Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp tại Việt Nam, ngành chăn nuôi lợn đã có những bước tiến đáng kể với xu hướng giảm dần hình thức chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ và gia tăng nhanh chóng các hệ thống trang trại tập trung quy mô vừa và lớn. Tuy nhiên, sự phát triển này đối mặt với nhiều rủi ro dịch bệnh phức tạp, trong đó nhóm bệnh sản khoa ở lợn nái sinh sản—đặc biệt là viêm tử cung và sát nhau—gây tổn thất kinh tế nghiêm trọng. Các bệnh lý tổn thương đường sinh dục sau khi sinh chủ yếu do các vi khuẩn cơ hội như Escherichia coli, Streptococcus, Staphylococcus gây ra. Dù không bùng phát thành ổ dịch ồ ạt như các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, bệnh đường sinh dục diễn biến âm thầm, dẫn đến hiện tượng sảy thai, thai chết lưu, giảm tiết sữa, làm suy giảm năng suất sinh sản ở các chu kỳ tiếp theo và làm tăng chi phí thú y của cơ sở.

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Trần Đình Tiến (chuyên ngành Thú y, Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, năm 2017) được triển khai từ thực tiễn sản xuất tại trang trại Bảy Tuân thuộc Công ty TNHH Bảo Lộc, xã Tiên Phương, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội. Đề tài tập trung vào việc chuẩn hóa quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng kết hợp giám sát dịch tễ lâm sàng và thực nghiệm điều trị bệnh đường sinh dục trên đàn nái ngoại sinh sản.

Văn bản xác định hệ thống mục tiêu nghiên cứu cụ thể gồm 4 nội dung:

  1. Thực hiện quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng lợn nái sinh sản tại trại.
  2. Xác định được tình hình mắc một số bệnh trên đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại.
  3. Phát hiện, chẩn đoán và đưa ra biện pháp phòng, điều trị bệnh một cách hiệu quả.
  4. Đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn sản xuất góp phần nâng cao năng suất sinh sản và giảm chi phí thuốc thú y cho đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại.

Về yêu cầu, đề tài đòi hỏi người thực hiện phải nắm vững quy trình kỹ thuật chăn nuôi đàn nái, nhận biết chính xác các triệu chứng lâm sàng của bệnh đường sinh dục và ứng dụng thành công các phác đồ điều trị bằng dược phẩm thú y.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Đàn lợn nái sinh sản (các giống thuần Landrace, Yorkshire và con lai Yorkshire × Landrace; phối giống bằng tinh dịch lợn đực Duroc 50 và Duroc 75).
  • Phạm vi không gian: Trang trại Bảy Tuân, Công ty TNHH Bảo Lộc, xã Tiên Phương, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội (cơ sở có tổng diện tích 7 ha, gồm 2,5 ha khu chuồng nuôi tập trung, 3 ha diện tích mặt nước ao hồ và 1,5 ha khu phụ trợ, nhà điều hành).
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu và theo dõi thực địa liên tục trong thời gian 6 tháng, từ ngày 18/11/2016 đến ngày 18/05/2017.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng trên nền tảng lý thuyết sinh lý sinh dục gia súc và bệnh học ngoại khoa - sản khoa thú y. Quá trình sinh sản của lợn nái được điều hòa bởi hệ thần kinh và thể dịch; bất kỳ sự xáo trộn nào trong quản lý, dinh dưỡng hoặc can thiệp kỹ thuật đỡ đẻ đều có thể dẫn đến rối loạn chu kỳ rụng trứng hoặc viêm nhiễm đường sinh dục. Về mặt bệnh học, tổn thương tử cung được phân loại thành ba thể bệnh chính: viêm nội mạc tử cung (Endometritis, gồm thể cata cấp tính có mủ và thể màng giả), viêm cơ tử cung (Myometritis puerperalis) và viêm tương mạc tử cung (Perimetritis puerperalis). Bên cạnh đó, tác giả tổng quan các bệnh sản khoa thường gặp khác như viêm vú (Mastitis), đẻ khó (Dystocia) và sảy thai.

Nghiên cứu sử dụng các tiêu chí chẩn đoán lâm sàng để phân biệt các thể viêm tử cung:

Chỉ tiêu phân biệt Viêm nội mạc tử cung Viêm cơ tử cung Viêm tương mạc tử cung
Mức độ sốt Sốt nhẹ Sốt nhẹ Sốt cao
Màu sắc dịch viêm Trắng, trắng xám Hồng, nâu đỏ Nâu rỉ sắt
Mùi dịch viêm Tanh Tanh thối Thối khắm
Phản ứng đau Có phản ứng đau Đau nhẹ Đau rõ rệt, rặn liên tục
Trạng thái ăn uống Bỏ ăn một phần hoặc hoàn toàn Bỏ ăn hoàn toàn Bỏ ăn hoàn toàn

Ngoài ra, tác giả sử dụng bảng đối chiếu thời gian bài xuất dịch âm đạo để xác định trạng thái sinh lý hay bệnh lý:

  • Dịch chảy từ 1 – 4 ngày sau khi đẻ: Trạng thái bình thường.
  • Dịch chảy > 5 ngày sau khi đẻ: Trạng thái viêm nhiễm.
  • Dịch chảy khi phối giống và > 5 ngày sau khi phối: Trạng thái bình thường.
  • Dịch chảy 14 – 21 ngày sau khi phối giống hoặc trong thời kỳ mang thai: Trạng thái viêm nhiễm.

Phương pháp nghiên cứu lâm sàng bao gồm 4 kỹ thuật khám kinh điển:

  • Quan sát (Inspectio): Đánh giá thể trạng chung, cử chỉ, dáng đi, màu sắc niêm mạc, kiểm tra cơ quan sinh dục ngoài và tính chất dịch viêm bám dính ở mép âm hộ, gốc đuôi.
  • Sờ nắn (Palpatio): Sờ nắn nông kiểm tra nhiệt độ, độ ẩm da; sờ nắn sâu vùng bụng, nắn tuyến vú và khám qua trực tràng để phát hiện độ dày thành tử cung, độ co thắt và các ổ mưng mủ.
  • Gõ (Percussio): Gõ trực tiếp bằng ngón tay hoặc gõ gián tiếp qua bản gõ bằng búa gõ chuyên dụng (trọng lượng 60 – 160 g) nhằm đánh giá biến đổi âm hưởng (âm trong, âm đục, âm trống) của các xoang cơ quan.
  • Nghe (Auscultatio): Nghe trực tiếp qua màng vải hoặc nghe gián tiếp bằng ống nghe tim phổi hai loa để kiểm tra hoạt động nội tạng.

Phương pháp can thiệp điều trị sử dụng 4 phác đồ thuốc được xây dựng cho từng nhóm bệnh:

Tên bệnh Thuốc đặc trị (Liều lượng & Đường dùng) Thuốc co bóp tử cung / Thụt rửa Thuốc trợ sức, trợ lực
Viêm tử cung - Dufamox-g 15% LA: 1 ml/10 kg thể trọng (TT), tiêm bắp cách nhật trong 3 - 5 ngày.
- Bio-decol: 1 ml/10 kg thể trọng (P), tiêm bắp 1 lần/ngày, từ 3 - 5 ngày.
Oxytoxin: 6 ml/con/ngày, tiêm bắp ngày 2 lần, dùng 3 - 5 ngày. Vitamin C, ADE-B complex, Vitol-450: 8 - 10 ml/con/ngày, tiêm bắp 3 - 5 ngày.
Viêm vú - Dufamox-g 15% LA: 1 ml/10 kg TT, tiêm bắp cách nhật, đợt 3 ngày.
- Oxytetracyclin: 1 ml/10 kg P, tiêm bắp 1 lần/ngày, đợt 3 ngày.
Oxytoxin: 6 ml/con/ngày, tiêm bắp ngày 2 lần, đợt 3 ngày. Vitamin C, ADE-B complex, Vitol-450: 8 - 14 ml/con/ngày, tiêm bắp 3 - 5 ngày.
Đẻ khó Han-prost: 2 ml/con/ngày, tiêm bắp 2 ngày liên tục. Oxytoxin: 6 ml/con/ngày, tiêm bắp ngày 2 lần, dùng 2 ngày. Vitamin C, ADE-B complex, Vitol-450: 10 - 15 ml/con/ngày, tiêm bắp 3 - 5 ngày.
Sẩy thai Han-prost: 2 ml/con/ngày, tiêm bắp 2 ngày liên tục. - Oxytoxin: 6 ml/con/ngày, tiêm bắp ngày 2 lần, dùng 2 ngày.
- Dung dịch nước hoa hồng: 500 ml/con/ngày, thụt rửa 2 lần/ngày trong 2 ngày.
Vitamin C, ADE-B complex, Vitol-450: 10 - 15 ml/con/ngày, tiêm bắp 3 ngày liên tục.

Nguồn dữ liệu của đề tài bắt nguồn từ việc điều tra trực tiếp sổ sách quản lý giống của trang trại, sổ nhật ký theo dõi cá thể của cán bộ kỹ thuật thú y, kết hợp quan sát, chẩn đoán trên tổng đàn 360 nái sinh sản. Số liệu được tổng hợp và xử lý thống kê bằng phần mềm Microsoft Excel 2010 theo các công thức tính tỷ lệ mắc, tỷ lệ khỏi, tỷ lệ chết và thời gian điều trị trung bình.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh chăn nuôi lợn trang trại công nghiệp tại Việt Nam. Bệnh đường sinh dục (viêm tử cung, sát nhau, viêm vú) làm giảm sản lượng con giống và tăng chi phí thú y. Phần này thiết lập hệ thống 4 mục tiêu nghiên cứu và các yêu cầu kỹ thuật cần đạt đối với học viên thực tập thú y.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng kết hai mảng nội dung chính:

  • Cơ sở thực tập: Trang trại Bảy Tuân có quy mô 7 ha, đội ngũ nhân sự gồm 33 người (1 kỹ thuật trưởng, 1 quản lý, 2 kế toán, 1 bảo vệ, 3 nhà bếp, 15 công nhân, 3 kỹ thuật trại và 7 sinh viên thực tập). Năng suất sản xuất giai đoạn 2015 – 2017 luôn duy trì ở mức cao: năm 2015 phối 1.870 nái, tỷ lệ đậu thai 90,85%; năm 2016 phối 2.018 nái, tỷ lệ đậu thai 91,34%; 6 tháng đầu năm 2017 phối 1.184 nái, tỷ lệ đậu thai đạt 92,25%. Số lợn con cai sữa/nái/năm của trại đạt 21.489 con.
  • Cơ sở khoa học và tình hình nghiên cứu: Trình bày chi tiết đặc điểm sinh lý sinh dục (tuổi thành thục tính dục của các giống lợn nội Móng Cái, Ỉ từ 120 – 140 ngày; giống ngoại Landrace, Đại Bạch từ 203 – 209 ngày); phân tích cơ chế bệnh sinh, triệu chứng, bệnh tích của bệnh viêm nội mạc tử cung, viêm cơ tử cung, viêm tương mạc tử cung, viêm vú, đẻ khó và sảy thai. Tổng thuật các công trình nghiên cứu trong nước (Trần Tiến Dũng, Nguyễn Văn Thanh, Nguyễn Đức Lưu, Trương Lăng, Nguyễn Như Pho) và quốc tế (Popkov, Trekaxova, Pierre Branillet).

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Nội dung chương trình bày quy mô mẫu nghiên cứu gồm 360 lợn nái ngoại tại trang trại Bảy Tuân từ 18/11/2016 đến 18/05/2017. Mô tả chi tiết quy trình theo dõi các chỉ tiêu lâm sàng, bảng phác đồ điều trị bằng kháng sinh kết hợp hormone co bóp tử cung (Oxytoxin, Han-prost), thuốc trợ sức và quy trình thụt rửa vệ sinh đường sinh dục. Đưa ra các công thức toán học xác định tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ khỏi bệnh, tỷ lệ tử vong và kỹ thuật xử lý số liệu trên phần mềm Microsoft Excel 2010.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này bao gồm toàn bộ kết quả thực nghiệm và phục vụ sản xuất thu được trong 6 tháng:

  • Công tác phục vụ sản xuất và chăm sóc nuôi dưỡng: Thiết lập định mức thức ăn cho từng đối tượng nái bằng cám hỗn hợp của Công ty Deheus Việt Nam (mã cám 3030 và 3060). Lợn nái hậu bị cho ăn 2,2 kg/con/ngày; nái dạ 2,8 kg/con/ngày. Khẩu phần nái mang thai chia làm 3 giai đoạn: kỳ I (1 – 84 ngày) dùng 1,5 – 2,5 kg cám 3030/ngày; kỳ II (85 – 100 ngày) dùng 1,8 – 3,0 kg cám 3030/ngày; kỳ III (100 – 114 ngày) chuyển sang cám nái đẻ 3060 với 2,2 – 3,5 kg/ngày. Đối với nái nuôi con, lượng thức ăn tăng dần từ 1 kg ở ngày đầu sau sinh lên 6 kg ở ngày thứ sáu, sau đó duy trì trung bình 6 kg/con/ngày.
  • Quy trình xử lý nái đẻ quá ngày (mang thai > 116 - 128 ngày): Cố định nái, đưa tinh quản qua cổ tử cung thụt 3 – 5 lít nước xà phòng 0,1 – 0,2% để kích thích co bóp và làm trơn ống sinh dục; nếu sau 2 ngày không đẻ thì tiêm Oestrogenum folliculinum (2.000 UI) hoặc Hexoestrolum kết hợp Oxytoxin (10 – 40 UI).
  • Công tác thú y phòng bệnh: Tiêm phòng đạt tỷ lệ tuyệt đối 100% đối với vắc xin Lở mồm long móng (48/48 con) và Tai xanh (37/37 con). Triển khai lịch sát trùng nghiêm ngặt từ thứ Hai đến thứ Bảy cho toàn bộ các khu chuồng đẻ, chuồng chửa, chuồng cách ly (kết hợp phun sương Virkon's, rắc vôi bột, xả vôi xút gầm chuồng và để trống chuồng đẻ 5 – 7 ngày trước khi đón lứa mới).
  • Thực hành kỹ thuật thú y trực tiếp: Đỡ đẻ an toàn cho 41/42 lợn nái (đạt 97,61%); tham gia xuất bán 550 lợn con (100%); thiến 130 lợn đực con (100%); tiêm sắt Dextran-Fe cho 350 lợn con (100%). Đàn nái của trại đạt năng suất 2,45 – 2,47 lứa/năm, số con sơ sinh bình quân 11,23 con/đàn, số con cai sữa 10,7 con/đàn (cai sữa ở 21 – 26 ngày tuổi).
  • Tình hình mắc bệnh đường sinh dục: Tổng hợp trên 360 nái theo dõi lâm sàng:
Tên bệnh lý Số nái theo dõi (con) Số nái mắc bệnh (con) Tỷ lệ mắc (%)
Viêm tử cung 360 117 32,50
Viêm vú 360 32 8,89
Đẻ khó 360 12 3,33
Sẩy thai 360 5 1,39
Tính chung 360 166 46,11
  • Diễn biến tỷ lệ mắc bệnh theo tháng theo dõi: Tỷ lệ mắc bệnh đường sinh dục có xu hướng dao động theo điều kiện thời tiết:
Tháng theo dõi Số nái theo dõi (con) Viêm tử cung: Số con / Tỷ lệ (%) Viêm vú: Số con / Tỷ lệ (%) Đẻ khó: Số con / Tỷ lệ (%) Sẩy thai: Số con / Tỷ lệ (%) Tổng số con mắc / Tỷ lệ (%)
Tháng 12 82 27 / 32,92% 2 / 2,44% 1 / 1,22% 1 / 1,22% 31 / 37,80%
Tháng 01 42 17 / 40,47% 4 / 9,52% 1 / 2,38% 2 / 4,76% 24 / 57,13%
Tháng 02 61 20 / 32,78% 5 / 8,20% 1 / 1,64% 0 / 0,00% 26 / 42,62%
Tháng 03 57 24 / 42,10% 7 / 12,30% 3 / 5,26% 2 / 3,51% 36 / 63,17%
Tháng 04 80 24 / 30,00% 9 / 11,25% 4 / 5,00% 0 / 0,00% 37 / 46,25%
Đến 15/05 38 5 / 13,16% 5 / 13,16% 2 / 5,26% 0 / 0,00% 12 / 31,58%
Tính chung 360 117 / 32,50% 32 / 8,89% 12 / 3,33% 5 / 1,39% 166 / 46,11%

Tác giả chỉ rõ tỷ lệ mắc bệnh cao nhất tập trung vào tháng 03 (63,17%) và tháng 01 (57,13%). Nguyên nhân do thời điểm giao mùa nóng ẩm, mưa nhiều, tạo điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật ngoại cảnh phát triển. Bệnh viêm vú tăng cao vào tháng 03 (12,30%) và tháng 05 (13,16%) do nền nhiệt cao, lợn phải tắm nhiều, sàn ẩm ướt kết hợp lợn con cắn gây tổn thương đầu vú. Bệnh đẻ khó tăng ở tháng 03 và 05 (đều đạt 5,26%) do lợn mẹ chịu stress nhiệt, thể lực suy giảm khi bước vào chu kỳ đẻ.

Kết quả và đóng góp

Văn bản ghi nhận các kết quả thực tiễn và số liệu cụ thể:

  • Xác lập được bức tranh dịch tễ học lâm sàng về bệnh sinh dục trên đàn nái nuôi công nghiệp: Tổng tỷ lệ nái mắc các bệnh đường sinh dục tại cơ sở là 46,11% (166/360 con). Trong đó, viêm tử cung là bệnh lý phổ biến nhất với tỷ lệ 32,50% (117 con), tiếp đến là viêm vú chiếm 8,89% (32 con), đẻ khó chiếm 3,33% (12 con) và sẩy thai chiếm tỷ lệ thấp nhất 1,39% (5 con).
  • Khẳng định mối liên hệ giữa mùa vụ thời tiết và tỷ lệ phát bệnh: Giai đoạn chuyển mùa ẩm ướt (tháng 1 đến tháng 3) có tỷ lệ viêm tử cung cao vượt trội (đạt đỉnh 42,10% vào tháng 3), trong khi các tháng nhiệt độ tăng cao (tháng 5) làm tăng nguy cơ viêm vú do xây xát cơ giới và stress nhiệt.
  • Đóng góp vào quy trình kỹ thuật chăn nuôi: Hệ thống hóa quy trình quản lý thức ăn theo tuần tuổi mang thai và từng ngày sau khi đẻ bằng dòng thức ăn hỗn hợp Deheus (mã 3030 và 3060); chuẩn hóa phác đồ điều trị can thiệp bằng kháng sinh phổ rộng (Dufamox-g 15% LA, Bio-decol, Oxytetracyclin) phối hợp hormone tăng cường co bóp tử cung (Oxytoxin, Han-prost), dung dịch thụt rửa sát trùng và phác đồ bồi dưỡng thể trạng bằng phức hợp vitamin.
  • Đóng góp so với các nghiên cứu trước: Kết quả tỷ lệ viêm tử cung 32,50% tại trại Bảy Tuân nằm trong phạm vi tổng kết của Trần Tiến Dũng (30 – 50%), thấp hơn tỷ lệ 42,40% của Nguyễn Văn Thanh trên đàn nái sau sinh nói chung, nhưng phản ánh sát thực tế của các đàn nái ngoại hướng nạc nuôi trong điều kiện trại kín công nghiệp ở vùng đồng bằng sông Hồng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện thực hiện được phản ánh trong văn bản:

  • Phạm vi nghiên cứu giới hạn trong thời gian 6 tháng (từ tháng 11/2016 đến tháng 5/2017) tại một cơ sở chăn nuôi duy nhất (Trang trại Bảy Tuân, Hà Nội), do đó số liệu chưa bao quát đầy đủ diễn biến dịch tễ trọn vẹn của cả 4 mùa trong năm.
  • Công tác chẩn đoán bệnh đường sinh dục dừng lại ở phương pháp khám lâm sàng (quan sát dịch tiết, thân nhiệt, phản xạ đau) mà chưa có điều kiện thực hiện các xét nghiệm vi sinh vật chuyên sâu (nuôi cấy phân lập xác định loài vi khuẩn và thực hiện kháng sinh đồ trong phòng thí nghiệm).
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng theo dõi dịch tễ học qua nhiều năm, tiến hành lấy mẫu dịch viêm để định danh chính xác các chủng vi khuẩn (E. coli, Streptococcus, Staphylococcus) cùng phổ kháng kháng sinh của chúng tại trang trại, đồng thời đánh giá khả năng sinh sản của đàn nái (tỷ lệ phối giống đậu thai, số con sơ sinh/lứa) sau khi điều trị khỏi bệnh ở các lứa kế tiếp.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Chăn nuôi, Thú y, Bác sĩ thú y cơ sở và các kỹ thuật viên trực tiếp quản lý trang trại lợn nái sinh sản:

  • Phần quy trình chăm sóc nuôi dưỡng: Rất đáng tham khảo về định mức khẩu phần ăn chi tiết theo từng ngày sau sinh và từng giai đoạn mang thai (phân loại cụ thể theo thể trạng nái gầy, nái trung bình, nái béo).
  • Phần kỹ thuật sản khoa thực hành: Đưa ra chỉ dẫn cụ thể về kỹ thuật thụt tháo nước xà phòng loãng (0,1 – 0,2%) qua cổ tử cung để kích thích đẻ và lấy thai cho các ca lợn chửa quá hạn hoặc thai chết lưu.
  • Phần phác đồ điều trị và vệ sinh thú y: Cung cấp thông tin chi tiết về liều lượng, cách dùng của các biệt dược thú y điều trị bệnh sản khoa cùng lịch trình sát trùng chuồng trại định kỳ theo các ngày trong tuần trong điều kiện chăn nuôi công nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ mắc các bệnh đường sinh dục trên đàn lợn nái tại trang trại Bảy Tuân là bao nhiêu và bệnh nào chiếm tỷ lệ cao nhất?
Trên tổng số 360 nái theo dõi, tổng số nái mắc bệnh đường sinh dục là 166 con, chiếm tỷ lệ 46,11%. Trong đó, bệnh viêm tử cung chiếm tỷ lệ cao nhất với 32,50% (117 con mắc), tiếp theo là viêm vú với 8,89% (32 con), đẻ khó chiếm 3,33% (12 con) và sẩy thai chiếm tỷ lệ thấp nhất là 1,39% (5 con).

2. Phác đồ điều trị bệnh viêm tử cung cho lợn nái tại trang trại được thực hiện bằng những loại thuốc nào?
Phác đồ sử dụng kháng sinh Dufamox-g 15% LA (tiêm bắp 1 ml/10 kg thể trọng, cách 1 ngày tiêm 1 lần, điều trị 3 – 5 ngày) kết hợp Bio-decol (tiêm bắp 1 ml/10 kg thể trọng/ngày, dùng 3 – 5 ngày). Đồng thời tiêm Oxytoxin (6 ml/con/ngày, chia 2 lần/ngày, dùng 3 – 5 ngày) để đẩy dịch viêm ra ngoài và bổ sung thuốc trợ sức gồm Vitamin C, ADE-B complex, Vitol-450 (8 – 10 ml/con/ngày, tiêm bắp 3 – 5 ngày).

3. Trang trại áp dụng quy trình xử lý nào đối với trường hợp lợn nái chửa quá ngày?
Khi lợn mang thai vượt quá 114 – 116 ngày (biến động từ 102 – 128 ngày) mà không có dấu hiệu cắn ổ đẻ, kỹ thuật viên cố định lợn, dùng ống dẫn tinh quản đưa qua cổ tử cung thụt 3 – 5 lít nước xà phòng nồng độ 0,1 – 0,2% vào tử cung rồi thả lợn để kích thích co bóp rặn đẻ sau 12 – 48 giờ. Nếu sau 2 ngày lợn chưa đẻ, tiến hành tiêm thuốc gây sảy như Oestrogenum folliculinum (2.000 UI) hoặc Hexoestrolum, sau đó tiêm bắp Oxytoxin (10 – 40 UI) để tống thai ra ngoài.

4. Tỷ lệ mắc bệnh đường sinh dục của lợn nái biến động như thế nào qua các tháng theo dõi?
Tỷ lệ mắc bệnh đạt cao nhất vào tháng 03 với 63,17% (36/57 con) và tháng 01 với 57,13% (24/42 con). Các tháng còn lại ghi nhận tỷ lệ thấp hơn: tháng 12 đạt 37,80% (31/82 con), tháng 02 đạt 42,62% (26/61 con), tháng 04 đạt 46,25% (37/80 con) và nửa đầu tháng 05 giảm xuống 31,58% (12/38 con).

5. Lịch sát trùng định kỳ của trang trại được phân bổ như thế nào trong tuần?
Trang trại áp dụng lịch vệ sinh hàng ngày: Thứ Hai quét/rắc vôi đường đi, phun sát trùng toàn bộ chuồng đẻ, nái chửa và khu cách ly; Thứ Ba phun sát trùng và rắc vôi đường đi; Thứ Tư xả vôi xút, phun sát trùng chuồng đẻ và rắc vôi gầm; Thứ Năm phun ghẻ cho chuồng đẻ, chuồng chửa kết hợp xả vôi xút gầm; Thứ Sáu phun sát trùng toàn bộ các khu; Thứ Bảy tiến hành tổng vệ sinh toàn trại; Chủ nhật phun sát trùng chuồng đẻ và nái chửa.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Trần Đình Tiến đã phản ánh toàn diện hiện trạng quản lý chăm sóc, nuôi dưỡng và kiểm soát bệnh sản khoa trên quy mô 360 lợn nái sinh sản tại trang trại Bảy Tuân (Hà Nội). Nghiên cứu chỉ ra tỷ lệ mắc bệnh đường sinh dục chung là 46,11%, trong đó viêm tử cung chiếm tỷ lệ cao nhất (32,50%) và chịu ảnh hưởng rõ rệt bởi yếu tố thời tiết giao mùa ẩm ướt. Các phác đồ điều trị kết hợp kháng sinh phổ rộng, hormone co bóp tử cung và quy trình vệ sinh sát trùng nghiêm ngặt đã đem lại hiệu quả thực tiễn cao, đóng góp tài liệu kỹ thuật có giá trị cho ngành chăn nuôi lợn nái sinh sản công nghiệp.