Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu khoa học "Địa vị pháp lý của doanh nghiệp liên doanh theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam" được thực hiện bởi tác giả Nguyễn Thanh Phú, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Đình Hảo và TS. Dương Đăng Huệ. Luận án thuộc chuyên ngành Luật kinh tế (mã số: 5.15), hoàn thành năm 2003 tại Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật trực thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia.
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ quá trình chuyển dịch của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (ĐTNN) trên thế giới và tại Việt Nam sau khi thực hiện chính sách "mở cửa" từ năm 1987. Sau hơn một thập kỷ thu hút ĐTNN, khu vực này đã đóng góp khoảng 20% tổng thu ngân sách, 25% tổng vốn đầu tư xã hội và 25% kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Trong các hình thức ĐTNN, doanh nghiệp liên doanh giữ vị trí then chốt: tính đến tháng 2/2002, trong tổng số 3.150 dự án với trên 38,055 tỷ USD vốn ĐTNN còn hiệu lực tại Việt Nam, doanh nghiệp liên doanh chiếm 38% số dự án và 58% tổng số vốn đầu tư (tỷ lệ này trong giai đoạn 1988–1999 đạt 61% số dự án và 70% tổng vốn đầu tư). Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động của loại hình doanh nghiệp này bộc lộ nhiều vướng mắc pháp lý phức tạp đòi hỏi phải có sự điều chỉnh đồng bộ.
Về khoảng trống nghiên cứu, các công trình khoa học pháp lý trước đó chủ yếu tiếp cận doanh nghiệp liên doanh như một bộ phận nhỏ trong các nghiên cứu tổng quát về cơ chế điều chỉnh pháp luật ĐTNN hoặc ở cấp độ luận văn thạc sĩ. Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu có hệ thống và toàn diện ở cấp độ tiến sĩ luật học về địa vị pháp lý của doanh nghiệp liên doanh theo Luật ĐTNN tại Việt Nam.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định rõ:
- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận, phương pháp luận và các yếu tố kinh tế – xã hội chi phối việc xác định địa vị pháp lý của doanh nghiệp liên doanh.
- Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định của Luật ĐTNN tại Việt Nam về thành lập, tổ chức bộ máy, quyền, nghĩa vụ kinh doanh và chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp liên doanh.
- Đề xuất phương hướng và các giải pháp hoàn thiện địa vị pháp lý cho doanh nghiệp liên doanh nhằm tạo lập môi trường kinh doanh thông thoáng, bình đẳng trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Phạm vi nghiên cứu tập trung vào địa vị pháp lý của doanh nghiệp liên doanh trong khuôn khổ Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam qua các giai đoạn (1987, 1990, 1992, 1996, 2000), đồng thời xem xét mối quan hệ tương hỗ với các đạo luật chuyên ngành (như Luật Doanh nghiệp, Luật Thương mại, Luật Đất đai) và bối cảnh xây dựng pháp luật giai đoạn 2000–2007 theo lộ trình thực thi Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ, cam kết AFTA (đến năm 2006) và chuẩn bị gia nhập WTO.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong quá trình tổng quan tài liệu, tác giả đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong nước về lĩnh vực đầu tư nước ngoài và pháp luật kinh tế:
- Các nghiên cứu lý luận nền tảng của GS.TSHKH. Đào Trí Úc: “Thị trường và pháp luật”, “Nhà nước và pháp luật của chúng ta trong sự nghiệp đổi mới”.
- Công trình của TS. Hoàng Phước Hiệp: chuyên khảo “Pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam – quá khứ, hiện tại và tương lai” cùng Luận án Tiến sĩ Luật học “Cơ chế điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam”.
- Công trình của Vũ Trường Sơn: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài với tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam”.
- Luận án Tiến sĩ Luật học của Nguyễn Mạnh Tuấn: “Cơ sở khoa học của việc hoàn thiện khung pháp luật về ĐTNN tại Việt Nam”.
- Các giáo trình chuẩn mực: Giáo trình Luật Kinh tế của Trường Đại học Luật Hà Nội và Giáo trình Luật Kinh tế của Khoa Luật thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Các công trình chuyên đề của các học giả: Lưu Văn Đạt, Nguyễn Niên, Trần Ngọc Đường, Hoàng Thế Liên, Lê Hồng Hạnh, Hà Hùng Cường, Nguyễn Trung Tín.
Về nguồn tài liệu quốc tế và lý thuyết so sánh, luận án tiếp cận các khái niệm pháp lý từ Từ điển luật cốt yếu của Hoa Kỳ; lý thuyết về quy chế nhân thân (Lex personalis) của GS.TS. L.; lý thuyết về luật quốc tịch của doanh nghiệp (Lex societatis); mô hình công ty của Kuebler; mô hình cơ quan quản lý một cửa (one stop) theo hệ thống Anh – Mỹ của GS.TS. A. Ganesan so sánh với hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa (Đức, Pháp).
Khoảng trống nghiên cứu mà luận án giải quyết là việc xây dựng một hệ thống lý luận chuyên biệt và khảo sát thực tiễn lập pháp riêng về quy chế pháp lý của doanh nghiệp liên doanh có vốn ĐTNN, phân định rõ các yếu tố khách quan và chủ quan tác động đến địa vị pháp lý này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận và thế giới quan của luận án dựa trên các quan điểm chính trị – pháp lý sau:
- Lý luận của V.I. Lênin về vai trò của Tư bản Nhà nước trong Chính sách kinh tế mới (NEP): "Trong một nước tiểu nông, trước hết các đồng chí phải bắc những chiếc cầu nhỏ vững chắc đi xuyên qua chủ nghĩa tư bản Nhà nước, tiến lên chủ nghĩa xã hội".
- Tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh về mở rộng hợp tác kinh tế: hoan nghênh các quốc gia đưa tư bản đến kinh doanh bình đẳng, đôi bên cùng có lợi và kiên quyết cự tuyệt sự áp chế, ràng buộc.
- Đường lối, chính sách phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN được khẳng định tại Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, VIII, IX; Nghị quyết số 07/NQ-TW ngày 27/11/2001 của Bộ Chính trị về hội nhập kinh tế quốc tế; Nghị quyết số 09/NQ-CP ngày 28/8/2001 của Chính phủ về tăng cường thu hút và nâng cao hiệu quả ĐTNN thời kỳ 2001–2005.
Khung phân tích khái niệm của luận án xác định địa vị pháp lý của doanh nghiệp không đồng nhất với khái niệm pháp nhân. Pháp nhân chỉ phản ánh tư cách chủ thể dân sự độc lập, trong khi địa vị pháp lý là tổng thể quyền, nghĩa vụ, thẩm quyền theo luật định, điều lệ, hợp đồng liên doanh, giấy phép đầu tư, kết hợp với tính năng động tự chủ (quyền được làm những gì pháp luật không cấm).
Phương pháp nghiên cứu được triển khai đồng bộ:
- Phương pháp duy vật biện chứng: Đánh giá địa vị pháp lý của doanh nghiệp liên doanh trong sự vận động khách quan giữa kiến trúc thượng tầng pháp lý và cơ sở hạ tầng kinh tế.
- Phương pháp điều tra xã hội học: Khảo cứu, tổng hợp các số liệu thực tế về tình hình cấp phép, phân bổ vốn, cơ cấu ngành nghề và các vướng mắc của doanh nghiệp liên doanh.
- Phương pháp so sánh luật học: Phân tích sự tiến triển qua các lần sửa đổi Luật ĐTNN (1987, 1990, 1992, 1996, 2000), so sánh quy chế công ty TNHH theo Luật Doanh nghiệp với Luật ĐTNN, so sánh với pháp luật của các nước trong khu vực (Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Hàn Quốc).
- Phương pháp phân tích, tổng hợp và dự báo: Rút ra các luận điểm khoa học và đề xuất phương hướng xây dựng chính sách pháp luật.
Nguồn dữ liệu của luận án bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật (Hiến pháp 1992, Luật ĐTNN, Nghị định số 115/CP năm 1977, Nghị định số 24/2000/NĐ-CP...), báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình Quốc hội khóa X, cùng các văn kiện đại hội và nghị quyết của Đảng và Chính phủ.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lí luận và phương pháp luận nghiên cứu địa vị pháp lí của doanh nghiệp liên doanh
Chương 1 làm rõ các vấn đề lý luận về doanh nghiệp liên doanh và các yếu tố chi phối việc hình thành địa vị pháp lý của loại hình này:
-
Khái niệm và đặc điểm: Sau khi phân tích ba góc độ tiếp cận (kinh tế, pháp lý và hợp đồng), tác giả đưa ra định nghĩa chuẩn xác: Doanh nghiệp liên doanh theo Luật ĐTNN tại Việt Nam là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam, do bên (các bên) Việt Nam và bên (các bên) nước ngoài hợp tác thành lập theo hình thức công ty TNHH trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định được ký giữa Chính phủ Việt Nam với chính phủ nước ngoài. Doanh nghiệp liên doanh mang ba đặc trưng pháp lý cơ bản:
- Là công ty TNHH có vốn ĐTNN, vốn pháp định không chia thành cổ phần, trách nhiệm tài sản hữu hạn theo phần vốn góp nhưng chịu sự chi phối mạnh mẽ từ yếu tố sở hữu nhà nước của bên Việt Nam.
- Là tổ chức kinh tế độc lập có tư cách pháp nhân mang quốc tịch Việt Nam (Lex societatis Việt Nam), được Nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp.
- Có sự thừa nhận thẩm quyền của cơ quan tài phán nước ngoài hoặc quốc tế trong việc giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa các bên tham gia liên doanh (theo Điều 24 Luật ĐTNN 2000 và Điều 122 Nghị định 24/2000/NĐ-CP).
-
Các yếu tố chi phối việc xác định địa vị pháp lý:
- Yếu tố khách quan: Xu thế toàn cầu hóa, tự do hóa thương mại và nghĩa vụ không phân biệt đối xử; điều kiện kinh tế của nước đang phát triển với cơ sở hạ tầng còn yếu kém; các lợi thế so sánh về tài nguyên thiên nhiên và nguồn nhân lực; sự ổn định của chế độ chính trị – kinh tế – xã hội; các cam kết quốc tế (AFTA, WTO, Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ).
- Yếu tố chủ quan: Đường lối, chiến lược phát triển kinh tế của Đảng qua từng thời kỳ; sự phối hợp và cách nhìn nhận của các cơ quan quản lý chuyên ngành soạn thảo luật (tình trạng cục bộ, chồng chéo thẩm quyền); ý chí, nguyện vọng của các bên liên doanh thể hiện qua hợp đồng liên doanh, điều lệ và việc lựa chọn địa bàn, lĩnh vực đầu tư.
- Cơ chế quản lý kinh tế: Quá trình chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp (giai đoạn áp dụng Nghị định 115/CP năm 1977 không thu hút được dự án ĐTNN nào) sang cơ chế kinh tế thị trường định hướng XHCN có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước bằng pháp luật.
Dữ liệu phân bố dòng vốn ĐTNN được tác giả thống kê, phản ánh rõ sự chi phối của yếu tố thị trường và ý chí của các nhà đầu tư:
| Khu vực địa lý |
Tỷ trọng vốn ĐTNN tiếp nhận |
Tỷ lệ dân số |
Đặc điểm hạ tầng và kinh tế |
| 3 vùng kinh tế trọng điểm (TP.HCM – Đồng Nai – Vũng Tàu; Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh; Quảng Nam – Đà Nẵng – Quảng Ngãi) |
~70% |
~50% |
Hạ tầng phát triển, thị trường thuận lợi |
| Các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa, miền Trung, Khu 4, Khu 5 |
~10% |
~50% |
Địa bàn kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn |
Chương 2: Địa vị pháp lí của doanh nghiệp liên doanh theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Chương 2 phân tích chi tiết quy chế pháp lý thực định điều chỉnh toàn bộ chu kỳ tồn tại của doanh nghiệp liên doanh:
-
Thành lập doanh nghiệp liên doanh:
- Chủ thể tham gia: Sự phát triển từ chỗ chỉ cho phép doanh nghiệp nhà nước tham gia (trước Hiến pháp 1992) đến việc mở rộng cho mọi thành phần kinh tế (doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp thuộc tổ chức chính trị – xã hội, trường học, bệnh viện, viện nghiên cứu) được liên doanh với nhà ĐTNN hoặc doanh nghiệp có vốn ĐTNN khác.
- Thời điểm thành lập: Áp dụng cơ chế "một cửa" theo mô hình cấp Giấy phép đầu tư (đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh) thay vì quy trình hai bước theo Luật Công ty 1990.
- Quy chế vốn: Quy định về tỷ lệ vốn pháp định, tiến độ góp vốn và các hình thức góp vốn (đặc biệt là vấn đề bên Việt Nam góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất).
- Xây dựng cơ bản và nhập khẩu máy móc, thiết bị: Thủ tục phê duyệt thiết kế, giám định công nghệ và thiết bị nhập khẩu.
-
Quyền và nghĩa vụ trong tổ chức và hoạt động kinh doanh:
- Hoạt động kinh doanh: Quyền tự chủ kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm, mở tài khoản ngân hàng, tiếp cận nguồn ngoại tệ, nghĩa vụ thực hiện chính sách thuế và quyền được miễn thuế nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu (Điều 58 Nghị định 24/2000/NĐ-CP).
- Tổ chức bộ máy quản trị: Cơ cấu Hội đồng quản trị (quy định về số lượng thành viên tối thiểu của bên Việt Nam không phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn nhằm bảo vệ quyền lợi quốc gia), thẩm quyền biểu quyết theo nguyên tắc nhất trí đối với các vấn đề quan trọng, quy chế bắt buộc về quốc tịch và nơi cư trú của Tổng giám đốc hoặc Phó Tổng giám đốc thứ nhất.
-
Chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp liên doanh:
- Các căn cứ chấm dứt hoạt động: hết thời hạn ghi trong giấy phép, theo quyết định của các bên, hoặc bị cơ quan quản lý nhà nước thu hồi giấy phép do vi phạm nghiêm trọng pháp luật.
- Trình tự và thủ tục thành lập Ban thanh lý tài sản của doanh nghiệp.
- Thứ tự thanh toán các nghĩa vụ về tài sản và nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước, người lao động và các chủ nợ.
- Các hình thức tổ chức lại doanh nghiệp liên doanh: chuyển đổi hình thức đầu tư, sáp nhập, hợp nhất hoặc chia tách doanh nghiệp.
Chương 3: Hoàn thiện địa vị pháp lí của doanh nghiệp liên doanh
Chương 3 xây dựng các định hướng và nhóm giải pháp hoàn thiện hệ thống quy định pháp luật:
-
Sự cần thiết khách quan: Bắt nguồn từ yêu cầu khắc phục sự suy giảm tạm thời của dòng vốn ĐTNN cuối thế kỷ 20, đồng thời giải quyết các xung đột giữa các đạo luật chuyên ngành (Luật ĐTNN, Luật Doanh nghiệp, Luật Thương mại, Luật Đất đai) nhằm tạo lập sân chơi bình đẳng.
-
Phương hướng chủ yếu:
- Hoàn thiện khung pháp luật về môi trường đầu tư kinh doanh tổng thể tại Việt Nam.
- Đổi mới quan niệm về doanh nghiệp liên doanh: chuyển từ tư duy quản lý chặt chẽ theo từng hình thức sở hữu sang việc thừa nhận doanh nghiệp được quyền thực hiện mọi hoạt động kinh doanh mà pháp luật không cấm.
- Tạo lập cơ chế kinh tế – pháp lý phù hợp để phát huy thế mạnh tiếp thu công nghệ và kỹ năng quản lý tiên tiến của đối tác nước ngoài.
- Xây dựng hệ thống chính sách mới hướng tới việc ban hành một đạo luật đầu tư chung, không phân biệt đối xử giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài (phù hợp với chương trình lập pháp giai đoạn 2000–2007).
-
Các giải pháp cơ bản:
- Cải cách thủ tục hành chính, hoàn thiện cơ chế đăng ký và thẩm định cấp phép đầu tư.
- Hoàn thiện quy định về quản trị nội bộ doanh nghiệp: sửa đổi cơ chế biểu quyết nhất trí tại Hội đồng quản trị để khắc phục tình trạng bế tắc trong điều hành; linh hoạt hóa quy định về bổ nhiệm và thuê giám đốc điều hành.
- Hoàn thiện cơ chế giải quyết xung đột pháp luật và tranh chấp thương mại quốc tế phát sinh giữa doanh nghiệp liên doanh với các đối tác nước ngoài.
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để thể chế hóa mô hình doanh nghiệp liên doanh cổ phần có vốn ĐTNN, học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia trong khu vực như Trung Quốc, Malaysia, Thái Lan.
Kết quả và những đóng góp mới
-
Về mặt lý luận:
- Luận án đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ nội hàm khái niệm địa vị pháp lý của doanh nghiệp liên doanh, chỉ ra tính phiến diện của quan điểm đồng nhất địa vị pháp lý với tư cách pháp nhân hoặc giới hạn địa vị pháp lý trong trạng thái tĩnh của các quyền luật định.
- Phân tích sâu sắc mối quan hệ biện chứng giữa các yếu tố khách quan (toàn cầu hóa, lợi thế so sánh, ổn định chính trị) và các nhân tố chủ quan (đường lối của Đảng, tư duy lập pháp của các bộ ngành, ý chí nhà đầu tư) tác động đến quy chế pháp lý của doanh nghiệp.
- Vận dụng sáng tạo lý luận của V.I. Lênin về kinh tế tư bản nhà nước và tư tưởng Hồ Chí Minh để khẳng định tính tất yếu và bản chất pháp lý của hình thức liên doanh tại Việt Nam.
-
Về mặt thực tiễn và giải pháp:
- Đưa ra bức tranh thực trạng về sự vận động của dòng vốn ĐTNN, chỉ rõ bất cập trong phân bố đầu tư theo vùng lãnh thổ và cơ cấu ngành nghề.
- Kiến nghị định hướng xây dựng một khuôn khổ pháp lý thống nhất về đầu tư, xóa bỏ sự phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp có vốn ĐTNN và doanh nghiệp trong nước.
- Đề xuất các giải pháp kỹ thuật lập pháp cụ thể nhằm sửa đổi quy chế quản trị nội bộ công ty TNHH liên doanh, cơ chế xử lý tranh chấp và việc mở đường cho hình thức doanh nghiệp liên doanh cổ phần.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án nằm ở việc hệ thống dữ liệu thực chứng và cơ sở pháp lý được khảo sát đến năm 2003, chủ yếu dựa trên Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 (sửa đổi năm 2000) và các văn bản hướng dẫn thi hành trước khi Quốc hội ban hành Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp thống nhất năm 2005.
Các hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở:
- Đánh giá sự chuyển đổi quy chế pháp lý của doanh nghiệp liên doanh khi chuyển đổi sang mô hình công ty cổ phần có vốn ĐTNN và niêm yết trên thị trường chứng khoán.
- Nghiên cứu cơ chế giải quyết xung đột pháp luật phức tạp giữa doanh nghiệp liên doanh với các thương nhân nước ngoài trong các giao dịch thương mại xuyên biên giới.
- Đánh giá tác động toàn diện của các cam kết hội nhập sâu rộng (AFTA từ năm 2006, các hiệp định của WTO) đối với việc dỡ bỏ hoàn toàn các biện pháp bảo hộ và ưu đãi đầu tư chuyên biệt.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:
- Cơ quan quản lý nhà nước và lập pháp: Cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn để hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế, đặc biệt là quá trình nhất thể hóa luật điều chỉnh đầu tư trong nước và ĐTNN.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên luật: Là tài liệu chuyên khảo có giá trị cao phục vụ công tác giảng dạy, học tập và biên soạn giáo trình các môn Luật Kinh tế, Luật Đầu tư và Luật Thương mại quốc tế.
- Nhà đầu tư và doanh nghiệp liên doanh: Giúp các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài nắm bắt rõ khung pháp lý, nhận diện các rủi ro pháp trị, xây dựng điều lệ và hợp đồng liên doanh an toàn, đúng quy định pháp luật Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
1. Cơ sở lý luận nền tảng mà tác giả sử dụng để tiếp cận loại hình doanh nghiệp liên doanh là gì?
Tác giả dựa trên quan điểm của V.I. Lênin về vai trò của chủ nghĩa tư bản nhà nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ("bắc những chiếc cầu nhỏ vững chắc đi xuyên qua chủ nghĩa tư bản Nhà nước") và tư tưởng Hồ Chí Minh về mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, không áp chế, ràng buộc.
2. Tại sao luận án khẳng định khái niệm "pháp nhân" không thể bao hàm đầy đủ "địa vị pháp lý" của doanh nghiệp liên doanh?
Vì khái niệm pháp nhân theo luật dân sự chỉ chứa đựng 4 yếu tố cấu thành để xác định tư cách chủ thể độc lập, không phản ánh được tính đa dạng, đặc thù riêng biệt giữa các loại hình doanh nghiệp (cùng là pháp nhân nhưng doanh nghiệp liên doanh có yếu tố nước ngoài, có quy chế quản lý khác biệt so với công ty TNHH thuần túy trong nước), đồng thời bỏ qua tính năng động của doanh nghiệp trong việc thực hiện các quyền mà pháp luật không cấm.
3. Đặc trưng pháp lý riêng biệt nhất của doanh nghiệp liên doanh so với các loại hình doanh nghiệp thuần túy trong nước theo Luật ĐTNN là gì?
Bên cạnh cơ cấu vốn có yếu tố nước ngoài và mô hình công ty TNHH, đặc trưng pháp lý riêng biệt là các bên tham gia liên doanh được quyền thỏa thuận lựa chọn cơ quan trọng tài nước ngoài hoặc trọng tài quốc tế để giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa các bên (quy định tại Điều 24 Luật ĐTNN 2000 và Điều 122 Nghị định 24/2000/NĐ-CP).
4. Dữ liệu trong luận án phản ánh sự mất cân đối như thế nào về phân bổ dòng vốn ĐTNN tại Việt Nam?
Tính đến tháng 2/2002, khoảng 70% tổng lượng vốn ĐTNN tập trung chủ yếu vào 3 khu vực kinh tế trọng điểm (TP.HCM – Đồng Nai – Vũng Tàu; Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh; Quảng Nam – Đà Nẵng – Quảng Ngãi), trong khi các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa, miền Trung, Khu 4 và Khu 5 chỉ thu hút được khoảng 10% tổng vốn ĐTNN dù chiếm gần 50% dân số cả nước.
5. Luận án đề xuất giải pháp đột phá nào về mô hình tổ chức cho doanh nghiệp liên doanh trong tương lai?
Luận án đề xuất cần sớm nghiên cứu, tiếp thu bài học kinh nghiệm từ các quốc gia trong khu vực (như Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia) để ban hành khung pháp lý cho phép thành lập và chuyển đổi doanh nghiệp liên doanh sang hình thức công ty cổ phần có vốn ĐTNN nhằm huy động vốn linh hoạt trên thị trường tài chính.
Kết luận
Luận án của tác giả Nguyễn Thanh Phú là công trình khoa học chuyên sâu, đặt nền móng lý luận và tổng kết thực tiễn về địa vị pháp lý của doanh nghiệp liên doanh theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Bằng việc kết hợp nhuần nhuyễn phương pháp luận duy vật biện chứng, so sánh luật học và phân tích thực chứng, luận án đã làm sáng tỏ bản chất công ty TNHH đối vốn có yếu tố nước ngoài của doanh nghiệp liên doanh, đồng thời phân tích thấu đáo các yếu tố khách quan và chủ quan chi phối địa vị pháp lý này. Các định hướng và giải pháp do luận án đề xuất đã đóng góp luận cứ khoa học quan trọng cho tiến trình hoàn thiện khung pháp luật đầu tư thống nhất, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước trong giai đoạn mới.