Chương 1: Giới thiệu. Chương này giới thiệu khái quát các nội dung chính của luận án như lý do, mục tiêu, nội dung, phạm vi nghiên cứu; cấu trúc, ý nghĩa và đóng góp của luận án. Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu. Chương này trình bày cơ sở lý luận cùng với thực nghiệm nghiên cứu có liên quan trong và ngoài nước để minh chứng cho những lý thuyết, đồng thời làm cơ sở cho quá trình phân tích, lý giải và đề xuất giải pháp của luận án.
Phần cuối của chương này sẽ trình bày phương pháp nghiên cứu chi tiết làm cơ sở hình thành mô hình nghiên cứu sử dụng trong luận án. Chương 3: Tổng quan địa bàn nghiên cứu. Khái quát những vấn đề về tình hình kinh tế - xã hội, về hiện trạng sử dụng đất, về hiệu quả sản xuất,. trên địa bàn nghiên cứu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Chương này mô tả lại bức tranh toàn diện về hoạt động sản xuất lúa của nông hộ ĐBSCL. Bên cạnh đó, chương này giúp xác định ảnh hưởng của quy mô đến hiệu quả sản xuất, đồng thời xác định quy mô đất tối ưu trong sản xuất lúa cũng như khả năng đóng góp của quy mô đến hiệu quả sản xuất lúa của nông hộ ĐBSCL làm cơ sở đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất, cải thiện thu nhập và nâng cao 7 luan an mức sống của nông hộ ĐBSCL. Chương 5: Kết luận và kiến nghị.
Trên cơ sở kết quả đạt được ở các chương trước, luận án rút ra kết luận và đề xuất kiến nghị đối với các chủ thể có liên quan.7 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN 1.1 Về lý luận Luận án hệ thống hóa các chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động sản xuất, cũng như hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về mối quan hệ giữa quy mô đất và hiệu quả hoạt động sản xuất được đo lường trên các khía cạnh khác nhau thể hiện qua 2 nhóm: (i) nhóm thể hiện chỉ tiêu năng suất sản xuất (gồm năng suất đất, năng suất lao động, hiệu quả đồng vốn và năng suất nhân tố tổng hợp) và (ii) nhóm thể hiện chỉ tiêu hiệu quả sản xuất (là hiệu quả kinh tế). Bên cạnh đó, nghiên cứu hệ thống hóa các phương pháp ước lượng phù hợp với từng khía cạnh đo lường. Đồng thời, nghiên cứu cũng cung cấp phương pháp xác định quy mô đất tối ưu để tối đa hóa hiệu quả hoạt động sản xuất cho nông hộ canh tác lúa ở ĐBSCL.2 Về thực tiễn Trên cơ sở phân tích mối quan hệ giữa quy mô đất với các chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động sản xuất khác nhau. Kết quả nghiên cứu cung cấp những bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa quy mô đất và hiệu quả hoạt động sản xuất lúa được đo lường trên những khía cạnh khác nhau để làm cơ sở khoa học vững chắc cho việc hoạch định các chính sách phát triển ngành trồng lúa của vùng thông qua những chỉ tiêu và phương pháp khác nhau cho thấy việc đánh giá đa chiều về hiệu quả hoạt động sản xuất.
Trên cơ sở đó, xác định được ngưỡng quy mô tối ưu ứng với từng thước đo hiệu quả hoạt động sản xuất. Dựa trên kết quả phân tích, luận án đề xuất những giải pháp sử dụng hiệu quả quy mô đất tối ưu nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất lúa, gia tăng thu nhập và cải thiện cuộc sống cho nông hộ trồng lúa trong vùng khảo sát, đồng thời làm cơ sở cho các nhà hoạch định chính sách có những can thiệp thiết thực và hiệu quả hơn phù hợp với thực tế của địa phương trong bối cảnh xã hội đang khuyến khích “dồn điền đổi thửa”. 8 luan an CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Chương này sẽ hệ thống hóa cơ sở lý luận về ảnh hưởng của quy mô đến hiệu quả hoạt động sản xuất được đo lường theo từng khía cạnh khác nhau. Đầu tiên sẽ trình bày tổng quan về các cách định nghĩa (thước đo) về HQHĐSX nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa nói riêng.
Tiếp theo, trình bày cơ sở lý luận về ảnh hưởng của quy mô đất đến HQHĐSX thông qua mô hình tổng quát và cơ sở lý luận về quy mô tối ưu. Trên cơ sở lý thuyết trình bày, chương này sẽ mô tả bức tranh toàn cảnh về các kết quả nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm ở nhiều nước trên thế giới về mối quan hệ giữa quy mô và hiệu quả hoạt động sản xuất được đo lường trên những khía cạnh khác nhau làm nền tảng lý luận vững chắc triển khai trong luận án. Phần cuối của chương trình bày phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận án. Để đạt được mục tiêu và nội dung nghiên cứu, luận án tiến hành qua ba bước: (i) Đầu tiên, xác định hoặc ước lượng từng thước đo thể hiện HQHĐSX (trừ EE); (ii) Bước 2, ước lượng ảnh hưởng của quy mô đến HQHĐSX thông qua các khía cạnh khác nhau; (iii) Sau cùng, xác định quy mô tối ưu.
Bên cạnh đó, phần này cũng trình bày năm mô hình nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của quy mô đến HQHĐSX theo năm cách đo lường khác nhau.1 Khái niệm Nông hộ Trong một số từ điển ngôn ngữ học cũng như từ điển chuyên ngành kinh tế, “Hộ là tất cả những người sống chung trong một ngôi nhà và nhóm người đó có cùng huyết thống, người làm công và người cùng ăn chung”. Theo Liên Hợp Quốc “Hộ gồm những người sống chung dưới một ngôi nhà, cùng ăn chung, làm chung và cùng có chung một ngân quỹ”. Theo Ellis (1993) “Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, chủ yếu bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao”. Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề 9 luan an rừng, nghề cá và các hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn”.
Từ khái niệm trên, nông hộ có thể được hiểu là những hộ nông dân làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp hoặc kết hợp làm nhiều nghề, sử dụng lao động, tiền vốn của gia đình. Nông hộ có những đặc trưng riêng và cơ chế vận hành khá đặc biệt không giống như những đơn vị kinh tế khác, ở nông hộ có sự thống nhất chặt chẽ giữa việc sở hữu, quản lý, sử dụng các yếu tố sản xuất, có sự thống nhất giữa quá trình sản xuất, trao đổi, phân phối, sử dụng và tiêu dùng. Nông hộ là đơn vị tái sản xuất các nguồn lực của quá trình tái sản xuất (gồm lao động, đất đai và vốn). Trong quá trình đó, nó có mối liên hệ chặt chẽ với các đơn vị khác trong hệ thống kinh tế quốc dân.
Vì vậy, việc khai thác đầy đủ những khả năng và tiềm lực của nông hộ sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Các khái niệm liên quan đến quy mô và quy mô tối ưu Theo Gregor (1969) và Adams (1988), nông trại là một khu đất chủ yếu phục vụ cho các quá trình sản xuất nông nghiệp với mục đích chính là sản xuất lương thực và các cây trồng khác, là cơ sở cơ bản trong sản xuất thực phẩm. Quy mô đất sản xuất là tổng diện tích đất thuộc quyền sở hữu của chủ hộ bao gồm đất canh tác, đất vườn, đất ở và các loại đất khác. Hoque (1988) cho rằng “Đất đai là yếu tố khan hiếm”.Theo Heltberg (2001) “Đất đai là nguồn lực quan trọng bên cạnh các tài sản sinh kế khác như lao động, vốn con người; là tài sản bảo đảm tạo ra thu nhập và là tài sản thế chấp chủ yếu để tiếp cận tín dụng”.
Đồng thời, cơ quan Phát triển Quốc tế Anh quốc DFID (2002) cũng khẳng định: “Đất đai chính là yếu tố quan trọng trong xóa đói giảm nghèo”. Quy mô tối ưu thể hiện sự kết hợp các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất nhằm mang lại hiệu quả sản xuất cao nhất trong sản xuất một đơn vị sản phẩm nhất định (Hassanpour, 2013). Tương tự, Wickramaarachchi và Weerahewa (2018) cho rằng, quy mô tối ưu là quy mô mà tại đó hiệu quả hoạt động sản xuất đạt giá trị cao nhất. Hiệu quả hoạt động sản xuất nông nghiệp Freeman (2008) cho rằng, năng suất là tỷ lệ của một thước đo khối lượng đầu ra cho một thước đo sử dụng đầu vào.
Nhiều nhà nghiên cứu dựa trên những quan điểm, những quy tắc riêng của mình và những nông dân, các nhà nông học, các nhà kinh tế học hay những nhà địa lý cũng giải thích năng suất nông nghiệp theo nhiều cách khác 10 luan an nhau. Theo Dharmasiri (2012) năng suất sản xuất nông nghiệp chính là “đầu ra trên mỗi đơn vị đầu vào” hoặc “sản lượng trên một đơn vị diện tích hay quy mô” và hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp là kết quả của việc sử dụng hiệu quả các yếu tố sản xuất. Tương tự, hiệu quả sản xuất nông nghiệp có thể được định nghĩa là tỷ số của chỉ tiêu sản lượng nông nghiệp địa phương với tổng đầu vào sử dụng trong sản xuất (Shafi, 1984). Do đó, hiệu quả hoạt động sản xuất nông nghiệp cho thấy mối quan hệ giữa nông nghiệp với những đầu vào chính như đất đai, lao động hoặc vốn, trong khi các yếu tố bổ sung khác vẫn giữ nguyên.
Dharmasiri (2012), Wickramaarachchi và Weerahewa (2018) cho rằng hiệu quả hoạt động sản xuất nông nghiệp bao gồm năng suất đất, năng suất lao động và vốn. Từ đó, những tác giả này đã đưa ra các thước đo tương ứng với từng loại hiệu quả hoạt động sản xuất (HQHĐSX): - Năng suất đất là yếu tố quan trọng trong sản xuất nông nghiệp do đây là yếu tố cố định và luôn tồn tại trong sản xuất, cùng với 2 yếu tố sản xuất chính (lao động và vốn). Năng suất đất có thể gia tăng thông qua việc cải tiến giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và các phương pháp thâm dụng lao động (Fladby, 1983). Bên cạnh đó, có thể gia tăng năng suất đất thông qua đa dạng hoá cây trồng hoặc đa vụ trên cùng một vùng đất mà nông dân thực hiện (Dharmasiri, 2008) và cũng có thể trồng xen canh trên cùng một vùng đất (Dharmasiri, 2010).
- Năng suất lao động là yếu tố quan trọng quyết định thu nhập của nông hộ trong sản xuất nông nghiệp.