phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo; Luận văn gồm 3 chƣơng. Dƣới đây là nội dung của luận văn. Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ƢU ĐÃI NGƢỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG 1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGƢỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG 1.1 Khái niệm ngƣời có công với cách mạng Chế độ ƣu đãi đối với ngƣời có công với cách mạng đã đƣợc thực hiện ở nƣớc ta từ rất sớm, nhƣng cho đến nay, qua nghiên cứu các văn bản quy phạm pháp luật về ƣu đãi ngƣời có công, chúng ta vẫn chƣa thấy có khái niệm rõ ràng về ngƣời có công. Tuy nhiên, căn cứ vào các tiêu chuẩn hiện hành đối với các đối tƣợng hƣởng ƣu đãi của Nhà nƣớc đã quy định, các nhà khoa học đã đƣa ra quan điểm xác định khái niệm ngƣời có công với cách mạng.
Theo nghĩa rộng, có tác giả cho rằng: "Ngƣời có công là những ngƣời lao động bình thƣờng, làm việc đại nghĩa, có công lao to lớn đối với đất nƣớc, tự coi đó là nghĩa vụ đối với cộng đồng không bao giờ kể công và đòi hỏi cộng đồng báo nghĩa" [16; trang 6 ] Tác giả khác luận giải cụ thể hơn: Ngƣời có công là những ngƣời không phân biệt tôn giáo, tín ngƣỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác; đã tự nguyện cống hiến sức lực, tài năng, trí tuệ, có ngƣời hy sinh cả cuộc đời mình cho sự nghiệp của dân tộc. Sự cống hiến của họ vì lợi ích của đất nƣớc 8 đƣợc nhân dân tôn vinh và đƣợc Nhà nƣớc thông qua cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền ghi nhận theo quy định của pháp luật, đồng thời cung cấp cho họ các chế độ ƣu đãi về kinh tế, về chính trị, xã hội. Ở đây có thể thấy rõ những tiêu chí cơ bản xác định nội hàm khái niệm ngƣời có công. Đó phải là những ngƣời có thành tích đóng góp hoặc có cống hiến lớn lao, xuất sắc vì lợi ích chung của đất nƣớc.
Những đóng góp cống hiến đó có thể đƣợc thực hiện trong các cuộc kháng chiến vì độc lập tự do của Tổ quốc hoặc cũng có thể diễn ra trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nƣớc. Trong phạm vi hẹp, khái niệm ngƣời có công đƣợc xác định là những ngƣời có cống hiến trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc dƣới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các chế độ đối với ngƣời có công theo quy định hiện hành của pháp luật nƣớc ta chủ yếu áp dụng đối với các đối tƣợng này. Đó là "Những ngƣời không phân biệt tôn giáo, tín ngƣỡng, dân tộc, nam, nữ., có những đóng góp, cống hiến xuất sắc trong thời kỳ trƣớc cách mạng tháng Tám năm 1945, trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, đƣợc các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận theo quy định của pháp luật" [11; trang 26].
Dƣới góc độ này, ngƣời có công với cách mạng bao gồm những ngƣời tham gia hoặc giúp đỡ cách mạng, họ đã hy sinh cả cuộc đời hoặc một phần thân thể hoặc có thành tích đóng góp lớn cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta dƣới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.2 Phân loại ngƣời có công Ngƣời có công với cách mạng ở nƣớc ta, theo quy định của pháp luật ƣu đãi ngƣời có công với cách mạng ở nƣớc ta, bao gồm các đối tƣợng sau: Thứ nhất, Ngƣời hoạt động cách mạng trƣớc Cách mạng Tháng Tám năm 1945. 9 Ngƣời hoạt động cách mạng trƣớc cách mạng Tháng Tám năm 1945 là ngƣời tham gia các tổ chức cách mạng từ ngày 31 tháng 12 năm 1944 trở về trƣớc và ngƣời đứng đầu các tổ chức quần chúng cách mạng cấp xã hoặc thoát ly hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến trƣớc ngày Tổng khởi nghĩa. Thứ hai, Liệt sỹ. Liệt sỹ là ngƣời hy sinh trong sự nghiệp vẻ vang của dân tộc, đƣợc Nhà nƣớc công nhận và truy tặng Bằng Tổ quốc ghi công trong khi: - Chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu; - Trực tiếp đấu tranh chính trị, đấu tranh binh vận với địch; - Hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt, tra tấn không chịu khuất phục, kiên quyết đấu tranh, thực hiện chủ trƣơng vƣợt tù, vƣợt ngục mà hy sinh; - Đấu tranh chống các loại tội phạm; - Làm nghĩa vụ quốc tế; - Dũng cảm làm những công việc cấp bách phục vụ quốc phòng và an ninh, dũng cảm cứu ngƣời, cứu tài sản của Nhà nƣớc và nhân dân; - Chết do ốm đau, tai nạn khi đang làm nhiệm vụ phục vụ quốc phòng và an ninh ở những vùng đặc biệt khó khăn, gian khổ (nơi có phụ cấp lƣơng đặc biệt mức 100%); - Thƣơng binh hoặc ngƣời hƣởng chính sách nhƣ thƣơng binh bị chết do vết thƣơng tái phát, đƣợc y tế cơ sở hoặc bệnh viện nơi điều trị xác nhận và đƣợc chính quyền địa phƣơng hoặc đơn vị quản lý nhận xét là xứng đáng.
Thứ ba, Thân nhân liệt sỹ. Trong tâm thức của nhân dân ta vốn tồn tại truyền thống đạo lý hết sức tốt đẹp là "Ăn quả nhớ ngƣời trồng cây", "Uống nƣớc nhớ nguồn". Nhất là luôn luôn tôn vinh, thành kính đối với những ngƣời đã hy sinh cống hiến cả cuộc đời mình vì sự tồn vong của đất nƣớc. Và để đền đáp công lao của họ, nhân 10 dân ta lại hết lòng biết ơn, chăm sóc và trân trọng những ngƣời thân gần gũi của họ, những ngƣời đã chịu những đau thƣơng mất mát khi ngƣời thân hy sinh.
Đó cũng chính là nhân tố góp phần tạo nên và nhân rộng sức mạnh tinh thần, sức mạnh tình cảm, đạo lý, trở thành động lực thúc đẩy chủ nghĩa yêu nƣớc, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, thôi thúc các thế hệ nối tiếp nhau chiến đấu vì độc lập tự do của Tổ quốc. Thân nhân liệt sỹ, Bà mẹ Việt Nam anh hùng đƣợc Nhà nƣớc ghi công, đƣợc hƣởng chế độ ƣu đãi chính là biểu hiện tấm lòng thuỷ chung đầy đặn nghĩa tình của Đảng, Nhà nƣớc và nhân dân ta. Thân nhân liệt sỹ là những ngƣời thân thiết nhất, ruột thịt hoặc có công nuôi dƣỡng liệt sỹ trƣớc khi họ hy sinh, nhƣ: - Vợ hoặc chồng liệt sỹ. Chỉ xác định là vợ hoặc chồng liệt sỹ đối với những ngƣời có kết hôn hợp pháp hoặc tồn tại hôn nhân thực tế với liệt sỹ trƣớc khi liệt sỹ hy sinh và quan hệ hôn nhân còn tồn tại cho tới thời điểm liệt sỹ hy sinh và đƣợc báo tử.
Trƣờng hợp liệt sỹ có nhiều vợ hoặc nhiều chồng trƣớc khi có Luật hôn nhân gia đình mà thực tế đƣợc thừa nhận thì cũng đƣợc công nhận là thân nhân liệt sỹ - Con liệt sỹ là những ngƣời nhƣ con đẻ, con nuôi, con ngoài giá thú đƣợc pháp luật thừa nhận. - Cha mẹ đẻ của liệt sỹ. - Ngƣời có công nuôi liệt sỹ là ngƣời thực sự nuôi dƣỡng liệt sỹ nhƣ con đẻ khi còn nhỏ tuổi trong một khoảng thời gian nhất định tối thiểu là 10 năm khi liệt sỹ dƣới 16 tuổi hoặc tối thiểu là 5 năm trong điều kiện đặc biệt gặp khó khăn hoặc tai hoạ lớn. Qua cách phân loại này thì có thể thấy thân nhân liệt sỹ đƣợc xác định có thể là ngƣời có quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân hoặc quan hệ nuôi dƣỡng đối với liệt sỹ đƣợc pháp luật thừa nhận.
Những ngƣời này bản thân có thể không trực tiếp là ngƣời có công với cách mạng nhƣng có quan hệ 11 trực tiếp, gắn bó gần gũi nhất đối với ngƣời có công nên cũng thuộc diện hƣởng chế độ ƣu đãi của Nhà nƣớc đối với ngƣời có công với cách mạng. Thứ tư, Thƣơng binh, ngƣời hƣởng chính sách nhƣ thƣơng binh. Thƣơng binh là những ngƣời thuộc lực lƣợng vũ trang bao gồm quân nhân, công an nhân dân vì chiến đấu, trực tiếp phục vụ chiến đấu hoặc dũng cảm làm nhiệm vụ khó khăn nguy hiểm vì lợi ích của Nhà nƣớc và nhân dân mà bị thƣơng mất sức lao động từ 21% trở lên. Nhƣ vậy, thƣơng binh là những ngƣời bị thƣơng khi làm nhiệm vụ chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu trong chiến tranh giải phóng dân tộc hoặc bảo vệ Tổ quốc; những ngƣời bị thƣơng vì dũng cảm làm nhiệm vụ khó khăn nguy hiểm trong khi làm nhiệm vụ luyện tập quân sự hoặc thi hành công vụ đấu tranh chống các loại tội phạm, giữ gìn trật tự xã hội, bảo vệ tài sản, lợi ích của Nhà nƣớc và nhân dân.
Đối với những ngƣời không thuộc lực lƣợng vũ trang nhân dân nhƣng có hành động dũng cảm mà bị thƣơng mất sức lao động từ 21% trở lên nhƣ trên thì đƣợc gọi là ngƣời hƣởng chính sách nhƣ thƣơng binh. Thứ năm, Bệnh binh. Bệnh binh là những quân nhân, công an nhân dân bị mắc bệnh trong thời gian tại ngũ dẫn đến hậu quả bị suy giảm về sức khoẻ, suy giảm khả năng lao động trong một thời gian dài hoặc vĩnh viễn. Theo quy định hiện hành, những đối tƣợng nhƣ trên bị suy giảm từ 61% sức khoẻ trở lên đƣợc xác nhận là bệnh binh.
Nguyên nhân của sự suy giảm sức khoẻ này là do họ hoạt động ở chiến trƣờng trong điều kiện đặc biệt khó khăn gian khổ, do hậu quả trực tiếp hoặc gián tiếp của chiến tranh nhƣ chất độc Điôxin, phóng xạ. Thứ sáu, Anh hùng lực lƣợng vũ trang, Anh hùng Lao động, Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Anh hùng lực lƣợng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động là ngƣời đƣợc Nhà nƣớc tuyên dƣơng anh hùng vì có thành tích đặc biệt xuất sắc 12 trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu hoặc trong lao động sản xuất phục vụ kháng chiến. Bà mẹ Việt Nam anh hùng là những bà mẹ có chồng, con hoặc bản thân đã cống hiến hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế đủ tiêu chuẩn đƣợc Chủ tịch nƣớc phong tặng hoặc truy tặng danh hiệu "Bà mẹ Việt Nam anh hùng".
Thứ bảy, Ngƣời hoạt động kháng chiến là ngƣời tham gia các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế đƣợc Nhà nƣớc tặng thƣởng huân chƣơng hoặc huy chƣơng tổng kết thành tích kháng chiến. Thứ tám, Ngƣời hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù đày. Ngƣời hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù đày là ngƣời mà trong thời kỳ bị tù đày trong nhà tù của địch không khai báo có hại cho cách mạng, cho kháng chiến, không làm tay sai cho địch. Thứ chín, Ngƣời có công giúp đỡ cách mạng.