Đặt vấn đề Việt Nam là một nước nông nghiệp. Nông nghiệp giữ một vị trí hết sức quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Cùng với trồng trọt, ngành chăn nuôi nói chung và ngành chăn nuôi lợn nói riêng đang trên đà phát triển và dần trở thành ngành chính trong nền kinh tế nông nghiệp. Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển kinh tế mạnh mẽ của đất nước, ngành chăn nuôi lợn đã cung cấp một lượng thịt lớn cho tiêu dùng trong nước và đóng góp một phần đáng kể cho xuất khẩu.
Điều đó được thể hiện qua sự tăng trưởng mạnh mẽ cả về số lượng vật nuôi và quy mô trang trại, bao gồm cả trang trại trong nhà nước và tư nhân. Đồng thời cũng thúc đẩy các ngành khác phát triển như: Công nghiệp chế biến thực phẩm, trồng trọt, thủy sản. Trong xu thế đó, Nhà nước, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã cho nhập các giống lợn có năng suất có chất lượng cao nhằm mục đích nâng cao sản lượng và chất lượng sản phẩm. Trong các vật nuôi thì lợn mang lại hiệu quả kinh tế khá cao, chính vì vậy trong những năm qua, ngành chăn nuôi lợn nước ta nói riêng đã đạt được nhiều thành tựu mới, xu thế chuyên môn hóa sản xuất, chăn nuôi trong trang trại tập trung ngày càng phổ biến.
Chăn nuôi lợn là ngành cung cấp thịt chủ yếu và đóng vai trò quan trọng ở Việt Nam, phù hợp với nhu cầu của nhân dân. Thịt lợn là loài thịt được tiêu dùng phổ biến nhất trong thực đơn của người Việt Nam, chiếm tới 68% tổng tiêu dùng thịt năm 2016. Theo Cục Chăn nuôi, hiện nước ta có đàn lợn khoảng 29 triệu con, đứng đầu ASEAN, đứng thứ 2 ở Châu Á, nằm trong top 15 nước có đàn lợn lớn nhất thế giới. Năm 2015 cả nước có hơn 27,7 triệu con lợn (Thống kê chăn nuôi 10/2015).
Năm 2016 cả nước có 29,1 triệu con lợn, tăng gần 1,4 triệu con lợn so với cùng kỳ năm 2015 (Tổng cục thống kê 10/2016). Năm 2017 cả nước có 27,4 triệu con (Tổng cục thống kê 01/10/2017). Để chăn nuôi lợn đạt hiệu quả kinh tế cao thì cần phải có con giống tốt, muốn có giống lợn tốt thì chăn nuôi lợn nái sinh sản có một vai trò đặc biệt quan m 2 trọng bởi vì ngoài việc chọn được giống lợn có khả năng sinh trưởng nhanh, tỷ lệ thịt nạc cao, tiêu tốn thức ăn thấp thì việc nuôi dưỡng, chăm sóc và quản lý dịch bệnh cho lợn nái và lợn con theo mẹ là rất quan trọng. Nếu nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý lợn nái và lợn con không đúng kỹ thuật thì chất lượng đàn con sẽ kém, do đó ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh trưởng của lợn con ở giai đoạn sau và hiệu quả chăn nuôi sẽ thấp.
Trong quá trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái nuôi con và lợn con theo mẹ sau khi đẻ còn gặp nhiều khó khăn, trở ngại, đặc biệt là những bệnh dịch thường xuyên xảy ra ở lợn nái nuôi con sau khi đẻ và lợn con theo mẹ. Khi bệnh dịch xảy ra đối với lợn mẹ và lợn con trong giai đoạn này đã làm cho chất lượng lợn con cai sữa kém, ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh trưởng của lợn sau này. Vì vậy, áp dụng quy trình phòng và trị bệnh cho lợn nái và lợn con theo mẹ hiệu quả là cần thiết. Xuất phát từ tình hình đó, để góp phần nâng cao hiệu quả nuôi lợn trong điều kiện chăn nuôi hiện nay, em đã tiến hành thực hiện chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại lợn Bùi Mạnh Cường, xã Nghĩa Đạo, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh”.
Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 1. Mục đích - Nắm được quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ nuôi tại trại. - Nắm được các bệnh hay xảy ra đối với lợn nái sinh sản và phương pháp phòng trị bệnh hiệu quả nhất. - Rèn luyện tay nghề, nâng cao hiểu biết và cách xử lý với các trường hợp xảy ra trong thực tiễn sản xuất.
- Góp phần giúp cơ sở nâng cao năng suất, chất lượng trong chăn nuôi. Yêu cầu - Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại trại lợn Bùi Mạnh Cường, xã Nghĩa Đạo, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh m 3 - Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ nuôi tại trại lợn của cơ sở. - Thực hiện tốt yêu cầu, quy định tại cơ sở. - Chăm chỉ học hỏi để nâng cao kỹ thuật, tay nghề cá nhân.
m 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở thực tập 2. Điều kiện tự nhiên * Vị trí địa lý Trại lợn Bùi Mạnh Cường thuộc xã Nghĩa Đạo, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, trại được nằm trên một cánh đồng cách ly với khu dân cư, tổng diện tích trại khoảng 2 ha. Nghĩa Đạo là một vùng đất cổ trong vùng văn hóa “Luy Lâu Siêu Loại”, là xã nông nghiệp nằm ở phía Nam huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, xã có đường quốc lộ 38 chạy qua.
Tổng diện tích tự nhiên của xã là 725 ha. Năm 2011 dân số toàn xã là 8000 người. - Phía đông giáp huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. - Phía tây giáp xã Ninh Xá, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
- Phía nam giáp huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên. - Phía bắc giáp huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh. Xã Nghĩa Đạo cách thị trấn Hồ, huyện Thuận Thành 7 km, vị trí của xã rất thuận lợi trong giao lưu kinh tế, văn hóa với bên ngoài. Vị trí của xã rất thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế, xã cách thành phố Bắc Ninh 25 km về phía Bắc, cách thành phố Hải Dương 30 km về phía Nam, đặc biệt chỉ cách thủ đô Hà Nội 30 km theo quốc lộ 282.
Nghĩa Đạo là xã nằm giáp danh ba tỉnh: Bắc Ninh, Hải Dương và Hưng Yên. Xã có điều kiện phát triển nông nghiệp toàn diện, tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ. * Điều kiện khí hậu Thôn Nhiễm Dương, xã Nghĩa Đạo, huyện Thuận Thành nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa có bốn mùa rõ rệt: xuân, hạ, thu, đông nhưng chủ yếu có hai mùa chính. Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, lượng mưa chiếm 70% lượng mưa cả năm và tập trung vào các tháng 07, 08 và 09, hướng gió mùa chủ đạo theo hướng Đông Nam.
Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 03 m 5 năm sau, tháng 01 và 02 thường có mưa phùn và giá rét kéo dài do ảnh hưởng của các đợt không khí lạnh, gió chủ đạo theo hướng Đông Bắc. Lượng mưa: Mùa mưa tập trung 85% lượng mưa cả năm và kéo dài từ tháng 05 đến tháng 10, tổng lượng mưa trung bình là 1331 mm, lượng mưa tăng dần từ đầu mùa đến giữa mùa và cực đại vào tháng 07. Mùa khô là 5 tháng còn lại, mưa ít, lượng mưa không đáng kể, chỉ chiếm 15% tổng lượng mưa cả năm. Tháng 12 là tháng mưa cực tiểu với 12 - 18 mm, lượng mưa của tháng trung bình cao nhất là 254,6 mm.
Cơ cấu tổ chức của trại Cơ cấu tổ chức trang trại được tổ chức như sau: - 01 chủ trại. - 02 kỹ thuật hỗ trợ của công ty TNHH De Heus. - 03 tổ trưởng (1 chuồng đẻ, 1 chuồng bầu, 1 chuồng thịt). - 06 sinh viên thực tập.
- 01 bảo vệ chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản chung của trại. - 01 phụ trách ăn uống trong trại. Với đội ngũ cán bộ, công nhân viên như trên, trại phân ra làm các tổ khác nhau gồm: tổ chuồng đẻ, tổ chuồng bầu, tổ chuồng thịt. Mỗi tổ thực hiện chuyên biệt công việc hàng ngày một cách nghiêm túc và đúng quy định của trại.
Cơ sở vật chất của trại - Trang trại có tổng diện tích 24.896 m2 gồm: khu chăn nuôi, khu nhà ở, ao cá, hầm biogas và các công trình phụ khác, đất trồng cây xanh, rau củ quả. - Trại lợn được chia ra làm hai khu là khu điều hành và khu sản xuất. Khu điều hành gồm nơi làm việc của quản lý trại, kế toán trại và nơi ăn, ở, vui chơi giải trí của công nhân, có nhà ăn, sân bóng là khu vui chơi sau mỗi ngày làm việc mệt nhọc của mọi người. Khu sản xuất gồm: 6 chuồng đẻ, 1 chuồng bầu, 2 chuồng an thai (group), 1 chuồng hậu bị, 2 chuồng cách ly, 4 chuồng cai sữa, 5 chuồng thịt.
m 6 Một số công trình khác phục vụ cho chăn nuôi như: kho cám, phòng tinh, phòng sát trùng, kho chứa vật liệu, kho máy phát điện, kho vôi và một số công trình đang được xây dựng khác. - Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn, hiện đại, có hầm biogas tận dụng được hoàn toàn chất thải trong chăn nuôi. Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối mỗi chuồng là hệ thống quạt thông gió, và hệ thống máng ăn với silo tự động rất hiện đại. Đặc biệt chuồng an thai quản lý lợn với hệ thống con chíp tự động.
Hai bên tường chuồng có hệ thống cửa sổ lắp kính, mỗi cửa sổ có diện tích 1,3 m2, cách nền 1,2 m, mỗi cửa số cách nhau 40 cm. Trên trần được lắp hệ thống chống nóng bằng tôn lạnh. - Hệ thống chăn nuôi có silo thức ăn tự động từ chuồng nái bầu, chuồng an thai (group), chuồng nái đẻ, nên tiết kiệm được nhân lực và mang lại hiệu quả sản xuất cao. - Phòng pha tinh có các dụng cụ hiện đại như: kính hiển vi, hệ thống cảm biến nhiệt, nồi hấp cách thủy, tủ sấy và các dụng cụ khác.
- Trong khu chăn nuôi đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu đều được đổ bê tông và có hố khử trùng. - Nguồn nước sử dụng trong chuồng trại, xả gầm đều được xử lý qua hệ thống lọc nước. - Xung quanh trại trồng nhiều cây xanh, tạo môi trường thông thoáng, khuôn viên trại đẹp. Ngoài trại còn trồng nhiều loại cây ăn quả, rau xanh.
cung cấp nguồn rau sạch cho trại sử dụng và tận dụng phân bón hữu cơ vào chăm bón. Thuận lợi và khó khăn của trại * Thuận lợi - Trại được xây dựng ở vị trí cách xa khu dân cư, thuận tiện giao thông. - Chủ trại có năng lực, năng động, nắm bắt được tình hình xã hội, luôn quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ kỹ thuật và công nhân.