Đặt vấn đề Chăn nuôi lợn có lịch sử phát triển rất lâu đời, gắn liền với nền nông nghiệp lúa nước, trở thành một hoạt động sản xuất rất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta. Ngành chăn nuôi lợn đã đáp ứng một lượng lớn thực phẩm cho con người. Bên cạnh đó, chăn nuôi lợn còn cung cấp phân bón và nguồn năng lượng sinh học phục vụ đời sống sinh hoạt. Thịt lợn ngon và có thể chế biến đa dạng hơn các loại thịt khác.
Ở nước ta thịt lợn chiếm từ 75 - 85% trong tổng lượng thịt tiêu thụ, còn trên thế giới tỉ lệ này khoảng 40% và đang có xu hướng tăng lên. Từ thực tế đáp ứng nhu cầu của con người cũng như vai trò kinh tế mà chăn nuôi lợn mang lại, các vấn đề năng suất, chất lượng thịt, chất lượng con giống cần được nâng cao. Hiện tại, một số giống lợn ngoại được nhập vào nước ta như: Yorkshire, Landrace, Pietrain, Duroc,. có khả năng sinh sản tốt, tỷ lệ nạc cao, tốc độ tăng trưởng nhanh,.
đang là đối tượng được ứng dụng rộng rãi và mang lại hiệu quả thực tế trong các trang trại lợn. Bên cạnh đó chăn nuôi lợn cũng phải đối mặt với nhiều căn bệnh khiến người chăn nuôi đau đầu, nhất là các bệnh gặp ở nái sinh sản. Chính vì vậy, em đã có điều kiện áp dụng những kiến thức đã học trên giảng đường vào thực tiễn và học được rất nhiều những điều bổ ích khi đi thực tập tốt nghiệp. Xuất phát từ lý do kể trên, chúng em đã tiến hành thực hiện chuyên đề sau: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và trị bệnh cho đàn lợn nuôi tại trang trại Bùi Huy Hạnh xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương”.
Mục đích, yêu cầu của đề tài 1. Mục đích - Nắm bắt và thực hiện quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nuôi tại trang trại. - Chẩn đoán được các bệnh thường gặp trên đàn lợn. Từ đó, có thể áp dụng được các phương pháp điều trị cho đàn lợn.
- Rèn luyện được các kỹ năng mềm tại cơ sở. Yêu cầu - Trực tiếp tham gia vào quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn nái nuôi tại trang trại. - Nghiêm chỉnh chấp hành những nội quy quy định riêng tại cơ sở thực tập g Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện của cơ sở nơi thực tập 2.
Điều kiện tự nhiên * Vị trí địa lý Trại lợn Bùi Huy Hạnh nằm trên địa bàn xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương nằm giữa những cánh đồng lúa bát ngát với tổng diện tích là 3 ha. Cách trung tâm huyện Tứ Kỳ trên 15 km, cách trung tâm thành phố Hải Dương 10 km. Xã Tái Sơn là một xã nằm ở phía nam của tỉnh Hải Dương, với diện tích tự nhiên 3,55 km2. Tứ Kỳ nằm hoàn toàn ở giữa vùng hạ lưu của hệ thống sông Thái Bình, đất đai của huyện được hình thành nhờ sự bồi đắp của hệ thống sông này.
* Điều kiện tự nhiên Tứ Kỳ là vùng đất được hình thành bởi phù sa của sông Thái Bình và sông Hồng. Địa hình thấp dần từ Bắc xuống Đông Nam. Khí hậu nhiệt đới gió mùa. Nhiệt độ hàng năm trung bình là 23,30oC, lượng mưa từ 1500 - 1600 mm, tập trung vào tháng 5 - 10 (80%).
Với độ ẩm trung bình hàng năm là 85%. Các con sông là nguồn cung cấp nước sinh hoạt và nước ngọt cho sản xuất, đồng thời là nguồn cung cấp thủy sản và đường thủy quan trọng. Đặc biệt Tứ Kỳ có một số xã có vùng nước lợ nên có một số con đặc sản: Rươi, tôm rảo, cà ra, đây là những con thủy sản đặc sản được nhiều người ưa chuộng. Điều kiện về hoạt động chăn nuôi của trại 2.
Quá trình thành lập Trang trại được xây dựng năm 2007, là trang trại lợn gia công cho Công ty Cổ phần Chăn nuôi CP (Charoen Pokphand Việt Nam) với quy mô là hơn 1200 lợn nái mẹ. Trang trại được xây dựng xa khu dân cư và thuận lợi về g giao thông, nguồn nước, có địa hình bằng phẳng và khí hậu thuận lợi thuộc địa bàn xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương với diện tích 3 ha. Hoạt động theo phương thức công ty làm chủ đưa lợn giống, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, kỹ thuật do công ty đưa về. Hiện tại, trang trại do ông Bùi Huy Hạnh làm chủ, cán bộ kỹ thuật của Công ty Cổ phần Chăn nuôi CP Việt Nam chịu trách nhiệm giám sát mọi hoạt động của trang trại.
Cơ cấu tổ chức nhân sự của trang trại Cơ cấu tổ chức gồm: 28 người + 1 chủ trại. + 2 kỹ sư phụ trách của công ty. + 2 tổ trưởng của trại. Cơ sở vật chất của nơi thực tập Là trại của công ty nên có cơ sở vật chất cũng như đời sống sinh hoạt của công nhân trong trại khá đầy đủ gồm: Bên ngoài khu chăn nuôi là khu văn phòng hành chính, chịu trách nhiệm tiếp đãi và làm các thủ tục ra vào của công nhân.
Bên trên khu hành chính gồm có khu nhà ở, khu bếp và các công trình phục vụ cho các hoạt động vui chơi, giải trí cho công nhân. Đến khu chăn nuôi xung quanh được bao bọc bởi hàng rào, có cổng ra vào riêng. Chuồng trại xây dựng hợp lý, hệ thống chuồng nuôi tự động, nền sàn bê tông cho lợn nái, đực, sàn nhựa cho lợn con. Khu chăn nuôi được xây dựng chuồng cho hơn 1200 nái sinh sản: 6 chuồng đẻ, 2 chuồng bầu, 2 chuồng cách ly, 1 chuồng cai sữa.
Bên cạnh đó còn một số khu nhà khác như: kho cám, phòng pha tinh, kho thuốc, phòng sát trùng. g Trang thiết bị trong chuồng nuôi hiện đại, đầu chuồng có hệ thống dàn mát, cuối chuồng có quạt thông gió và 2 bên tường có dãy cửa sổ lắp kín. Trên trần được lắp hệ thống chống nóng bằng tôn lạnh. Đường đi lại giữa các ô chuồng đều được đổ bê tông, có hố sát trùng mỗi cửa ra vào.
Phòng pha tinh có những dụng cụ tiên tiến, phục vụ cho thao tác pha chế tinh, máy đếm mật độ tinh trùng, kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng nhiệt tinh, nồi hấp cách thủy dụng cụ và một số thiết bị khác. Nguồn nước thải đều được xử lý sạch sẽ qua hệ thống biogas. Hệ thống cấp nước trong khu chăn nuôi là nước khoan. Nước uống cho lợn được cung cấp bởi một bể lớn được xây dựng ở giữa chuồng lợn nái 6 và bầu 2.
Nước tắm và nước xả đáy, phục vụ các công việc khác, được dẫn từ bể lọc và bơm qua hệ thống. Dẫn đến két nước giữa lồng. Hệ thống điện: lắp đặt máy phát điện và các thiết bị điện khác để duy trì hoạt động của trang trại. Hệ thống khử trùng: + Phòng khử trùng người gồm 5 phòng, mỗi phòng gồm 3 ngăn, 1 ngăn thay quần áo, 1 ngăn sát trùng và 1 ngăn tắm.
Phòng tắm vệ sinh được trang bị đầy đủ tiện nghi như: bình nóng lạnh, vòi hoa sen, bóng sưởi, chậu rửa mặt, gương soi, móc áo, khăn tắm, xà phòng, dầu gội đầu. + Hệ thống sát trùng khu vực ngoài chuồng trại gồm: ô tô sát trùng, hố sát trùng, hố xí khử trùng, máy phun khử trùng di động khu vực chăn nuôi, máy phun nước vôi,. Kho chứa thức ăn: có trần bao quanh, cách mặt đất 30 cm, dùng để chứa thức ăn chăn nuôi. Hệ thống xử lý môi trường: rác thải sau khi đã qua xử lý bằng hệ thống biogas, có điểm xử lý rác, thiết bị khử mùi phía sau quạt hút, hố giết lợn xa khu chăn nuôi.
g Các công trình phụ trợ khác: khu ở tách biệt với khu chăn nuôi,bao gồm: khu ở và khu ở cho kỹ sư, cán bộ quản lý, công nhân và sinh viên. Trại còn đầu tư bàn bi-a, tập tạ, cầu lông. phục vụ nhu cầu giải trí của các kỹ sư, công nhân sau mỗi ngày làm việc. Phòng bếp và phòng ăn luôn được giữ sạch sẽ.
Cổng trại với hàng rào đảm bảo an ninh. Có nhà kho phục vụ chăn nuôi như nhà đựng vôi bột, bể chứa nước vôi trong,. Tình hình sản xuất của trang trại * Công tác chăn nuôi Công tác chăn nuôi của trại có nhiệm vụ chính là chăn nuôi, sản xuất con giống và chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật. * Công tác vệ sinh thú y tại trại Nhiệm vụ quan trọng nhất trong chăn nuôi là việc thực hiện vệ sinh phòng bệnh, từ đó giúp vật nuôi giảm nguy cơ bùng phát dịch bệnh đồng thời làm tăng sức đề kháng cho vật nuôi trước các loại mầm bệnh, đặc biệt là các bệnh truyền nhiễm.
- Công tác vệ sinh: Hệ thống chuồng cả trang trại được xây dựng theo đúng tiêu chuẩn nên vào mùa hè chuồng sẽ không bị nóng và tới mùa đông chuồng sẽ không quá lạnh. Xung quanh chuồng còn trồng các loại cây xanh giúp làm trong lành không khí điều hòa sự thông thoáng cho khu vực chuồng nuôi. Đối với việc vệ sinh chuồng trại, được thực hiện định kỳ bằng các phương pháp rửa chuồng, để khô và tiến hành xông chuồng bằng thuốc tím cùng với formol. Chuồng bầu và chuồng đẻ cần phun sát trùng thường xuyên vì dễ bị mầm bệnh xâm nhập.
Mỗi cuối buổi sẽ có công nhân được phân công đi quét dọn, thu gom rác thải, thay hố sát trùng ở đầu mỗi chuồng. Đường đi lại trong khu chăn nuôi được quét dọn, phun sát trùng thường xuyên. g Các công nhân kỹ thuật hay khách tham quan trước khi muốn vào khu chăn nuôi đều phải cách ly 2 ngày ở khu cách ly, tắm sát trùng, ngâm quần áo vào sát trùng và thay quần áo lao động trong trại. - Công tác phòng bệnh: Trước các khu chuồng thì có hành lang nước vôi mọi người lên chuồng đều phải đi qua hành lang đó trước khi vào chuồng làm việc.
Các phương tiện đi lại ra vào trang trại trước tiên đều được rửa sạch sẽ rồi mới được phun sát trùng ngay tại cổng vào. Công tác phòng bệnh tránh những bệnh truyền nhiễm và các bệnh mãn tính đã được trang trại tổ chức tiêm phòng vaccine đầy đủ với tỷ lệ 100% và đúng quy trình giúp đàn vật nuôi có trạng thái miễn dịch tốt hơn. - Công tác trị bệnh: Bệnh xảy ra ở lợn thì được các trưởng chuồng, cán bộ kỹ thuật quản lý phát hiện sớm, điều trị ngay ở giai đoạn đầu để tránh gây thiệt hại và điều trị hiệu quả được cao. Đánh giá chung • Thuận lợi - Vị trí xây dựng trang trại cách xa khu dân cư và nằm trong vùng ít trang trại chăn nuôi có giao thông thuận tiện giúp dễ dàng.