Đặt vấn đề Từ đầu năm 2020 đến cuối năm 2021, Việt Nam gặp nhiều khó khăn do dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp, tác động từ đời sống cho đến kinh tế và xã hội. Làm các chuỗi cung ứng trên toàn cầu bị ảnh hưởng tới sản xuất và hoạt động xuất, nhập khẩu tiêu thụ sản phẩm các loại sản phẩm chăn nuôi, nông sản. Ngành chăn nuôi vẫn đang và tiếp tục có nhiều đóng góp quan trọng vào nền kinh tế cho đất nước tạo kế sinh nhai cho gần 10 triệu hộ gia đình trên cả nước đóng góp 25,2% vào GDP nông nghiệp. Trong những năm vừa qua ngành chăn nuôi gặt hái được nhiều kết quả tốt về sức sản xuất, hội nhập vào thị trường quốc tế.
Năm 2021 tổng đàn lợn chung của Việt Nam đạt khoảng 28,1 triệu con đứng đầu Đông Nam Á, thứ 10 châu Á và thứ 31 trên thế giới. Vào thời điểm hiện nay, vùng Trung du miền núi phía Bắc có tổng đàn lợn cao nhất cả nước chiếm 26%. Vùng đồng bằng Sông Hồng chiếm 21%. Vùng Bắc trung bộ và duyên hải miền Trung đều chiếm 20%.
Hai vùng đồng bằng Sông Hồng và vùng Đông Nam Bộ là những khu vực chăn nuôi có năng suất cao và khối lượng giết mổ là rất nhiều. Đối với sản xuất con giống và sản xuất thức ăn công nghiệp luôn được các doanh nghiệp, công ty và người chăn nuôi quan tâm đặc biệt. Để có năng suất cao, con giống và thức ăn luôn được cải thiện nâng cao tốt về mặt chất lượng. Ngành chăn nuôi Việt nam đang là một môi trường tốt để đầu tư, các doanh nghiệp lớn như tập đoàn Masan, Dapaco, Hòa Phát và có nhiều doanh nghiệp nước ngoài như C.P Việt Nam, Japfa hay New Hope… Nhiều doanh nghiệp có định hướng sản xuất theo mô hình khép kín trong trang trại để chăn nuôi không có dịch bệnh ảnh hưởng.
n 2 Bên cạnh những mặt thuận lợi ngành chăn nuôi Việt Nam vẫn còn những hạn chế và thách thức trong tương lai. Tỷ lệ chăn nuôi nông hộ vẫn đang chiếm đa số, năng suất chưa cao của nông hộ và trang trại nhỏ lẻ. Sự liên kết giữa các khu vực chăn nuôi vẫn rất ít nên khi có dịch ảnh hưởng rất dễ bị bùng nổ và thiệt hại về kinh tế. Trong đó bệnh tả lợn Châu Phi hiện tại chưa có vắc xin để phòng chống.
Chỉ có thể dựa vào các yếu tố về sinh học, phòng dịch hiệu quả để giảm dịch bệnh và tăng kháng sinh cho động vật. Những khó khăn và thử thách này khiến cho ngành chăn nuôi Việt Nam luôn không ngừng sáng tạo, đổi mới bắt kịp theo xu hướng phát triển của công nghiệp hiện đại, để có thể xuất khẩu sản phẩm ra các nước trên thế giới. Để học tập và nắm bắt được quy trình chăn nuôi lợn nái, các kỹ thuật cũng như những phương pháp chăm sóc nuôi dưỡng mới và hiện đại theo hướng công nghiệp. Em tiến hành thực hiện chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản và lợn con” tại trại lợn Minh Châu, thành phố Hạ Long – tỉnh Quảng Ninh.
Mục tiêu và yêu cầu 1. Mục tiêu - Biết nắm bắt về tổ chức, quản lý chăn nuôi lợn theo mô hình công nghiệp hiện đại - Học tập các kinh nghiệm củng cố kiến thức lý thuyết đã được học trên sách vở, nâng cao hiểu biết về thực tế, chuẩn bị hành trang cho sau này. - Nắm bắt và học tập các kỹ thuật trong chăn nuôi lợn: quy trình chăm sóc lợn nái, quy trình úm lợn con, quy trình phối giống… - Năm bắt lịch phòng và trị bệnh trên lợn nái, lợn con. - Biết cách chẩn đoán, phòng và điều trị bệnh lợn nái, lợn con.
- Hoàn thành 6 tháng thực tập tốt nghiệp với kết quả xuất sắc. Yêu cầu của chuyên đề - Luôn luôn chăm chỉ học hỏi về cách làm việc hiệu quả. - Tìm hiểu các vấn đề về bệnh trên lợn nái sinh sản, lợn con và cách phòng trị bệnh. - Không ngại khó khăn vất vả, kiên trì học tập và làm việc.
- Làm việc với tinh thần trách nhiệm, trung thực và hiệu quả. n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở thực tập 2. Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập Được sự chỉ đạo của trường – Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y, em rất vinh hạnh khi được về thực tập tốt nghiệp tại trang trại lợn của công ty TNHH Minh Châu.
Chủ trại ông Hoàng Văn Châu, ông Nguyễn Văn Nhật quản lý trại. Quy mô trại: 1200 lợn nái và trung bình gần 5000 lợn hậu bị. Diện tích: 150 ha. Diện tích sử dụng trang trại lợn: 15 ha và 135 ha trồng rừng.
Vị trí địa lý Thành phố Hạ Long nằm ở vị trí trung tâm của tỉnh Quảng Ninh, diện tích 271,95 km2. Phía Đông Hạ Long giáp thành phố Cẩm Phả, phía Nam giáp huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng và vịnh Hạ Long, phía tây giáp thành phố Uông Bí và thị xã Quảng Yên, phía Bắc giáp huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang và huyện Ba Chẽ. Thành phố Hạ long nằm dọc bờ vịnh Hạ Long nên có vị trí chiến lược về chính trị, kinh tế, an ninh quốc phòng khu vực và quốc gia. Địa hình: có 3 loại địa hình chính - Vùng đồi núi: bao bọc phía bắc và đông bắc chiếm 70% diện tích đất của thành phố, có độ cao trung bình từ 150m đến 250m, chạy dài từ Yên Lập đến Hà Tu, đỉnh cao nhất là 504m.
Dải đồi núi này thấp dần về phía biển, độ dốc trung bình từ 15 – 20%, xen giữa là các thung lũng nhỏ hẹp - Vùng ven biển: ở phía nam quốc lộ 18A, độ cao trung bình từ 0,5 đến 5m. n 5 - Vùng hải đảo: là toàn bộ vùng vịnh, với gần hòn đảo lớn nhỏ, chủ yếu là đảo đá. Riêng đảo Tuần Châu, rộng trên 400ha nay đã có đường nối với quốc lộ 18A dài khoảng 2km. Điều kiện tự nhiên Thành phố Hạ Long thuộc vùng khí hậu ven biển, với rõ rệt 2 mùa Đông và mùa Hè.
Mùa Đông có nhiệt độ trung bình 16,7o, rét nhất là 5oC. Mùa Hè nhiệt độ trung bình vào mùa hè là 28,6oC, nóng nhất lên 38oC. Nhiệt độ trung bình năm là 23,7oC. Hạ Long có 2 loại hình gió mùa là gió Đông Bắc vào mùa Đông và gió Tây Nam về mùa Hè.
Hạ Long ít chịu ảnh hưởng của những cơn bão lớn, bão mạnh nhất trong các cơn bão thường là cấp 9, cấp 10. Cơ cấu tổ chức và cơ sở vật chất của trại Cơ cấu tổ chức - Chủ trại: 1 người - Quản lý trại: 1 người - Thủ kho kiêm kế toán: 1 người - Kỹ sư: 4 kỹ sư kỹ thuật và 1 kỹ sư trưởng của công ty chăn nuôi CP. - Công nhân lao động: Gồm 16 công nhân lao động làm khu vực chăn lợn nái và 8 công nhân lao động làm khu vực chăn lợn hậu bị. - Thợ điện, thợ nước và thợ hàn: 3 người - Sinh viên thực tập: 3 sinh viên Cơ sở vật chất - Khu sinh hoạt sạch sẽ, rộng rãi và thoải mái.
- Thức ăn tự cung cấp. Thực phẩm sạch sẽ và bị nghiêm cấm mang đồ ăn tươi sống vào trang trại để tránh gây dịch bệnh. n 6 - Bảo hộ lao động công nhân: 2 bộ quần áo, 1 ủng, 1 bộ quần áo nhà ăn vào buổi trưa. - Đồ dùng cá nhân: 1 gối, 1 màn, 1 chiếu.
- Khu chăn nuôi lợn nái được xây dựng với quy mô 1200 lợn nái gồm: 3 chuồng nái đẻ và 2 chuồng nái mang thai. Chuồng lợn nái 1 là chuồng lợn nái được chờ phối và lợn nái đang mang thai. Chuồng lợn nái 2 là chuồng lợn nái mới được phối xong chuyển từ chuồng lợn nái 1 sang và lợn nái đang mang thai. Chuồng đẻ gồm 3 chuồng, mỗi chuồng có 2 ngăn, mỗi ngăn có 59 ô chứa lợn đẻ.
- Khu chăn nuôi lợn hậu bị: gồm có 8 dãy chuồng. Mỗi chuồng có thể nuôi 600 – 650 con. Đối tượng và những kết quả sản xuất của trại 2. Đối tượng - Lợn nái ngoại sinh sản nuôi tại trại với quy mô 1200 đầu nái và gần 5000 lợn hậu bị.
Kết quả sản xuất của cơ sở trong 3 năm Bảng 2. Cơ cấu đàn lợn sinh sản tại trang trại (2020 - 2022) Số lượng lợn qua các năm Cơ cấu đàn Loại lợn 6 tháng đầu năm 2022 2020 2021 năm 2022 (%) Nái cơ bản 1105 950 1005 81,64 Hậu bị cơ bản 90 120 180 14,62 Đực đang 32 27 31 2,52 khai thác Đực hậu bị 7 5 15 1,22 Tổng số 1232 1102 1231 100 n 7 Từ bảng 2.1 chúng ta thấy Tổng đầu nái qua 3 năm gần đây số lượng đầu nái cơ bản năm 2022 tăng lên so với năm 2021. Số lượng đầu nái cơ bản năm 2020 là 1105 con giảm xuống 950 con vào năm 2021 và đến 6 tháng đầu năm 2022 tăng lên 1005 đạt 81,61% tổng đàn. Số lượng lợn nái hậu bị tăng lên 180 con đạt 14,62% tổng đàn, số lượng lợn nái hậu bị đang trong thời kỳ chờ phối và đã được phối lứa đầu để thay thế cho những nái đã già, bị bệnh hoặc đẻ kém chất lượng, số lượng.
Số lượng đực đang được khai thác và đực hậu bị chuẩn bị được thay thế chiếm 2,52% và 1,22% tổng đàn. Cơ cấu tổng đàn năm 2022 của trại lợn Minh Châu cho thấy năm 2022 sẽ là một năm tái đàn, loại bỏ những con lợn nái già yếu, đẻ kém, bệnh tật và những con đực có chất lượng tinh trùng kém. Vì là trại lợn giống ông bà của khu vực miền Bắc, trại lợn Minh Châu luôn chọn những con giống tốt và chất lượng tốt để có thể cung cấp cho khu vực miền Bắc.2 Tổng quan tài liệu và kết quả các nghiên cứu trong ngoài nước liên quan đến chuyên đề 2. Cơ sở khoa học 2.
Cấu tạo các cơ quan sinh dục cái Theo Đặng Quang Nam (2002) [9], cơ quan sinh dục cái có các bộ phận như sau: - Buồng trứng: gồm một đôi (dài 1,5 – 2,5 cm, khối lượng 3 - 4g) nằm trước cửa xoang chậu, ứng với vùng đốt sống hông 3 – 4. Có nhiều u nổi lên ngoài bề mặt buồng trứng - Buồng trứng được bao phủ bởi một lớp kết mạc hình sợi chắc chắn, bên trong chia làm hai phần, cả hai phần đều phát triển một thứ liên kết sợi xốp tạo nên một loại chất đệm.