Chương 1: Cơ sở lí luận và phương pháp luận nghiên cứu địa vi pháp lí của th nghiệp liên doanh Chương 2: Địa vị pháp lí của doanh nghiệp hiên doanh theo Luật ĐINN tại Nam Chương 3: Hoàn thiện địa vị pháp lí của doanh nghiệp liên doanh Chương | CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU ĐỊA VỊ PHÁP LÍ CỦA DOANH NGHIỆP LIÊN DOANH 1. KHÁI NIỆM, NỘI DUNG, CÁC YẾU TO CHI PHỐI VIỆC XÁC ĐỊNH JA VỊ PHÁP LÍ CUA DOANH NGHIỆP LIÊN DOANH 1. Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp liên doanh 1. Khái niệm doanh nghiệp liên doanh Doanh nghiệp liên doanh là hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam.
Doanh nghiệp liên doanh là loại hình doanh nghiệp phổ biến không chỉ ở Việt Nam mà cả trên thế giơí. Tuy vậy, do được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau cho nên đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về doanh nghiệp liên doanh nhưng cho dù được hiểu dưới góc độ nào đi nữa thì khái niệm doanh nghiệp liên doanh vẫn phải chưá đưng nội dung cơ bản nhất, tổng quát nhất về loại hình doanh nghiệp này. Có như vậy mới đáp ứng dược yêu cầu của một khái niệm về một tổ chức kinh tế để từ đó mới cho phép ta phan biệt giữa doanh nghiệp liên doanh với các loại hình doanh nghiệp khác. Có quan điểm cho rằng "Xí nghiệp liên doanh là một hãng hỗn hợp do hai hoặc nhiều công ti cùng đóng góp tài sản dưới hình thức tiền mặt, máy móc, thiết bi, nhà xưởng, đất đai.;cùng quản lí, cùng phân phối lợi nhuận và chia sẻ rủi ro theo tỉ lệ tài sản đóng góp” (37, tr10) Quan niệm này mới chỉ đề cập đến doanh nghiệp liên doanh ở góc độ kinh tế, cùng góp vốn, cùng quản lí và cùng hưởng lợi nhuận hay chịu rủi ro theo tỉ lệ vốn góp.
Vì vậy, các đặc điểm của doanh nghiệp liên doanh chưa được nhìn nhận và đánh giá đúng mức. đặc điểm về "yếu tố nước ngoài”, về cơ sở pháp lí thành lập doanh nghiệp liên doanh đều chưa được đề cập đến mà những yếu tố này cho phép ta phân biệt doanh nghiệp liên doanh với một loại hình doanh nghiệp khác. Bởi vì, không chỉ doanh nghiệp liên doanh mới có sự tham gia góp vốn. cùng tham gia quản lí, cùng hưởng lợi nhuận và chịu rủi ro theo tỉ lệ vốn góp mà các tổ chức kinh tế khác cũng có những đặc trưng đó, chẳng han, công ti TNHH, doanh nghiệp liên doanh 100% vốn trong nước.
Dù vậy, quan điểm này rất phù hợp với cách hiểu phổ biến về doanh nghiệp liên doanh không chỉ trên thế giới mà cả ở Việt Nam. Ở góc độ khác, có quan điểm cho rằng "Xí nghiệp liên doanh là một thực thể hợp nhất hay liên kết được thành lập theo pháp luật của nước sở tại giữa các quyền lợi của nước ngoài va trong nước” (37, tr10). Quan điểm này nhìn nhận doanh nghiệp liên doanh dưới góc độ pháp lí, vì vậy, đã làm rõ được yếu tố "quốc tịch” của doanh nghiệp và trách nhiệm của pháp luật nước mà doanh nghiệp mang “quốc tịch” phải bảo đảm quyền lợi cho các bên tham gia liên doanh. Vì nhìn nhận ở góc độ pháp lí nên quan điểm này đã không nêu rõ các đặc trưng khác của doanh nghiệp liên doanh mà nếu thiếu những đặc trưng đó sẽ khiếm khuyết khi yêu cầu đặt ra là phải có cái nhìn đầy đủ về doanh nghiệp liên doanh.
Bên cạnh đó có quan điểm cho rằng "Xí nghiệp liên doanh là một hình thức tổ chức các mối quan hệ giữa các công ti thông qua một hợp đồng để cùng tiến hành các hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động nghiên cứu '(37, trl 1). Ưu điểm của quan niệm này là nhấn mạnh đến cơ sở pháp lí để thành lập doanh nghiệp liên doanh là hợp đồng liên doanh và mục đích thành lập doanh nghiệp liên doanh là để kinh doanh. Tuy nhiên, mục đích của việc thành lập một doanh nghiệp của bất cứ nhà đầu tư nào cũng là để kinh doanh kiếm lời. Vì vậy, cũng như các quan điểm trên, quan điểm này chưa làm rõ được mô hình về doanh nghiệp liên doanh với các đặc thù vốn có của nó để ta phân biệt nó với các loại hình đoanh nghiệp khác.
Cho đến nay. ở Việt Nam chưa có quan điểm nào khác về doanh nghiệp liên 10 doanh ngoài quan điểm chính thức được Nhà nước ghi nhận trong Luật DTNN tại Vist Nam. Nói như vậy có nghĩa là doanh nghiệp liên doanh được nhìn nhận va đánh giá với đầy đủ các yếu tố đặc thù vốn có của nó, cụ thể như: - Doanh nghiệp liên doanh được tổ chức theo hình thức công ti TNHH; - Chủ thể tham gia liên doanh là bên (các bên) Việt Nam với bên (các bên) nước ngoài; - Cơ sở pháp lí để thành lập doanh nghiệp liên doanh là hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định kí giữa chính phủ cộng hoà XHCN Việt Nam với chính phủ nước ngoài; - Các bên cùng tham gia góp vốn, cùng tham gia quản lí, cùng hưởng lợi nhuận hay chịu rủi ro theo tỉ lệ vốn góp; - Doanh nghiệp liên doanh là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân. Khái niệm “doanh nghiệp liên doanh" là một khái niệm mới về loại hình doanh nghiệp phát triển trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam.
Bản thân khái niệm doanh nghiệp liên doanh ra đời và phát triển gắn liền với sự phát triển và hoàn thiện Luật DTNN tại Việt Nam. Nghị định số 115/CP ngày 18 tháng 4 năm 1977 của Hội đồng chính phủ, Luật DTNN năm 1987, Luật DTNN sửa đổi năm 1990 đều dùng khái niệm "xí nghiệp liên doanh". Theo đó, xí nghiệp liên doanh được hiểu là xí nghiệp do hai bên hoặc nhiều bên hợp tác thành lập tai Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định kí giữa chính phủ cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với chính phủ nước ngoài, hoặc là xí nghiệp mới do xí nghiệp liên doanh hợp tác với tổ chức, cá nhân nước ngoài thành lập tại Việt nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh (Luật DTNN sửa đổi năm 1990). Theo khái niệm nói trên về xí nghiệp liên doanh.
có một số điểm cần chú ý như sau: li Thứ nhất: cơ sở pháp lí để thành lập xí nghiệp liên doanh là hợp đồng liên doanh được kí giữa bên Việt Nam với bên nước ngoài hoặc hiệp định kí giữa chính phủ Việt Nam với chính phủ nước ngoài. Thứ hai: chủ thể tham gia thành lập xí nghiệp liên doanh là bên Việt Nam và bẻn nước ngoài. Theo quy định tại Điều 2 Luật ĐTNN nam 1990, bên Việt Nam là một bên gồm một hoặc nhiều tổ chức kinh tế Việt Nam có tư cách pháp nhân thuộc các thành phần kinh tế; bên nước ngoài là một bên gồm một hoặc nhiều tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân hoặc cá nhân nước ngoài. Như vậy, thành phần tham gia liên doanh cuả bên Việt nam khác với bên nước ngoài ở chỗ, bên Việt nam chỉ có thể là tô chức kinh tế có tư cách pháp nhân còn bên nước ngoài có thể là cá nhân nhà ĐTNN.
Day là điểm khác biệt cần chú ý khi phân tích về su phát triển của pháp luật ve xí nghiệp liên doanh cũng như chủ trương của Nhà nước ta trong việc thu hút DTNN vào Việt Nam. Thứ ba, trong quá trình hoạt động, xí nghiệp liên doanh được hợp tác với tổ chức, cá nhân nước ngoài để thành lập liên doanh mới tại Việt Nam. Đây là quy định mới của Luật DTNN năm 1990 so với Luật DTNN năm 1987. Khái niệm "doanh nghiệp liên doanh" được Luật DTNN sửa đổi năm 1992 chính thức sử dụng.
Mac dù không có sự giải thích trong Luật ĐTNN về việc đổi tên got "xi nghiệp” thành “doanh nghiệp” nhưng theo chúng tôi khát niệm “doanh nghiệp” được Luật công ti năm 1990 định nghĩa là cơ sở cho việc thống nhất tên gọi chung về các loại hình doanh nghiệp hiện có ở Việt Nam lúc bấy giờ. Theo Luật DTNN tại Việt Nam năm 2000 “doanh nghiệp liên doanh” là doanh nghiệp do hai bên hoặc nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định kí giữa chính phú cộng hoà XHCN Việt Nam và chính phủ nước ngoài hoặc là doanh nghiệp do doanh nghiệp có vốn ĐTNN hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam hoặc do doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà ĐTNN trên cơ sở hợp đồng liên doanh. Khái niệm mới về doanh nghiệp liên doanh nói trên rộng hơn khái niệm theo Luật ĐTNN nam 1990. Theo khái niệm của Luật ĐTNN nam 2000, cơ sở pháp lí để thành lập doanh nghiệp liên doanh vẫn như quy định của Luật DTNN năm 1990.
Tuy nhiên, thành phần tham gia doanh nghiệp liên doanh đã được bổ sung thêm các chủ thể mới như doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, doanh nghiệp Việt Nam (doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ti TNHH, công ti cổ phần, công ti hợp danh, doanh nghiệp thuộc tổ chức chính trị- xã hội) đều được phép hợp tac để thành lập doanh nghiệp liên doanh mới tại Việt Nam. Thông qua việc bổ sung thêm các chủ thể tham gia thành lập doanh nghiệp liên doanh chúng ta thấy được chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc phát triển kinh tế. Doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đều có cơ hội như nhau trong việc hợp tác với nước ngoài để mở rộng kinh doanh, phát triển doanh nghiệp. Theo tác giả luận án này, thực chất của chính sách mở rộng giao lưu hợp tác với nước ngoài của Dang và Nhà nước Việt Nam có cơ sở lí luận từ chính sách phát triển tư bản nhà nước, một trong những nội dung quan trọng trong chính sách kinh tế mới của Lê Nin "đi xuyên qua tư bản nhà nước để tiến lên chủ nghĩa xã hoi".
Sự vận dụng sang tạo chính sách của Lê Nin vào thực tiễn xây dựng nền kinh tế thị trường Việt Nam cua Dang và Nhà nước đã được thực tế kiểm nghiệm, kinh tế phát triển ổn định. đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện, an ninh chính trị được gif vững, tao môi trường bảo dam cho các nhà DTNN an tâm đầu tư kinh doanh tại Việt Nam. Tuy nhiên, cho đến nay doanh nghiệp liên doanh chỉ được tổ chức dưới hình thức công ti TNHH mặc dù qua các lần sửa đổi Luật DTNN đã có nhiều ý kiến đưa ra nên bổ sung thêm loại hình doanh nghiệp này dưới hình thức công ti cổ phần.