Đặt vấn đề Chăn nuôi gia cầm là ngành đứng hai sau chăn nuôi lợn về cung cấp thực phẩm cho con người (niên giám thống kê 2018). Trong những năm gần đây ngành chăn nuôi gia cầm của nước ta có những bước tiến vượt bậc sánh vai các quốc gia khác trong khu vực. Theo thống kê năm 2018 tổng đàn gia cầm của nước ta là 408,9 triệu con, cung cấp 1.097 nghìn tấn thịt cho thị trường. Tốc độ tăng đàn bình quân giai đoạn 2015 - 2018 đạt 5,7%/năm (niên giám thống kê 2018).
Ngành chăn nuôi gia cầm có được những kết quả đó là nhờ chính sách hỗ trợ của Nhà nước, cũng như áp dụng những tiến bộ trong công tác giống, chế biến thức ăn, công tác thú y và chăm sóc nuôi dưỡng vào sản xuất. Tuy tốc độ tăng đàn trung bình 5,7%/năm song cơ cấu đàn gần như không thay đổi, gà địa phương và gà lông màu vẫn chiếm khoảng 68% tổng đàn. Trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hóa thì ngành nông nghiệp của chúng ta gặp khó khăn là điều khó tránh khỏi như áp lực về giá thành sản phẩm, yêu cầu chất lượng, yêu cầu người chăn nuôi phải thay đổi tư duy nhằm tăng giá trị sản phẩm, giảm giá thành. Khác hẳn với các ngành chăn nuôi khác, ngành chăn nuôi gà của nước ta luôn được thị trường nội địa ưu ái nhờ những đặc trưng chỉ có ở sản phẩm nội địa, cụ thể là chất lượng, màu sắc và mùi vị của thịt gà.
Với thị hiếu tiêu dùng của người Việt là sử dụng thịt gà lông màu có độ dai vừa phải, da màu vàng, khối lượng không quá to, thời gian nuôi phải trên 90 ngày, nên đây là lý do lý giải cho tỷ lệ gà địa phương và gà lông màu chiếm tỷ lệ cao trong tổng đàn. Gà lông màu hiện nay thường được gọi với tên là gà thả vườn. Nhóm gà này phát triển rộng khắp trong cả nước, đáp ứng hầu hết nhu cầu về thịt gà trong các bữa ăn hàng ngày và các bữa tiệc hoặc các dịp lễ, tết. Đây những giống gà địa phương hoặc con lai của chúng với các m 2 giống gà lông màu nhập nội.
Chúng đáp ứng được các yêu cầu của người chăn như khả năng đề kháng, mức độ đầu tư… cũng như yêu cầu của người tiêu dùng. Nắm bắt được thị hiếu người chăn nuôi về nhu cầu giống gà thả vườn nên các cơ sở giống đã sử dụng mái nhập nội cho lai với trống địa phương để hội tụ tất cả các ưu điểm của cả hai bên bố mẹ chúng ở thế hệ con lai. Một trong những công thức được ưa thích đó là (♂ Chọi Bình Định x ♀ Mía). Để đánh giá khả năng sinh trưởng cũng như tập làm quen với nghiên cứu khoa học chúng em tiến hành chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trị bệnh cho đàn gà Chọi Bình Định lai Mía thương phẩm tại Trang trại gia cầm Nguyễn Hải An, xã Tân Lập, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc”.
Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 1. Mục đích - Về kiến thức: Hiểu và vận dụng được các kiến thức như chuẩn bị các điều kiện để nuôi gia cầm (chuồng trại, dụng cụ…), đặc điểm của các đối tượng gia cầm nuôi trong cơ sở, lựa chọn thức ăn, kỹ thuật chọn gia cầm, kỹ thuật nuôi dưỡng, chăm sóc (vệ sinh chuồng trại, cho ăn, cho uống…), kiểm tra và đánh giá tình trạng sức khỏe đàn gia cầm, thực hiện quy trình phòng trị bệnh (vệ sinh thú y, phòng bệnh bằng vaccine, sử dụng thuốc phòng và trị bệnh), xử lý chất thải tại cơ sở chăn nuôi gia cầm, kế hoạch sản xuất trang trại, nội quy của cơ sở chăn nuôi gia cầm. - Về kỹ năng: Thành thạo một số kỹ năng về chăm sóc, nuôi dưỡng gia cầm. Thực hiện được việc chẩn đoán, phòng và điều trị bệnh cho các đối tượng gia cầm có trong trang trại.
Hiểu và sử dụng thành thạo các trang thiết bị trong chăn nuôi gia cầm. Học hỏi, nâng cao kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp và làm việc nhóm. Yêu cầu - Chịu khó tìm tòi, học hỏi về cách thức tổ chức, quy mô, kế hoạch sản xuất cụ thể của trang trại. - Nắm rõ các đặc điểm của đối tượng gia cầm nuôi trong trang trại.
- Tìm hiểu tình hình dịch tễ của trang trại, kết hợp với kiến thức đã học để đề xuất cách thức chăm sóc và phòng trị bệnh có hiệu quả. - Chủ động tìm hiểu về nguyên lý, cách thức hoạt động cũng như thực hành thành thạo các thao tác đối với các dụng cụ, trang thiết bị chăn nuôi. - Chuẩn bị kĩ những kiến thức đã được học về chăn nuôi gia cầm để sẵn sàng cho đợt thực tập và luôn luôn học hỏi, tìm hiểu và trau dồi thêm vốn kiến thức của bản thân. - Chăm chỉ, hăng hái tham gia các công việc tại cơ sở, nhất là các công việc chuyên môn, không ngại khó, ngại khổ.
m 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2. Điều kiện tự nhiên a. Vị trí địa lý - Tân Lập là xã miền núi, nằm ở phía đông của huyện Sông Lô.
- Phía tây giáp xã Nhạo Sơn và thị trấn Tam Sơn. - Phía nam giáp xã Yên Thạch và xã Như Thụy. - Phía bắc giáp xã Đồng Quế. - Phía nam giáp xã Vân Trục, thị trấn Lập Thạch và xã Xuân Hòa - huyện Lập Thạch.
Điều kiện tự nhiên - Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình 22 oC, số giờ nắng trung bình trong năm là 1.550 giờ, lượng mưa trung bình 1.800mm/năm, độ ẩm trung bình khoảng 84%, khí hậu Sông Lô được chia làm 4 mùa rõ rệt. Mưa nhiều vào mùa hè gây úng lụt vùng trũng do nước từ các dãy núi lớn như Tam Đảo và từ Sông Lô, sông Đáy trút vào đồng chiêm, nhiều khi tràn ngập cả ra đường liên huyện, liên xã gây cô lập các huyện dân cư và các xã. Mùa đông khí hậu khô hanh thậm chí gây hạn hán tại nhiều vùng đồi núi. - Điều kiện khí hậu, đất đai của xã tương đối thuận lợi cho phát triển nông nghiệp với cơ cấu cây con phong phú và đa dạng.
Tuy nhiên điều kiện đó cũng gây ra nhiều khó khăn cho chăn nuôi. Về mùa đông khí hậu thường lạnh, hay thay đổi đột ngột, về mùa hè nhiệt độ có lúc lên cao, trời nắng nóng gây bất lợi tới khả năng sinh trưởng, sức chống chịu bệnh tật của gia súc gia cầm. Điều kiện đất đai - Diện tích tự nhiên 723,87ha. Trong đó đất nông nghiệp chiếm 48,87ha.
- Cùng với sự gia tăng dân số, xây dựng cơ sở hạ tầng, nên diện tích đất nông nghiệp có xu hướng ngày một giảm, gây khó khăn cho việc chăn nuôi. Chính vì thế trong những năm tới cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa ngành trồng trọt và ngành chăn nuôi. Tình hình kinh tế - xã hội của xã Tân Lập a. Tình hình xã hội - Nhìn chung mức sống và trình độ dân trí của người dân ngày càng được nâng cao, hệ thống điện được nâng cấp, cung cấp tới tất cả các hộ dân, đường giao thông được bê tông hóa tới từng xóm, ngõ.
- Trạm y tế mới của xã hoạt động với nhiều trang thiết bị hiện đại, thường xuyên khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, đặc biệt là người già, bà mẹ và trẻ em. - Tuy nhiên việc dân cư phân bố không đều đã gây ra không ít khó khăn cho phát triển kinh tế cũng như quản lý xã hội của xã. Chính vì vậy đòi hỏi hoạt động của các ban, ngành phải thường xuyên, liên tục, tích cực và đồng bộ thống nhất từ trên xuống, đồng thời liên kết phối hợp với các địa phương trong và ngoài tỉnh, đưa nếp sống văn hóa mới phổ biến trong toàn xã tiến tới xây dựng con người văn hoá, gia đình văn hoá, thôn xóm văn hoá và xã văn hoá. Từ đó nâng cao ý thức, trách nhiệm của người dân, đồng thời đẩy mạnh lao động sản xuất, tạo công ăn việc làm cho những lao động dư thừa, từng bước đẩy lùi các tệ nạn xã hội.
Tình hình kinh tế - Nền kinh tế xã Tân Lập đang từng bước phá thế độc canh, song tỷ trọng thu nhập chủ yếu vẫn từ kinh tế nông nghiệp. Ngoài ra, các cây lương thực, cây nguyên liệu, cây công nghiệp ngắn ngày như lạc, mía, đậu m 6 tương vẫn được duy trì và phát triển. Một số cây công nghiệp dài ngày đang dần được thu hẹp về diện tích để nhường chỗ cho cây ăn quả có giá trị kinh tế cao như nhãn, vải, hồng… - Bên cạnh những nỗ lực tìm hướng đi trong việc phát triển tối ưu cây trồng trên đất nông nghiệp, lâm nghiệp của huyện, các vùng chiêm trũng ven sông, các hồ trong huyện cũng đang được chú trọng phát triển chăn thả thủy sản, chủ yếu là cá. Với phong trào cải tạo đồng chiêm trũng nuôi thả cá vụ, những năm gần đây Lập Thạch luôn duy trì ở mức ±1.200ha mặt nước.
- Ngoài gia súc, gia cầm là vật nuôi truyền thống, một số động vật nuôi mới đã được đưa vào sản xuất với quy mô tương đối rộng như bò sữa, dê, ong mật, đặc biệt là gia cầm. Phát triển đa dạng sản phẩm hàng hóa và quy mô sản xuất, quy mô hộ gia đình và nhóm hộ gia đình gắn với nông nghiệp nông thôn. Khôi phục và đầu tư chiều sâu các ngành nghề truyền thống, ưu tiên phát triển sản xuất vật liệu xây dựng, sơ chế, chế biến nông lâm sản, sản xuất hàng tiêu dùng, sửa chữa cơ khí, điện, điện tử là những mục tiêu ưu tiên của chính quyền huyện. Tình hình phát triển sản xuất - Kinh tế của xã trong những năm gần đây phát triển mạnh mẽ, do vậy mức sống của nhân dân đã được nâng lên từng bước rõ rệt.
Có được điều đó là nhờ vào chính sách phát triển sản xuất, xã hội hợp lý. Xã có chủ trương tăng thu nhập bình quân trên đầu người thông qua việc tăng cường phát triển chăn nuôi, trồng trọt. Nguồn lao động chủ yếu của xã vẫn tập trung vào sản xuất nông nghiệp nên việc phát triển nông nghiệp vẫn là chính. Xã đã thực hiện tốt công tác phục vụ sản xuất như cải tạo, tu bổ hệ thống thủy lợi, giao thông, cho vay vốn phát triển sản xuất, đưa ra cơ cấu vật nuôi cây trồng hợp lý, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất cây trồng vật nuôi.