiệp sản khoa trên một đàn nái ngoại 100 con tại vùng bán sơn địa Ba Vì. Tác giả đã chứng minh việc tuân thủ nghiêm ngặt quy trình vệ sinh sát trùng bằng Omicide và xút NaOH 10%, kết hợp điều chỉnh khẩu phần cám theo tuần chửa đã duy trì tỷ lệ đẻ thường đạt 92,00% và tỷ lệ lợn con nuôi sống đến cai sữa đạt mức cao 91,13%.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế về phạm vi và thời gian: Nghiên cứu được thực hiện trong khoảng thời gian 6 tháng (từ tháng 11/2016 đến tháng 05/2017) tại một cơ sở chăn nuôi tư nhân duy nhất, chưa bao quát được toàn bộ các mùa trong năm (đặc biệt là giai đoạn nắng nóng đỉnh điểm tháng 6 – 8) để đánh giá đầy đủ tác động của stress nhiệt đối với bệnh viêm tử cung.
- Hạn chế về trang thiết bị tại cơ sở: Trang trại chưa trang bị đầy đủ dụng cụ bảo hộ chuyên dụng (thiếu găng tay cao su dài khi can thiệp móc thai đẻ khó, người thực hiện phải thao tác trực tiếp bằng tay trần đã qua sát trùng), làm tăng nguy cơ nhiễm trùng tử cung kế phát.
- Giới hạn của dữ liệu trích xuất: Do phần cuối của văn bản gốc bị gián đoạn ở mục kết quả vệ sinh sát trùng, các số liệu chi tiết về tỷ lệ mắc bệnh cụ thể và bảng so sánh hiệu quả của 2 phác đồ điều trị kháng sinh trên đàn nái (thuộc Bảng 4.9 và 4.10 được liệt kê trong danh mục bảng) không xuất hiện đầy đủ trong phần nội dung văn bản.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục mở rộng theo dõi dịch tễ các bệnh đường sinh sản quanh năm trên nhiều lứa đẻ; nghiên cứu phân lập vi khuẩn chuyên sâu từ dịch viêm tử cung và làm kháng sinh đồ tại phòng thí nghiệm nhằm xác định chính xác chủng vi khuẩn kháng thuốc tại trại; chuẩn hóa trang bị bảo hộ thú y trong can thiệp sản khoa.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng tham khảo: Tài liệu rất hữu ích cho sinh viên ngành Chăn nuôi, Thú y chuẩn bị đi thực tập tốt nghiệp hoặc làm khóa luận về quản lý đàn nái sinh sản; kỹ thuật viên trang trại lợn giống ngoại và người trực tiếp quản lý các trang trại chăn nuôi công nghiệp quy mô vừa và nhỏ.
- Nội dung có giá trị ứng dụng cao:
- Quy trình quản lý khẩu phần ăn chi tiết theo từng tuần tuổi thai (sử dụng cám CP 966, CP 567S) và kỹ thuật kích thích thu nhận thức ăn cho nái nuôi con.
- Bảng hướng dẫn chẩn đoán phân biệt 3 thể viêm tử cung (viêm nội mạc, viêm cơ, viêm tương mạc) dựa trên triệu chứng lâm sàng, màu sắc và mùi dịch tiết.
- Sổ tay thực hành các thao tác đỡ đẻ, can thiệp đẻ khó bằng Oxytocin và thủ thuật ngoại khoa trên lợn sơ sinh (thiến lợn đực ngày thứ 5, kỹ thuật khâu cổ bao mổ hecni).
Câu hỏi thường gặp
1. Cơ cấu đàn lợn của trại Nguyễn Đức Binh có biến động như thế nào trong 3 năm (2015 – 2017) và nguyên nhân nái chết năm 2016 là gì?
Trả lời: Giai đoạn 2015 – 2017, đàn đực giống duy trì từ 3 – 4 con; đàn nái sinh sản từ 100 – 125 con; đàn lợn con từ 1.203 – 1.438 con; đàn lợn thịt xuất bán tăng từ 1.100 lên 1.500 con. Riêng năm 2016, số lượng nái giảm xuống 116 con do xảy ra sự cố mất điện 1 đêm tại chuồng kín, không có người trực đêm khiến 6 lợn nái bị ngạt thở chết và 3 con phải loại thải do mất khả năng sinh sản.
2. Quy trình cho ăn đối với lợn nái chửa và nái chờ đẻ tại cơ sở được thực hiện theo tiêu chuẩn nào?
Trả lời: Nái chửa từ tuần 1 – 12 ăn cám CP 966 với tiêu chuẩn 2,0 – 2,5 kg/con/ngày (2 bữa); tuần 13 – 14 ăn CP 966 tiêu chuẩn 2,5 – 2,8 kg/con/ngày; tuần 15 trở đi ăn cám CP 567S tiêu chuẩn 2,5 – 2,8 kg/con/ngày. Khi chuyển lên chuồng đẻ (trước 7 – 10 ngày), nái chờ đẻ ăn 2,5 – 3,0 kg/ngày; trước ngày đẻ 3 ngày giảm xuống 1,5 kg/con/ngày.
3. Tỷ lệ can thiệp ngoại khoa và đỡ đẻ mà tác giả trực tiếp thực hiện trên đàn lợn con đạt kết quả ra sao?
Trả lời: Trong 1.203 lợn con sinh ra, tác giả trực tiếp đỡ đẻ cho 1.110 con (tỷ lệ 92,27%); thực hiện bấm nanh, cắt đuôi, bấm số tai cho 1.171 con (tỷ lệ 98,82%); thiến lợn đực cho 423 con trên tổng 487 con (tỷ lệ 86,85%); và mổ điều trị thoát vị hecni thành công cho 15 con trên tổng 20 con mắc (tỷ lệ 75,00%).
4. Khả năng sinh sản của đàn nái tại cơ sở qua 6 tháng theo dõi đạt những chỉ tiêu cụ thể nào?
Trả lời: Theo dõi trên 100 nái sinh sản, tỷ lệ đẻ bình thường đạt 92,00% (92 con), tỷ lệ đẻ khó phải can thiệp là 8,00% (8 con). Số lợn con sinh ra bình quân đạt $11,50 \pm 0,55$ con/lứa/nái; số lợn con nuôi sống đến cai sữa bình quân đạt $10,48 \pm 0,39$ con/lứa/nái; tỷ lệ nuôi sống bình quân đạt 91,13% (cao nhất vào tháng 05 đạt 95,08%, thấp nhất vào tháng 12 đạt 88,67%).
5. Cơ sở áp dụng quy trình vệ sinh sát trùng chuồng trại như thế nào để phòng ngừa bệnh sản khoa?
Trả lời: Chuồng nuôi được phun sát trùng định kỳ 2 ngày/lần bằng dung dịch Omicide (pha tỷ lệ 320 ml thuốc/1.000 lít nước); cách 1 ngày rắc vôi bột tại đường vận chuyển cám và lối lấy phân; định kỳ xịt gầm chuồng hàng ngày sau 9 giờ sáng. Các tấm đan chuồng đẻ sau khi cai sữa xuất lợn con được tháo dỡ và ngâm ngập trong hố sát trùng chứa dung dịch xút (NaOH) nồng độ 10%.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hoàng Thị Hương đã phản ánh chi tiết việc áp dụng quy trình kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng, công tác đỡ đẻ và vệ sinh phòng bệnh trên đàn lợn nái sinh sản ngoại tại trang trại Nguyễn Đức Binh. Đề tài cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm đầy đủ về khả năng sinh sản của 100 lợn nái với tỷ lệ đẻ thường đạt 92,00% và tỷ lệ lợn con sống đến cai sữa đạt 91,13%. Các kinh nghiệm lâm sàng về xử lý đẻ khó, phẫu thuật ngoại khoa trên lợn con và biện pháp an toàn sinh học bằng Omicide, NaOH 10% được đúc kết từ thực tiễn sản xuất, mang lại giá trị tham khảo rõ ràng cho công tác thú y tại các trại lợn công nghiệp.