Đặt vấn đề Chăn nuôi lợn có một vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi gia súc ở các nƣớc trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, vì đó là nguồn cung cấp thực phẩm với tỷ trọng cao và chất lƣợng cho con ngƣời, phân bón cho ngành trồng trọt, các sản phẩm nhƣ da mỡ. cho ngành công nghiệp chế biến, ngoài ra chăn nuôi còn góp phần giữ vững cân bằng sinh thái giữa cây trồng, vật nuôi và con ngƣời. Đứng trƣớc tình hình chăn nuôi lợn hiện nay ngày càng đƣợc công nghiệp hóa, chăn nuôi theo quy mô công nghiệp, quá trình chăm sóc lợn cũng ngày càng chuyên môn hóa theo dây chuyền, vấn đề về các loại dịch bệnh của lợn cũng diễn biến ngày càng phức tạp. Vì vậy vấn đề vệ sinh và chăm sóc lợn cũng đƣợc chú trọng hơn, để giảm tối đa nguy cơ mắc bệnh của lợn, ngoài việc thực hiện tốt vấn đề vệ sinh, thì bên cạnh đó chăm sóc, nuôi dƣỡng và phòng trị bệnh cũng rất quan trọng.
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, đƣợc sự đồng ý của BCN khoa, cô giáo hƣớng dẫn và cơ sở thực tập em tiến hành thực hiện chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng, trị bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại công ty TNHH Phương Hà, xã Hương Lung, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ”. Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 1.1 Mục đích - Đánh giá tình hình chăn nuôi tại Công ty TNHH Phƣơng Hà, xã Hƣơng Lung, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ. - Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dƣỡng cho đàn lợn con nuôi tại trại. 2 - Xác định tình hình nhiễm bệnh, cách phòng trị bệnh cho lợn con nuôi tại trại.2 Yêu cầu - Đánh giá đƣợc tình hình chăn nuôi tại Công ty TNHH Phƣơng Hà, xã Hƣơng Lung, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.
- Áp dụng đƣợc các quy trình chăm sóc, nuôi dƣỡng cho đàn lợn con nuôi tại trại đạt hiệu quả cao. - Xác định đƣợc tình hình nhiễm bệnh, biết cách phòng trị bệnh cho lợn con nuôi tại trại. 3 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2.
Điều kiện của trang trại 2. Vị trí địa lý -Trại chăn nuôi công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) Phƣơng Hà thuộc địa bàn xã Hƣơng Lung, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ. Vị trí địa lý của huyện đƣợc xác định nhƣ sau: + Phía Đông giáp huyện Thanh Ba với ranh giới là dòng sông Thao quanh năm nƣớc đỏ phù sa. + Phía Tây giáp huyện Yên Lập với ranh giới là dãy núi vòng cung thuộc dãy Hoàng Liên Sơn chạy dọc từ Tây Bắc xuống Đông Nam.
+ Phía Nam giáp huyện Tam Nông, ranh giới là dòng sông Bứa chảy từ Tây sang Đông đổ ra sông Thao. + Phía Bắc giáp huyện Hạ Hòa, ranh giới là ngòi Giành - một chi lƣu nhỏ của dòng sông Thao. -Huyện có 31 đơn vị hành chính. Dân số huyện Cẩm Khê gần 13 vạn ngƣời, tổng diện tích tự nhiên là 234.
Đặc điểm khí hậu -Theo phân vùng của nha khí tƣợng thuỷ văn thành phố, trại lợn của công ty TNHH Phƣơng Hà nằm trong vùng có khí hậu đặc trƣng của khu vực đó là nóng ẩm vào mùa hè, có mùa đông lạnh, mƣa nhiều điển hình của kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa. Hƣớng vòng cung của các dãy núi tạo thành hành lang hút gió rất mạnh, đón nhận trực tiếp khối không khí lạnh từ phƣơng bắc tràn xuống làm cho mùa đông đến sớm, kết thúc muộn, nền nhiệt bị hạ thấp. Khí hậu vùng này thích hợp cho thực vật nhiệt đới nhƣ chè, thuốc lá, hồi. Tuy nhiên, thời tiết khu vực này hay nhiễu động trong năm gây ra những khó khăn đáng kể, nhất là vào các thời kỳ chuyển tiếp.
4 -Nhiệt độ trung bình: 23ºC, ẩm độ trung bình: 85 - 87%. + Mùa mƣa: Nóng ẩm, mƣa nhiều. + Mùa khô: Thời tiết khô, rét, ít mƣa. Kinh tế xã hội -Cẩm Khê có lợi thế nhiều hồ, đầm lớn và đồng chiêm trũng với diện tích mặt nƣớc là 3.370 ha và diện tích trồng lúa một vụ là 1.
Rất thuận lợi cho nuôi trồng thuỷ sản. Bởi vậy mà nhiều tôm, cá và thuỷ sản khác. Nghề cá nuôi ở Cẩm Khê xuất hiện từ rất sớm. Với sản lƣợng 2.200 tấn cá hàng năm, cá Cẩm Khê không chỉ đáp ứng nhu cầu trong tỉnh mà còn có mặt ở các tỉnh, thành phố khác.
-Cẩm Khê đã có đề án phát triển nuôi trồng thủy sản, trong đó, ngƣời chăn nuôi đƣợc hỗ trợ về giống, vốn và kỹ thuật. Đề án đã tạo nên phong trào nuôi trồng thủy sản rộng khắp. Đến nay, diện tích nuôi trồng thuỷ sản của huyện đã đạt 1. Nghề nuôi cá lồng cũng bƣớc đầu phát triển.
Ngoài những loại cá truyền thống nhƣ trôi, mè, chép. đã xuất hiện một số giống có năng suất, chất lƣợng cao nhƣ tôm càng xanh, rô phi đơn tính, chép lai ba máu. Nghề nuôi ba ba cũng hình thành và đang mở rộng. Cơ cấu tổ chức của trang trại -Trại chăn nuôi đƣợc xây dựng từ năm 2009 trại đi vào sản xuất đƣợc 7 năm, song hàng năm sản xuất của trại đều gia tăng, đời sống của cán bộ công nhân viên đƣợc cải thiện, trại chăn nuôi có ban lãnh đạo là những ngƣời đam mê, giàu nghị lực và tâm huyết đối với nghề chăn nuôi.
Đặc biệt trại chăn nuôi đã tuyển dụng và đào tạo đƣợc một đội ngũ cán bộ kỹ thuật có chuyên môn, kinh nghiệm, thực tiễn và yêu nghề. Trại có 32 cán bộ nhân viên trong đó: -Lao động gián tiếp có 6 ngƣời + Giám đốc công ty: 1 + Một kế toán: 1 + Làm vƣờn, nấu ăn: 2 5 + Bảo vệ: 2 Lao động trực tiếp có 26 ngƣời + 2 kỹ sƣ chăn nuôi + 24 công nhân 2. Cơ sở vật chất của trang trại - Hệ thống chuồng trại Khu vực sản xuất của trung tâm đƣợc đặt trên một khu vực cao, dễ thoát nƣớc và đƣợc tách biệt với khu điều hành, khu dân cƣ xung quanh. Xung quanh trại có hàng rào bảo vệ, cổng vào và nơi sản xuất có hố sát trùng để ngăn ngừa dịch bệnh từ bên ngoài xâm nhập vào.
Chuồng nuôi đƣợc xây dựng theo hƣớng Đông Nam đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông và xây dựng theo kiểu mái chuồng xuôi tránh hiện tƣợng ứ đọng nƣớc, có 3 chuồng đẻ mỗi chuồng có 120 ô chuồng, 1 chuồng bầu có 1056 ô chuồng, 4 chuồng cách li với 40 con/chuồng và 1 chuồng đực với 20 ô chuồng, mỗi chuồng đều có lối đi ở giữa. Các ô chuồng thƣờng đƣợc thiết kế theo kiểu sàn bằng bê tông. Các chuồng nuôi đều đƣợc lắp đặt điện chiếu sáng, hệ thống dẫn nƣớc tự động, mùa hè có hệ thống làm mát bằng quạt điện và vòi phun nƣớc trên mái. Mùa đông có hệ thống bóng đèn hồng ngoại.
Tổng diện tích của trang trại là 5 ha, trong đó 2,5 ha dùng để chăn nuôi, 1 ha là ao cá, còn lại là diện tích xây dựng công trình xung quanh trang trại gồm nhà điều hành và các công trình phụ trợ khác. Tổng quan tài liệu 2. Cơ sở khoa học 2. Đặc điểm sinh lý của lợn con -Cơ năng điều tiết thân nhiệt + Thân nhiệt của lợn con sau khi đẻ thƣờng bị giảm xuống, quá trình giảm phụ thuộc vào nhiều yếu tố: khối lƣợng sơ sinh, chất dinh dƣỡng thu đƣợc sau khi sinh, nhiệt độ của môi trƣờng.
6 + Theo Trƣơng Lăng, (2000) [8] sau khi đẻ 1 giờ nếu lợn con đƣợc bú sữa đầu thì 8-12 giờ sau thân nhiệt sẽ ổn định, nếu sau 4 giờ mới đƣợc bú sữa đầu thì sau 18-24 giờ thân nhiệt mới đạt mức bình thƣờng. Nhƣ vậy quy định không quá 2 giờ nếu lợn mẹ chƣa đẻ xong phải cho những lợn con đã sinh bú sữa đầu.Lợn con rất mẫn cảm với nhiệt độ vì khi ra khỏi cơ thể mẹ lợn con chƣa thể thích ứng đƣợc với môi trƣờng bên ngoài, cơ quan điều tiết thân nhiệt chƣa hoàn chỉnh. Khả năng tự điều hòa thân nhiệt của lợn con tăng chậm từ khi mới sinh cho đến 2 tuần tuổi, do vậy trong 2 tuần tuổi chúng rất dễ mẫn cảm với thay đổi lớn của nhiệt độ bên ngoài. Mỗi loài gia súc, đều có một giới hạn sinh thái về nhiệt độ và ẩm độ nhất định, độ ẩm không khí trong chuồng nuôi cao là điều bất lợi cho lợn con, bởi vì độ ẩm cao là điều kiện thuận lợi cho các vi khuẩn phát triển, ngoài ra độ ẩm càng cao thì nhiệt độ trong chuồng càng giảm.
Cho nên việc quản lý độ ẩm và nhiệt độ trong chuồng nuôi phù hợp với mọi lứa tuổi của lợn và nhiệt độ trong chuồng nuôi đƣợc ổn định là rất quan trọng. + Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [9] trên nền cứng hoặc sàn thƣa không có độn khu vực cho lợn con mới sinh cần giữ ấm ở 32-35°C trong tuần đầu, sau đó giữ 21-27°C cho đến lúc cai sữa 3-6 tuần tuổi. Để bảo đảm nhiệt độ cho lợn con theo chỉ tiêu trên cần có ô úm cho lợn con, ô úm có kích thƣớc ít nhất là một mét vuông , trong ô úm có thể đặt tấm sƣởi điện tự động hoặc treo bóng đèn hồng ngoại 250w hoặc 100w. Độ ẩm và tốc độ gió làm thành một hệ thống tác nhân stress đối với gia súc.
- Đặc điểm tiêu hóa + Cơ quan tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh nhƣng chƣa hoàn chỉnh, các tuyến tiêu hóa phát triển chƣa đồng bộ, dung tích của bộ máy tiêu hóa còn nhỏ, thời kỳ bú sữa cơ quan phát triển hoàn thiện dần. 7 + Dung tích bộ máy tiêu hóa tăng nhanh trong 60 ngày đầu: dung tích dạ dày lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần, lúc 20 ngày tuổi gấp 8 lần và lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 60 lần so với lúc sơ sinh (dung tích dạ dày lúc sơ sinh khoảng 0,03 lít). Dung tích ruột non lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 6 lần, lúc 60 ngày tuổi gấp 50 lần (dung tích lúc sơ sinh khoảng 0,12 lít). Còn dung tích ruột già lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 50 lần so với lúc sơ sinh.
Sự tăng về kích thƣớc cơ quan tiêu hóa giúp lợn con tích lũy đƣợc nhiều thức ăn và tăng khả năng tiêu hóa các chất. + Mặc dù vậy, ở lợn con các cơ quan chƣa thành thục về chức năng, đặc biệt là hệ thần kinh. Do đó, lợn con phản ứng rất chậm chạp đối với các yếu tố tác động lên chúng.