Tổng quan luận án

Hoạt động đấu giá tài sản (ĐGTS) là một phương thức giao dịch thương mại xuất hiện và phát triển lâu đời trong nền kinh tế thị trường thế giới. Tại Việt Nam, hoạt động này manh nha từ thời kỳ Pháp thuộc thông qua thiết chế hỗ giá viên theo các Sắc lệnh năm 1935, 1937, 1938. Sau thời kỳ dài phục vụ chủ yếu cho công tác thi hành án, việc ban hành Nghị định số 86-CP ngày 19/12/1996, tiếp đó là Nghị định số 05/2005/NĐ-CP và Nghị định số 17/2010/NĐ-CP đã từng bước xã hội hóa và chuyên nghiệp hóa hoạt động ĐGTS. Đến năm 2016, Quốc hội thông qua Luật Đấu giá tài sản (có hiệu lực từ ngày 01/7/2017), tạo bước chuyển biến quan trọng khi thiết lập khung pháp lý riêng cho doanh nghiệp đấu giá tài sản (DN ĐGTS).

Tuy nhiên, tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ việc quy chế pháp lý hiện hành vẫn còn đặt DN ĐGTS trong khuôn khổ mang nặng tính bổ trợ tư pháp, chịu sự điều chỉnh của nhiều thủ tục hành chính cứng nhắc. Luật can thiệp sâu vào các yếu tố thị trường như cơ cấu tổ chức quản lý, điều kiện cơ sở vật chất, giới hạn hình thức pháp lý, đồng thời chế tài áp dụng còn thiếu đồng bộ, đặc biệt là sự thiếu vắng trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại trong lĩnh vực này. Khoảng trống nghiên cứu được xác định là sự thiếu vắng các công trình nghiên cứu toàn diện, độc lập và có hệ thống về quy chế pháp lý riêng biệt điều chỉnh DN ĐGTS dưới tư cách một chủ thể kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận đúng nghĩa.

Mục tiêu tổng quát của luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về DN ĐGTS và quy chế pháp lý về DN ĐGTS; phân tích, đánh giá toàn diện thực trạng quy phạm pháp luật Việt Nam về điều kiện thành lập, quyền, nghĩa vụ và chế tài đối với DN ĐGTS; từ đó đề xuất các giải pháp sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện quy chế pháp lý về DN ĐGTS.

Để đạt được mục tiêu nêu trên, tác giả xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nhiệm vụ 1: Nghiên cứu, đánh giá các công trình trong và ngoài nước, chỉ ra khoảng trống khoa học, xây dựng câu hỏi, giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết định hướng (giải quyết tại Chương 1).
  2. Nhiệm vụ 2: Phân tích chuyên sâu các vấn đề lý luận về DN ĐGTS và quy chế pháp lý về DN ĐGTS, bao gồm khái niệm, đặc điểm, vai trò, nội dung và nguyên tắc xây dựng quy chế (giải quyết tại Chương 2).
  3. Nhiệm vụ 3: Phân tích các quy định pháp luật thực định về điều kiện thành lập DN ĐGTS, chế tài vi phạm điều kiện thành lập, đặt trong mối tương quan so sánh quốc tế để chỉ ra bất cập (giải quyết tại Chương 3).
  4. Nhiệm vụ 4: Phân tích quy định pháp luật về quyền, nghĩa vụ trong quan hệ nội bộ và quan hệ đối ngoại của DN ĐGTS, cùng hệ thống trách nhiệm pháp lý hành chính, hình sự, thu hồi giấy phép (giải quyết tại Chương 4).
  5. Nhiệm vụ 5: Đề xuất các nhóm giải pháp cụ thể nhằm sửa đổi, bổ sung hệ thống quy phạm pháp luật về điều kiện thành lập, quyền, nghĩa vụ và chế tài đối với DN ĐGTS tại Việt Nam (giải quyết tại Chương 3 và Chương 4).

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các vấn đề lý luận về DN ĐGTS, quy chế pháp lý về DN ĐGTS, hệ thống quy phạm pháp luật Việt Nam về điều kiện thành lập, quyền, nghĩa vụ và chế tài đối với DN ĐGTS, kết hợp kinh nghiệm lập pháp của Pháp, Đức, Nhật Bản, Trung Quốc và một số tiểu bang của Hoa Kỳ (Washington, Florida, Texas, Alabama).

Phạm vi nghiên cứu:

  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào quy chế pháp lý riêng điều chỉnh DN ĐGTS từ khâu thành lập đến quyền, nghĩa vụ và chế tài; không đi sâu vào thủ tục hành chính thành lập thông thường và chế định chấm dứt hoạt động vì các nội dung này áp dụng quy chế chung của Luật Doanh nghiệp.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu trên phạm vi toàn lãnh thổ Việt Nam và đối chiếu với pháp luật của Pháp, Đức, Nhật Bản, Trung Quốc, Hoa Kỳ.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung khảo sát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật từ khi Luật Đấu giá tài sản năm 2016 có hiệu lực thi hành (ngày 01/7/2017) đến năm 2024, có liên hệ lịch sử với các văn bản trước thời điểm này.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu trong luận án được phân loại theo các nhóm vấn đề nghiên cứu chính:

Nhóm nội dung Các tác giả, công trình tiêu biểu Hướng tiếp cận và nội dung chính
Khái niệm và bản chất pháp lý của ĐGTS (Nước ngoài) - Brian Learmount (1985)
- Truman F. Bewley (1987)
- Vijay Krishna (2002, 2010)
- Steinberg (2005)
- Günter Knieps (2015)
- Oliver Kirchkhamp, Wladislaw Mill (2021)
- Caroline Banton (2021)
- Zhenlei Xu, Junwu Zhu (2022)
- Paul R. Milgrom (1985)
Tiếp cận ĐGTS dưới góc độ quan hệ hợp đồng (Learmount) hoặc cơ chế thị trường, phân bổ nguồn lực kinh tế và định giá hàng hóa theo quy luật giá trị (Krishna, Milgrom, Knieps). Xem ĐGTS là giao dịch thương mại cạnh tranh, linh hoạt.
Khái niệm và bản chất pháp lý của ĐGTS (Trong nước) - Đại từ điển Bách khoa VN (1995)
- Nguyễn Như Ý (1999)
- Viện Khoa học pháp lý (2006, 2011 - Võ Đình Toàn chủ biên)
- Pearce (1999)
- ĐH Luật Hà Nội (2009, 2015, 2017)
- Học viện Tư pháp (2014, 2020)
- Nguyễn Mạnh Cường (2013)
- Nguyễn Thị Thu Hồng (2022)
- Lê Thị Hương Giang (2019)
- Đoàn Văn Hường (2021)
- Đặng Thị Bích Liễu (2012)
- Trần Tiến Hải (2015)
Tiếp cận ĐGTS như một quan hệ pháp luật dân sự, thương mại hoặc công cụ quản lý nhà nước trong phân bổ tài sản công, tài sản thi hành án. Hoạt động ĐGTS gắn chặt với trình tự, thủ tục luật định nghiêm ngặt của pháp luật Việt Nam.
Điều kiện thành lập và điều kiện kinh doanh - Nguyễn Thị Dung và cộng sự (2017)
- Cao Nhất Linh và cộng sự (2021)
- Nguyễn Am Hiểu (2017)
- Nguyễn Thị Huyền Trang (2017)
- Nguyễn Đăng Duy (2018)
- Trần Thị Quang Hồng (2019)
- Nguyễn Như Chính (2020)
Phân tích lý luận về điều kiện gia nhập thị trường, chuyển đổi từ tiền kiểm sang hậu kiểm, giới hạn hợp lý của quyền tự do kinh doanh và kiểm soát điều kiện đầu tư kinh doanh có điều kiện nhằm bảo vệ trật tự công cộng.
Quyền, nghĩa vụ và chế tài đối với DN ĐGTS - Nguyễn Thị Loan, Võ Thị Thanh Linh (2019)
- Đoàn Văn Hường (2021)
- Nguyễn Thị Thúy Hằng (2022)
Phân tích thực trạng vi phạm hành chính, tiêu chí đánh giá hiệu lực xử phạt và cấu thành tội vi phạm quy định về bán ĐGTS theo Điều 218 Bộ luật Hình sự năm 2015; kiến nghị hoàn thiện chế tài.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định và giải quyết bao gồm:

  1. Đa số các công trình trong nước tiếp cận ĐGTS dưới lăng kính quản lý nhà nước đối với tài sản công hoặc tài sản thi hành án bắt buộc, chưa tiếp cận toàn diện ĐGTS dưới góc độ quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp đối với tài sản tư nhân tự nguyện đấu giá.
  2. Các nghiên cứu trước đây về điều kiện thành lập DN ĐGTS chủ yếu dựa trên các nghị định đã hết hiệu lực, hoặc chỉ dừng lại ở mức mô tả điều luật của Luật Đấu giá tài sản năm 2016 mà chưa đánh giá tính tương thích của chúng với bản chất của thị trường.
  3. Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống về quyền và nghĩa vụ nội bộ của DN ĐGTS, mối quan hệ giữa DN ĐGTS với Nhà nước, cũng như trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại trong hoạt động ĐGTS.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng hai nhóm lý thuyết nền tảng để xây dựng khung phân tích:

  1. Lý thuyết đấu giá (Auction Theory): Bắt đầu phát triển mạnh từ cuối thập niên 1970 với các công trình của Paul R. Milgrom, Robert Wilson, Vijay Krishna, Weber, Riley, Maskin, Samuelson, Myerson. Lý thuyết này giải thích bản chất kinh tế của các kiểu đấu giá, cơ chế xác định giá trị tài sản thông qua mức độ cạnh tranh và luân chuyển thông tin. Vận dụng lý thuyết này, luận án chứng minh rằng DN ĐGTS cần sự linh hoạt để lựa chọn các phương thức đấu giá thích hợp, khẳng định hiệu quả kinh doanh phải do các quy luật thị trường quyết định thay vì sự can thiệp hành chính quá sâu của Nhà nước.
  2. Học thuyết tự do ý chí và tự do hợp đồng: Khẳng định bản chất cốt lõi của ĐGTS là quan hệ hợp đồng được xác lập trên cơ sở tự nguyện cam kết, thỏa thuận (được ghi nhận tại khoản 2 Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2015). Luận án kế thừa các phân tích của Ngô Huy Cương, Phạm Duy Nghĩa, Hoàng Vĩnh Long, Dương Anh Sơn về các phương diện của quyền tự do hợp đồng và giới hạn hợp lý nhằm bảo vệ trật tự công cộng, từ đó xác lập ranh giới điều chỉnh của pháp luật đối với DN ĐGTS.

Về phương pháp luận, tác giả sử dụng phương pháp luận duy vật lịch sử biện chứng của Chủ nghĩa Mác - Lênin xuyên suốt toàn bộ quá trình nghiên cứu.

Các phương pháp nghiên cứu định tính thực tế được triển khai bao gồm:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng tại tất cả các chương nhằm mổ xẻ nội dung các công trình khoa học, phân tích các điều khoản pháp luật thực định và khái quát hóa thành các kết luận khoa học.
  • Phương pháp so sánh luật học: Sử dụng chủ yếu tại Chương 2, Chương 3 và Chương 4 để đối chiếu các quy định pháp luật Việt Nam với quy định của các quốc gia có thị trường đấu giá phát triển như Pháp, Đức, Nhật Bản, Trung Quốc và một số tiểu bang Hoa Kỳ (Washington, Florida, Texas, Alabama).
  • Phương pháp lịch sử - logic: Khảo sát tiến trình biến chuyển của quy chế pháp lý về ĐGTS tại Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử từ thời Pháp thuộc, các Nghị định 86-CP, 05/2005/NĐ-CP, 17/2010/NĐ-CP đến Luật Đấu giá tài sản năm 2016.
  • Phương pháp diễn dịch và quy nạp: Đan xen trong việc lập luận, từ nguyên lý pháp lý chung suy ra quy định cụ thể và từ các bất cập thực tế quy nạp thành định hướng hoàn thiện.
  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu và thu thập số liệu: Khảo sát, trích xuất dữ liệu từ các báo cáo của Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố và hồ sơ xét xử thực tế của Tòa án nhân dân (các bản án dân sự phúc thẩm tại tỉnh Đắk Lắk và tỉnh Tây Ninh).

Nguồn tư liệu, dữ liệu phục vụ nghiên cứu bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam (Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Đấu giá tài sản, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Luật Thương mại, Luật Đất đai), văn bản pháp luật nước ngoài, hệ thống giáo trình, sách chuyên khảo, bài báo khoa học và các báo cáo thực tiễn quản lý nhà nước.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài và định hướng nghiên cứu

Chương này tập trung rà soát, đánh giá các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo 5 nhóm nội dung: bản chất pháp lý của ĐGTS; khái niệm, đặc điểm, vai trò của DN ĐGTS; điều kiện thành lập DN ĐGTS; quyền và nghĩa vụ của DN ĐGTS; chế tài đối với DN ĐGTS. Tác giả xác định các khoảng trống tri thức mà các công trình trước chưa giải quyết trọn vẹn, đặc biệt là việc chưa nhìn nhận DN ĐGTS như một chủ thể kinh doanh đầy đủ. Trên cơ sở đó, chương thiết lập 3 lý thuyết nghiên cứu định hướng (lý thuyết đấu giá, học thuyết tự do hợp đồng, lý thuyết quản lý nhà nước), xây dựng hệ thống câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu chính và phụ, đồng thời xác định các đóng góp mới về mặt khoa học của luận án.

Chương 2: Những vấn đề lý luận về doanh nghiệp đấu giá tài sản và quy chế pháp lý về doanh nghiệp đấu giá tài sản

Tác giả làm rõ bản chất kinh tế và bản chất pháp lý của ĐGTS, tiếp cận ĐGTS dưới hai góc độ: dịch vụ thương mại tìm kiếm người mua cho người bán và công cụ phân bổ nguồn lực công của Nhà nước. Luận án xây dựng khái niệm mới: DN ĐGTS là tổ chức kinh doanh được thành lập hợp pháp theo quy định của pháp luật nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận thông qua việc cung ứng dịch vụ tổ chức bán đấu giá tài sản cho các chủ thể có nhu cầu.

Chương 2 phân tích 3 đặc điểm cơ bản của DN ĐGTS: là chủ thể kinh doanh hoạt động trong ngành nghề có điều kiện; đóng vai trò trung gian thương mại độc lập kết nối bên bán và bên mua; chịu sự điều chỉnh của cả quy chế doanh nghiệp chung và quy chế bổ trợ tư pháp riêng. Về vai trò, DN ĐGTS góp phần nâng cao hiệu quả phân bổ tài sản trong nền kinh tế, bảo vệ quyền lợi của các bên tham gia giao dịch và tăng thu cho ngân sách. Nội dung quy chế pháp lý về DN ĐGTS bao gồm các quy phạm về điều kiện gia nhập thị trường, quyền, nghĩa vụ trong tổ chức hoạt động và hệ thống chế tài trách nhiệm pháp lý. Nguyên tắc xây dựng quy chế pháp lý được xác lập dựa trên việc tôn trọng quyền tự do kinh doanh, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, công khai, minh bạch và bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp.

Chương 3: Quy chế pháp lý về điều kiện thành lập doanh nghiệp đấu giá tài sản

Chương 3 đi sâu phân tích hệ thống quy định thực định của Luật Đấu giá tài sản năm 2016 về điều kiện thành lập DN ĐGTS và đối chiếu với pháp luật nước ngoài:

  • Hình thức pháp lý và ngành nghề: Luật hiện hành chỉ cho phép DN ĐGTS thành lập dưới hình thức doanh nghiệp tư nhân (DNTN) hoặc công ty hợp danh (CTHD), loại trừ hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) và công ty cổ phần (CTCP), đồng thời cấm kinh doanh đa ngành. Tác giả phân tích đây là sự hạn chế quyền tự do lựa chọn mô hình kinh doanh của nhà đầu tư.
  • Điều kiện về chủ thể thành lập và đấu giá viên: Quy định bắt buộc chủ DNTN hoặc thành viên hợp danh của CTHD phải là đấu giá viên (ĐGV) tạo ra rào cản bất hợp lý, làm nhầm lẫn giữa tư cách nhà đầu tư sở hữu vốn và tư cách người hành nghề chuyên môn. Các tiêu chuẩn về cấp Chứng chỉ hành nghề ĐGV, miễn đào tạo nghề còn bộc lộ nhiều kẽ hở.
  • Tên gọi, trụ sở, cơ sở vật chất: Việc luật quy định chi tiết về diện tích, cơ sở vật chất, trang thiết bị của DN ĐGTS là sự can thiệp hành chính không cần thiết vào bài toán hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
  • Chế tài vi phạm điều kiện thành lập: Phân tích các chế tài xử phạt vi phạm hành chính và thu hồi Giấy đăng ký hoạt động, chỉ ra sự thiếu đồng bộ và mức độ răn đe chưa tương xứng.

Từ đó, tác giả đề xuất 9 nhóm giải pháp: mở rộng hình thức pháp lý cho phép thành lập CTCP và Công ty TNHH; cho phép kinh doanh các ngành nghề bổ trợ liên quan; tách bạch chủ thể góp vốn với ĐGV hành nghề; hoàn thiện tiêu chuẩn đào tạo, sát hạch ĐGV; chuẩn hóa hình thức hành nghề; đơn giản hóa yêu cầu về cơ sở vật chất; phân định rõ thẩm quyền quản lý của Sở Tư pháp và cơ quan đăng ký kinh doanh; hoàn thiện chế tài thu hồi giấy phép.

Chương 4: Quy chế pháp lý về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý đối với doanh nghiệp đấu giá tài sản

Chương này đánh giá toàn diện quyền, nghĩa vụ của DN ĐGTS theo hai phân hệ:

  • Quan hệ nội bộ: Quy định bắt buộc người đại diện theo pháp luật (Giám đốc DNTN, Giám đốc/Tổng Giám đốc CTHD) phải là ĐGV làm hạn chế quyền tự chủ thiết lập bộ máy quản trị, đồng nhất hoạt động quản lý điều hành kinh tế với hoạt động tác nghiệp chuyên môn của ĐGV.
  • Quan hệ với các thực thể bên ngoài:
    • Với Nhà nước: Nghĩa vụ báo cáo, lưu trữ hồ sơ còn mang nặng thủ tục hành chính rườm rà.
    • Với người có tài sản: DN ĐGTS thiếu cơ chế pháp lý để kiểm tra tính chính xác của giấy tờ sở hữu, không có quyền tham gia xác định giá khởi điểm dẫn đến nguy cơ chịu trách nhiệm liên đới oan sai.
    • Với người tham gia đấu giá: Quyền ban hành quy chế cuộc đấu giá, thu tiền đặt trước, xử lý tiền đặt trước khi người trúng đấu giá từ chối giao kết hợp đồng còn phát sinh nhiều tranh chấp trên thực tế (phân tích qua các bản án tranh chấp tại Đắk Lắk và Tây Ninh).
  • Trách nhiệm pháp lý đối với DN ĐGTS: Phân tích 3 chế tài chính:
    • Xử phạt vi phạm hành chính: Một số hành vi vi phạm chưa được mô tả rõ ràng, mức phạt chưa tương xứng với giá trị tài sản đấu giá.
    • Trách nhiệm hình sự: Tội vi phạm quy định về hoạt động bán ĐGTS (Điều 218 Bộ luật Hình sự năm 2015) hiện chỉ quy định trách nhiệm hình sự đối với cá nhân mà không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại. Đây là lỗ hổng pháp lý lớn khi DN ĐGTS vi phạm có tổ chức.
    • Thu hồi Giấy đăng ký hoạt động: Thiếu quy trình cụ thể và tiêu chí rõ ràng để áp dụng biện pháp thu hồi vĩnh viễn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn.

Từ các phân tích trên, chương đưa ra 6 nhóm giải pháp: trao quyền tự chủ cơ cấu tổ chức quản trị; xác lập rõ trách nhiệm của ĐGV và DN ĐGTS; tinh giản thủ tục lưu trữ hồ sơ; bổ sung quyền kiểm tra, thẩm định pháp lý tài sản đấu giá cho DN; quy định rõ cơ chế bảo vệ quyền lợi người tham gia đấu giá; bổ sung trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại vào Điều 218 Bộ luật Hình sự năm 2015 và hoàn thiện căn cứ thu hồi Giấy đăng ký hoạt động.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự đúc kết các đóng góp mới về mặt khoa học trên hai phương diện:

Đóng góp mới về mặt lý luận:

  1. Xây dựng khái niệm mới về ĐGTS trên cơ sở dung hòa bản chất kinh tế thị trường và bản chất hợp đồng dân sự, làm sáng tỏ tính chất hai mặt của ĐGTS trong việc giải quyết cả nhu cầu phân bổ tài sản công lẫn chuyển nhượng tài sản tư.
  2. Xác lập hệ thống lý luận hoàn chỉnh về DN ĐGTS với tư cách là một doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ độc lập, phân định ranh giới giữa chức năng quản lý điều hành kinh doanh và hoạt động chuyên môn của ĐGV.
  3. Xây dựng khung lý thuyết về quy chế pháp lý điều chỉnh DN ĐGTS, chỉ rõ các nguyên tắc cân bằng giữa quản lý nhà nước về trật tự công cộng và bảo đảm quyền tự do kinh doanh theo Hiến pháp.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn:

  1. Đề xuất bãi bỏ sự hạn chế về mô hình tổ chức, cho phép DN ĐGTS được thành lập dưới các hình thức CTCP và Công ty TNHH, đồng thời cho phép cá nhân không phải là ĐGV được quyền thành lập, sở hữu vốn tại DN ĐGTS.
  2. Kiến nghị xóa bỏ quy định bắt buộc người đại diện theo pháp luật của DN ĐGTS phải là ĐGV, nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp tuyển dụng các nhà quản trị kinh doanh chuyên nghiệp.
  3. Đề xuất sửa đổi, bổ sung Điều 218 Bộ luật Hình sự năm 2015 theo hướng bổ sung pháp nhân thương mại là chủ thể chịu trách nhiệm hình sự đối với tội vi phạm quy định về hoạt động bán ĐGTS.
  4. Kiến nghị tinh giản các điều kiện hành chính về cơ sở vật chất, trụ sở và quy trình lưu trữ hồ sơ; hoàn thiện cơ chế xử phạt vi phạm hành chính và quy định rõ ràng các trường hợp thu hồi Giấy đăng ký hoạt động của doanh nghiệp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Do giới hạn về phạm vi nội dung đã xác định, luận án không đi sâu phân tích toàn diện các quy trình thủ tục hành chính nội bộ khi đăng ký thành lập doanh nghiệp tại cơ quan nhà nước và các quy định pháp luật về thủ tục giải thể, phá sản DN ĐGTS (do các nội dung này chịu sự điều chỉnh chung của pháp luật doanh nghiệp và phá sản).
  • Các số liệu thực tiễn và bản án xét xử chủ yếu tập trung khảo sát từ sau khi Luật Đấu giá tài sản năm 2016 có hiệu lực (ngày 01/7/2017) đến thời điểm hoàn thành luận án năm 2024.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng nghiên cứu quy chế pháp lý điều chỉnh hoạt động đấu giá tài sản trên nền tảng số, đấu giá trực tuyến quốc tế và các sàn giao dịch tài sản số trong bối cảnh chuyển đổi số.
  • Nghiên cứu sâu hơn về cơ chế bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp bắt buộc đối với DN ĐGTS và ĐGV để giải quyết toàn diện vấn đề bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
  • Đánh giá tác động của các cam kết quốc tế trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (CPTPP, EVFTA) đối với việc mở cửa thị trường dịch vụ ĐGTS cho các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao cho các nhóm đối tượng:

  • Đối với cơ quan lập pháp và quản lý nhà nước: Cung cấp các luận cứ khoa học thực chứng phục vụ cho quá trình sửa đổi, bổ sung Luật Đấu giá tài sản năm 2016, sửa đổi Bộ luật Hình sự năm 2015 và ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành thuộc thẩm quyền của Bộ Tư pháp.
  • Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Luật kinh tế, Luật dân sự: Cung cấp khung lý luận chuyên sâu, tài liệu so sánh luật học đối chiếu giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật của Pháp, Đức, Nhật Bản, Trung Quốc, Hoa Kỳ về thiết chế doanh nghiệp đấu giá.
  • Đối với các DN ĐGTS, đấu giá viên và tổ chức hành nghề: Giúp nhận diện rõ các rủi ro pháp lý trong hoạt động quản trị nội bộ, soạn thảo quy chế đấu giá, ký kết hợp đồng dịch vụ đấu giá và giải quyết các tranh chấp phát sinh từ thực tiễn.

Nội dung đáng tham khảo nhất của luận án là phần phân tích so sánh kinh nghiệm lập pháp quốc tế và hệ thống các giải pháp lập pháp được trình bày tại Chương 3 và Chương 4.

Câu hỏi thường gặp

  1. Luận án chỉ ra nguyên nhân gốc rễ nào khiến quy chế pháp lý về DN ĐGTS tại Việt Nam hiện nay còn mang nặng tính hành chính, cứng nhắc?
    Nguyên nhân gốc rễ bắt nguồn từ lịch sử hình thành hoạt động ĐGTS tại Việt Nam gắn liền với công tác phát mại tài sản để thi hành án và xử lý tài sản công. Điều này tạo nên tư duy lập pháp cố hữu xem ĐGTS chủ yếu là một hoạt động bổ trợ tư pháp chịu sự kiểm soát hành chính gắt gao của Nhà nước, chưa nhìn nhận thỏa đáng DN ĐGTS là một thực thể kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận vận hành theo các quy luật của kinh tế thị trường.

  2. Theo Luật Đấu giá tài sản năm 2016, DN ĐGTS chỉ được thành lập dưới những hình thức nào và tác giả luận án đánh giá ra sao?
    Luật Đấu giá tài sản năm 2016 quy định DN ĐGTS chỉ được thành lập dưới hình thức doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty hợp danh. Tác giả luận án đánh giá quy định này đã tước bỏ quyền tự do lựa chọn mô hình kinh doanh của nhà đầu tư, không cho phép thành lập dưới dạng CTCP hoặc Công ty TNHH, gây khó khăn trong việc huy động vốn và mở rộng quy mô kinh doanh.

  3. Luận án có đề xuất gì mới liên quan đến việc xử lý trách nhiệm hình sự trong lĩnh vực ĐGTS?
    Luận án chỉ ra kẽ hở lớn của Điều 218 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về tội vi phạm quy định về hoạt động bán đấu giá tài sản khi điều luật chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với cá nhân. Luận án đề xuất bổ sung pháp nhân thương mại là chủ thể chịu trách nhiệm hình sự tại Điều 218 nhằm tạo cơ sở xử lý nghiêm các DN ĐGTS có hành vi vi phạm nghiêm trọng, thông đồng, dìm giá hoặc thao túng kết quả đấu giá.

  4. Tác giả luận án sử dụng kinh nghiệm lập pháp của những quốc gia nào để đối chiếu, so sánh?
    Tác giả đã nghiên cứu, đối chiếu kinh nghiệm lập pháp của Pháp, Đức, Nhật Bản, Trung Quốc và một số tiểu bang của Hoa Kỳ (Washington, Florida, Texas, Alabama), cùng với việc khảo sát hoạt động của các tổ chức đấu giá quốc tế như China Guardian, Poly Group, Artcurial, Tokyo BHL Co.

  5. Quy định bắt buộc người đại diện theo pháp luật của DN ĐGTS phải là đấu giá viên bị tác giả luận án phê phán ở điểm nào?
    Tác giả chỉ ra rằng quy định Giám đốc DNTN, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc CTHD phải là ĐGV đã đồng nhất giữa hoạt động quản trị điều hành doanh nghiệp với hoạt động chuyên môn nghiệp vụ của ĐGV. Quy định này làm hạn chế quyền tự chủ thiết lập cơ cấu tổ chức quản lý của doanh nghiệp và ngăn cản DN ĐGTS tiếp cận các nhà quản trị chuyên nghiệp trên thị trường.

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Quy chế pháp lý về doanh nghiệp đấu giá tài sản" của tác giả Ngô Thị Phương Thảo là công trình nghiên cứu toàn diện và hệ thống về địa vị pháp lý của DN ĐGTS tại Việt Nam trong bối cảnh kinh tế thị trường. Bằng việc kết hợp phương pháp luận duy vật biện chứng với các phương pháp phân tích luật học, so sánh quốc tế và phân tích bản án thực tế, luận án đã làm rõ bản chất kinh tế và bản chất hợp đồng của ĐGTS, chỉ ra các nút thắt trong các quy định thực định của Luật Đấu giá tài sản năm 2016. Các đề xuất sửa đổi về việc mở rộng loại hình doanh nghiệp, tách bạch quản trị kinh doanh với chức danh chuyên môn, tinh giản điều kiện cơ sở vật chất và bổ sung trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại mang giá trị khoa học và thực tiễn thiết thực đối với tiến trình hoàn thiện thể chế pháp luật kinh tế tại Việt Nam.