MỞ ĐẦU 1. Đặt vấnđề Ngành chăn nuôi gia cầm gần một thập kỷ qua đã được cả thế giới quan tâm và phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng. Chăn nuôi gia cầm chiếm một vị trí quan trọng trong chương trình cung cấp protein động vật cho con người. Gia cầm chiếm từ 20 - 25% trong tổng sản phẩm thịt, ở các nước phát triển, thịt gà chiếm từ 30% hoặc hơn nữa.
Theo số lượng thống kê của FAO (2014) thì năm 2012 toàn thế giới đã sản xuất ra 21.867,323 triệu con gà tương đương với 92.811,674 nghìn tấn thịt gà, 1.698,767 triệu thủy sản, 66.372,549 nghìn tấn trứng. Chăn nuôi gia cầm ở Việt Nam đang phát triển cả về số lượng và chất lượng. Với 4 phương thức chủ yếu là: Chăn nuôi nhỏ nông hộ, Chăn nuôi vịt thả đồng, Chăn nuôi bán công nghiệp, Chăn nuôi công nghiệp. Năm 2017 đã sản xuất ra 2.042 ngàn tấn thịt, 8.763,9 triệu quả trứng, trong đó có 5.549 triệu quả trứng gà và 3.294,9 triệu quả trứng vịt.
Hầu hết các giống gia cầm cao sản của thế giới đều được nhập vào nuôi ở Việt Nam thông qua các công ty nước ngoài, công ty liên doanh (Japa, Dabaco, Pro Conco,…) và Trung tâm nghiên cứu gia cầm – Viện chăn nuôi. Trong đó có gàri mận hòa phát, hiện nay đang được nuôi phổ biến ở nước ta. Đây là giống gà có đặc điểm ít bệnh, dễ nuôi, năng suất thịt cao, ngon, thích nghi tốt với điều kiện khí hậu ở Việt Nam. Để khai thác tối đa khả năng sản xuất của vật nuôi, các phương thức chăn nuôi chuồng hở là sự lựa chọn của các trang trại có vốn đầu tư vừa và nhỏ hệ thống mạng lưới chăn nuôi gia công do các công ty nước ngoài triển khai đang phát triển hầu khắp cả nước.
Trong đó quy trình chăm sóc nuôi c 2 dưỡng có ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và chất lượng các sản phẩm của gia cầm. Được sự hướng dẫn của cô giáo GS. Nguyễn Thị Kim Lan, tôi tiến hành chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và trị bệnh trên đàn gà thịt lông màu ri mận Hòa Phát nuôi tại trại gà khương huệ, tổ 9, huyện đồng hỷ, tỉnh thái nguyên”. Mục đích của đề tài.
- Thực hiện được quy trình chăm sóc nuôi dưỡng gà thịt. - Thực hiện lịch phòng bệnh trên gà thịt. - Xác định được tình hình nhiễm bệnh trên đàn gà thịt nuôi tại trại gàKhương Huệ, Tổ 9, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên - Xây dựng phác đồ điều trị bệnh cho gà thịt. Yêu cầu của đề tài.
- Nắm được quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng gà thịt. - Biết cách phòng bệnh cho gà thịt. - Biết được cách chẩn đoán và điều trị bệnh. c 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2. Điều kiện tự nhiên 2. Vị trí địa lý. Đồng Hỷ là huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên.
Huyện lỵ đặt tại thị trấn Chùa Hang, cách trung tâm thành phố Thái Nguyên 3 km về phía đông bắc. Địa phận huyện Đồng Hỷ trải dài từ 21032’ đến 21051’độ vĩ bắc, 105046’đến 106004’ độ kinh đông. Phía bắc giáp huyện Võ Nhai và tỉnh Bắc Cạn. phía nam giáp huyện Phú Bình và thành phố Thái Nguyên.
c 4 phía đông giáp tỉnh Bắc Giang. phía tây giáp huyện Phú Lương và thành phố Thái Nguyên. Địa giới tự nhiên phân cách Đồng Hỷ và thành phố Thái Nguyên là dòng sông Cầu uốn lợn quanh co từ xã Cao Ngạn theo hướng bắc - nam xuống đến đập Thác Huống (xã Huống Thượng ). Đồng Hỷ có tổng diện tích tự nhiên 520.
Trong đó đất lâm nghiệp chiếm 50,8%, đất nông nghiệp 16,4%, đất thổ cư 3,96%, đất cho các công trình công cộng 3,2% và đất cha sử dụng chiếm 25,7%. Núi Chùa Hang còn gọi là núi đá Hoá Trung, núi Long Tuyền, nằm trên đất thị trấn Chùa Hang, huyện Đồng Hỷ ngày nay. Chùa Hang là một trong những danh thắng nổi tiếng của tỉnh Thái Nguyên. Đặc điểm Khí hậu Đồng Hỷ có 4 mùa: xuân, hạ, thu, đông.
Lượng mưa trung bình khoảng 2.Điều kiện kinh tế, xã hội 2. Điều kiện kinh tế. Hầu hết các xã, thị trấn ở Đồng Hỷ có đường ô tô đến trung tâm, 100% số xã, thị trấn trong huyện đã được trang bị điện thoại. Đất đai ở Đồng Hỷ thích hợp cho việc trồng rừng, trồng lúa, nấm, rau màu và chăn nuôi gia cầm… 2.
Đồng Hỷ có 18 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm 3 thị trấn Chùa Hang, Trại Cau, Sông Cầu và các xã: Hóa Thượng, Huống Thượng, Nam Hòa, Tân Lợi, Cây Thị, Hợp Tiến, Khe Mo, Văn Hán, Hóa Trung, Quang Sơn, Văn Lăng, Tân Long, Hòa Bình, Minh Lập, Linh Sơn.Đồng Hỷ là nơi sinh sống của các dân tộc như: Nùng, Sán Chay, Sán Dìu.Người Sán Dìu sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước, làm nương, soi, bãi và chăn nuôi, khai thác c 5 lâm sản, đánh bắt cá, làm gạch ngói, rèn, đan lát.Người Sán Dìu sống tập trung thành những xóm nhỏ, trong những ngôi nhà lợp rạ, tranh, ngói, tường trình hay xây gạch mộc.Trang phục của người Sán Dìu gần giống với trang phục người Kinh, trong những dịp lễ, tết, người Sán Dìu thường sử dụng nhạc cụ như: tù và, kèn, trống, sáo, thanh la, não bạt và chơi những trò chơi đi cà kheo, đánh khăng, đánh cầu lông kiểu Sán Dìu, kéo co và đặc biệt là hát Soọng cô. Đây là lối hát đối đáp nam nữ, mỗi bài là một bài thơ được viết theo thể "thất ngôn tứ tuyệt". Sọong cô thường được hát trong những dịp lễ tết hoặc những khi gia đình có chuyện vui. Cơ cấu tổ chức của trại.
Cơ cấu của trại tổ chức như sau : - Diện tích chuồng trại là 2400 𝑚2 (2 chuồng). - Gồm 2 dãy chuồng, mỗi chuồng nuôi khoảng 10. - Chuồng 1 có chiều dài 75m, chiều rộng 17m và chuồng 2 dài 75m, rộng 15m. - Hệ thống bảo vệ xung quanh được xây tường rào bao quanh và lắp 8camera theo dõi quanh khu vực trại.
- Đội ngũ cán bộ, quản lý, kĩ thuật, công nhân gồm: 01 quản lý 01 kĩ sư 02 công nhân 02 sinh viên thực tập Và 01 chủ trang trại. - Trong quá trình thực tập tại cơ sở, trại tạo điều kiện cho chỗ ở và sinhhoạt theo gia đình chủ trại. Tổng quan và các nghiên cứu trong và ngoài nước 2. Cơ sở khoa học 2.
Một số đặc điểm của giống gà ri mận Hòa Phát - Gà ri lai hòa phát mật độ nuôi thích hợp nhất 8 - 10 con/𝑚2. Giống gà này cho thu hoạch sau 3,5 - 4 tháng nuôi. Trọng lượng một con trưởng thành có thể đạt tới 2,7 kg (gà trống) và 1,8 kg (gà mái). Gà ri mận Hòa Phát có lông màu mận đỏ, da vàng, thịt dai, thơm ngon nên được thị trường rất ưa chuộng.
- Trong đó Gà ri mận Hòa Phát được lai giữa gà trống ở Ba Vì (Hà Nội) với giống gà mái nước ngoài. Đặc điểm sinh lý tiêu hóa ở gà Gia cầm có tốc độ trao đổi chất và năng lượng cao hơn so với động vật có vú. Cường độ tiêu hoá mạnh ở gia cầm được xác định bằng tốc độ di chuyển của thức ăn qua ống tiêu hoá. Ở gà còn non, tốc độ này là 30 - 39 cm trong 1 giờ; ở gà lớn hơn là 32 – 40 cm và ở gà trưởng thành là 40 – 42 cm.
Chiều dài của ống tiêu hoá gia cầm không lớn, thời gian mà khối thức ăn được giữ lại trong đó không vượt quá 2 - 4 giờ, ngắn hơn rất nhiều so với động vật khác. Do đó để quá trình tiêu hoá thức ăn diễn ra thuận lợi và có hiệu quả cao, thức ăn cần phải phù hợp về với tuổi và trạng thái sinh lý, được chế biến thích hợp, đồng thời có hàm lượng xơ ở mức ít nhất(Hội chăn nuôi Việt Nam, 2001[3]). * Tiêu hóa ở miệng Gia cầm không có môi và răng, hàm ở dạng mỏ, chỉ có tác dụng lấy thức ăn, chứ không có tác dụng nghiền nhỏ. Vịt, ngỗng có các răng ngang ở mép nhỏ chứa nhiều tận cùng dây thần kinh lâm ba, có tác dụng cảm giác.
Khi thức ăn đi qua khoang miệng thì được thấm ướt bởi nước bọt, các tuyến nước bọt của gia cầm kém phát triển, thành phần chủ yếu của nước bọt c 7 là dịch nhầy. Trong nước bọt có chứa một số ít menamilaza nên có ít tác dụng tiêu hóa. Động tác nuốt ở gia cầm được thực hiện nhờ chuyển động rất nhanh của lưỡi, khi đó thức ăn được chuyển rất nhanh vào vùng trên của hầu vào thực quản. Trong thành thực quản có các tuyến nhầy hình ống, tiết ra chất nhầy, cũng có tác dụng làm ướt và trơn thức ăn khi nuốt.
*Tiêu hóa ở diều Diều là khoảng mở rộng của thực quản ở khoang ngực. Diều dự trữ và chuẩn bị tiêu hóa thức ăn, thức ăn ở diều được thấm ướt, mềm ra trộn kĩ với một phần tinh bột được thủy phân. *Tiêu hóa ở dạ dày Tiêu hóa ở dạ dày tuyến Dạ dày tuyến giống như cái bao túi, gồm 3 lớp: màng nhầy, màng cơ, màng thanh dịch. Màng nhầy rất phát triển.
Ở đây các tuyến tiết ra pepsin và axit muối. Vì vậy tiêu hóa ở dạ dày tuyến có phản ứng axit, độ pH 3,1 – 4,5. Dịch dạ dày được tiết vào trong khoang của dạ dày tuyến, có axit clohydric, enzim và musin. Cũng như ở động vật có vú, pepsin được tiết ra ở dạng không hoạt động - pepsinogen và được hoạt hoá bởi axit clohydric.
Các tế bào hình ống của biểu mô màng nhầy bài tiết ra một chất nhầy đặc rất giàu musin, chất này phủ lên bề mặt niêm mạc của dạ dày. Sự tiết dịch dạ dày ở gia cầm là liên tục, sau khi ăn thì tốc độ tiết tăng lên. Tiêu hóa ở dạ dày cơ Dạ dày cơ có hình dạng như hai chiếc đĩa nhỏ úp vào nhau có thành rất dày, có màu đỏ sẫm. Dạ dày cơ nằm ở bên trái của gan.
Thức ăn được đưa qua đám rối vị giác (lưỡi và cổ) để phân biệt thức ăn (đắng, chua)Thức ăn được thấm ướt nhờ dịch tiết (thực quản và diều). c 8 Nước qua diều tới dạ dày tuyến, dạ dày cơ rồi vào ruột. Nếu gia cầm đói, thức ăn đi thẳng vào dạ dày tuyến và dạ dày cơ (sau khi đầy rồi mới tích lại ở diều). Dưới ảnh hưởng của men amilaza của tuyến nước bọt, tinh bột được đường hóa do quá trình vi sinh vật phân giải ở diều.